Lúa

HẠN CHẾ NGỘ ĐỘC HỮU CƠ CHO LÚA MÙA

Nhóm thông tin: 
Ngộ độc hữu cơ là hiện tượng cây lúa bị còi cọc, lá biến vàng, thân nhỏ yếu ớt, nhổ lên thấy rễ bị đen, vàng, ít rễ trắng thậm chí có mùi thối, lúa sinh trưởng phát triển kém nếu không được khắc phục ngay lúa sẽ lùn lụi, năng suất thấp thậm chí bị chết.
Hiện tượng này thường xảy ra vào vụ mùa, vì khoảng thời gian làm đất đến gieo cấy ngắn, đất làm sổi, rơm rạ chưa kịp thối ngấu. Sau khi gieo cấy lúa mùa, lượng rơm rạ trong đất tiếp tục phân hủy trong điều kiện yếm khí sẽ sản sinh ra các khí H2S, CH4... Để hạn chế ảnh hưởng của hiện tượng nghẹt rễ, ngộ độc hữu cơ và nâng cao năng suất cho lúa mùa mùa, cần lưu ý một số vấn đề sau:
 
1. Làm đất
 
- Là biện pháp kỹ thuật quan trọng quyết định đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa. Vì vậy sau khi thu hoạch xong cần khẩn trương làm đất ngay đảm bảo đủ thời gian để rơm rạ thối ngấu và kịp khung thời vụ gieo cấy.
 
- Trong thực tế, các hộ dân chủ yếu gặt ngang lưng cây lúa, lượng rơm rạ để lại trên đồng ruộng rất lớn, dễ dẫn đến hiện tượng lúa bị ngộ độc hữu cơ. Vì vậy, khi thu hoạch lúa xong nên sử dụng các chế phẩm để xử lý rơm rạ như Trichoderma, Emunic… Hoặc rắc phân vi sinh Azotobacterin với lượng 7 - 10 kg/sào + 10 - 15 kg vôi bột sau đó cày vùi rơm rạ, đưa nước vào ngâm dầm ít nhất 5 - 7 ngày rồi tiến hành bừa cấy.
 
Lưu ý: Những chân ruộng trũng phèn cần bón lượng vôi bột từ 20 - 25 kg/sào để hạn chế hiện tượng ngộ độc sắt cho lúa.
 
2. Tưới nước
 
Áp dụng biện pháp tưới khô ướt xen kẽ tự nhiên: Sau khi cấy xong cần giữ nguyên mực nước giúp cho mạ hồi nhanh, sau đó điều tiết nước ở trạng thái chỉ có ở dấu chân trên mặt ruộng 5 – 7 ngày, lại tiếp tục lấy nước vào ruộng ở mức 3-5 cm. Biện pháp này giúp cung cấp ô xy cho đất, hỗ trợ bộ rễ phát triển tốt, nên cần lặp lại nhiều lần. Kỹ thuật rút nước này tạo điều kiện cho cây lúa đẻ nhánh tốt, đồng thời giúp bộ rễ phát triển mạnh, đâm sâu vào đất, tăng cường khả năng hút chất dinh dưỡng, giúp cho cây lúa ít bị đổ.
 
- Khi số dảnh/khóm đạt 8 - 9 dảnh, tiến hành tháo cạn nước để hạn chế lúa đẻ nhánh vô hiệu (thời gian phơi ruộng 7 ngày). Khi lúa có đòng cứt gián thì tháo nước trở lại, không để lúa bị hạn ở giai đoạn này. Đến khi lúa chín đỏ đuôi thì tháo cạn nước để thuận lợi cho việc thu hoạch.
 
3. Bón phân
 
- Đối với 1 giống lúa thì thời gian sinh trưởng vụ mùa ngắn hơn so với vụ xuân. Nếu bón phân muộn, cây lúa không chỉ dễ bị sâu bệnh hại mà còn có thể xảy ra hiện tượng vừa đẻ nhánh, vừa làm đòng, năng suất thấp. Vì vậy, cần áp dụng phương châm  là bón lót sâu, thúc sớm, tập trung và bón phân cân đối và đầy đủ từ đó giúp lúa cứng cây, khỏe mạnh ngay từ đầu vụ.
 
- Lượng phân bón cho 1 sào:
 
+ Đối với phân đơn:
 
Phân chuồng 400 - 500 kg; Vôi bột 15 kg; Supe lân 15 - 20 kg; Đạm urê 7 - 8 kg; Kali 6 - 8 kg.  
 
+ Đối với phân tổng hợp:
 
NPK-S (5:10:3-8 dùng bón lót): 15 – 20 kg.
 
NPK-S (12:5:10-14 dùng bón thúc): 15 – 17 kg.
 
- Cách bón:
 
+ Bón lót: 100% phân chuồng + 100% vôi bột + 100% supe lân hoặc 100% phân NPK-S (5:10:3-8).
 
+ Bón thúc:
 
* Nếu sử dụng phân đơn:
 
Bón lần 1: Khi cây lúa bén rễ, hồi xanh (7 – 10 ngày sau cấy) bón 4 – 5 kg đạm + 3 – 4kg kali/sào
 
Bón lần 2: Khi cây lúa đứng cái, phân hóa đòng (trước trỗ 25 – 30 ngày) bón 2 – 3kg đạm + 4 – 5kg kali/sào.
 
* Nếu sử dụng phân tổng hợp NPK:
 
Bón thúc lần 1 sau cấy 7 – 10 ngày với lượng phân từ 8 – 9kg/ sào.
 
Bón thúc lần 2: Khi cây lúa đứng cái, phân hóa đòng (trước trỗ 25 – 30 ngày) với lượng phân từ 7 – 8kg/ sào
 
4. Phòng trừ sâu bệnh hại
 
- Ở vụ mùa, cây lúa thường bị một số sâu bệnh hại chính như: sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy, ốc bươu vàng; bệnh bạc lá, khô vằn, nghẹt rễ… Trong quá trình chăm sóc lúa cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm sâu bệnh để phòng trừ kịp thời theo hướng dẫn của ngành bảo vệ thực vật.
 
Nguồn khuyennongvn.gov.vn
 

XÂY DỰNG 14 MÔ HÌNH CANH TÁC LÚA THEO PHƯƠNG PHÁP “3 GIẢM, 3 TĂNG”

Nhóm thông tin: 
 Vụ mùa năm nay, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang) xây dựng 14 mô hình canh tác lúa theo phương pháp “3 giảm, 3 tăng” tại 10 huyện, TP.
Quy mô 1-1,5 nghìn m2/mô hình. Theo đó, nông dân được hướng dẫn biện pháp kỹ thuật thông qua tập huấn và hội thảo đầu bờ. Thực tế cho thấy, phương pháp này có ưu điểm là giảm lượng giống, công cấy, thuốc bảo vệ thực vật so với cách làm thông thường; đồng thời tăng năng suất lúa, chất lượng gạo, hiệu quả kinh tế. Đặc biệt phương pháp này góp phần bảo vệ sức khỏe nông dân, tạo ra sản phẩm bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. 
 
Nhờ những ưu điểm trên, vụ xuân vừa qua, toàn tỉnh có hơn 20 nghìn ha lúa áp dụng theo phương pháp “3 giảm, 3 tăng”.
 
PV (Theo báo BGĐT)

NĂNG SUẤT LÚA TBR27 ĐẠT HƠN 60 TẠ/HA

Nhóm thông tin: 
(BGĐT) - Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư tỉnh Bắc Giang vừa đánh giá kết quả thử nghiệm sản xuất giống lúa thuần chất lượng TBR27 ở vụ xuân tại xã Tân Thanh (Lạng Giang) với diện tích 1 ha.
Đây là giống lúa do Công ty cổ phần Giống cây trồng Thái Bình chọn tạo có ưu điểm cứng cây, chống đổ, kháng sâu bệnh tốt. Năng suất bình quân đạt hơn 60 tạ/ha, gạo dẻo, cơm ngon. 
 
Từ kết quả vụ này, vụ mùa tới, Trung tâm xây dựng mô hình khảo nghiệm trước khi đưa vào sản xuất đại trà. Người dân tham gia sản xuất được hỗ trợ toàn bộ giá giống, một phần phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và hướng dẫn quy trình chăm sóc.
 
                                                                       Trịnh Lan (Báo BG)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN CHÚ Ý TRONG SẢN XUẤT VỤ MÙA 2016

Nhóm thông tin: 
Vụ mùa ở miền Bắc thường bắt đầu từ cuối tháng 5 và kết thúc vào trung tuần tháng 11. Vụ mùa năm nay do ảnh hưởng của thời tiết, lúa đông xuân kéo dài thời gian sinh trưởng khoảng trên 10 ngày, trong đó có một bộ phận diện tích thu hoạch vào cuối tháng 6, đầu tháng 7 nên việc gieo cấy lúa mùa sẽ kết thúc muộn hơn so với TBNN và ảnh hưởng tới kế hoạch SX vụ hè thu, vụ đông.
 
 
 
Vụ mùa có thuận lợi là nền nhiệt độ cao, số giờ nắng nhiều, lúa sinh trưởng phát triển nhanh. Vụ mùa cũng là mùa mưa bão, úng nhưng đôi khi cũng có vụ nắng hạn. Vụ mùa sâu bệnh phát sinh gây hại nhiều làm giảm năng suất và sản lượng lúa. Qua công tác lâu năm ở cơ sở và tổng kết kinh nghiệm SX của nông dân, xin trao đổi một số vấn đề SX vụ mùa:
 
 
 
1. Về thời vụ
 
 
 
Việc bố trí thời vụ gieo cấy lúa mùa hết sức quan trọng. Trước hết, căn cứ vào tình hình SX rau màu vụ xuân, xuân hè, thu hoạch lúa đông xuân, từ đó bố trí thời vụ cho SX cây hè, hè thu, lúa mùa và sản xuất vụ đông.
 
 
 
Mặt khác, việc bố trí thời vụ cần quan tâm đến giống lúa và phương thức gieo cấy, quy luật phát sinh gây hại của sâu bệnh, nhất là sâu đục thân bướm hai chấm lứa 5, rầy nâu, bệnh lem lép hạt, đạo ôn cổ bông mùa muộn. Căn cứ vào đặc điểm thời tiết chung của vùng và đặc điểm khí hậu tiểu vùng ví dụ như: giai đoạn cuối tháng 8 đầu tháng 9, vùng đồng bằng sông Hồng thường hay mưa nhiều, nếu lúa trỗ bông giai đoạn này tỷ lệ lép cao và bệnh lem lép hạt hại nhiều, năng suất giảm, chất lượng gạo kém.
 
 
 
vậy, căn cứ vào các yếu tố trên để bố trí thời vụ cho lúa trỗ bông vào giai đoạn thuận lợi và né tránh lứa sâu, bệnh hại hoặc có biện pháp phòng chống bệnh để bảo đảm năng suất lúa mùa.
 
 
 
Việc bố trí thời vụ vụ mùa cần quan tâm đến giới hạn cuối của lịch gieo cấy. Việc gieo cấy lúa mùa sớm, cường độ bức xạ mặt trời cao, lúa sinh trưởng phát triển nhanh, rút ngắn thời gian sinh trưởng và cho năng suất cao. Lúa mùa thu hoạch sớm vào tuần 1 và 2 ít ảnh hưởng của mưa, sâu bệnh hại.
 
 
 
2. Về giống lúa
 
 
 
Lựa chọn cơ cấu giống lúa phù hợp với điều kiện SX của địa phương, bố trí SX vụ đông sớm, đồng thời đảm bảo hiệu quả của SX lúa, các giống lúa đáp ứng nhu cầu lương thực cho con người, chăn nuôi, chế biến, dễ tiêu thụ, gạo có chất lượng, có giá bán cao.
 
 
 
Mặt khác, cần quan tâm đưa các giống lúa ngắn ngày, có tiềm năng năng suất khá, có tính chống chịu cao, nhất là tính kháng bệnh bạc lá, nhiễm nhẹ khô vằn, chịu nóng khá… Cần nắm vững đặc điểm của giống.
 
 
 
Đối với một số giống, từ khi gieo cấy đến bước vào làm đòng, thân, lá mềm; từ làm đòng đến thu hoạch cây cứng lên, như một số giống dòng Japonica: DS1, PC26… từ đặc điểm đó nông dân cần bón lót, bón thúc đẻ nhánh đủ lượng.
 
 
 
Đối với giống lúa có hiệu ứng hàng biên cao (lúa ở rìa bờ bông to hơn nhiều so với phía trong ruộng), cần bón phân đón đòng kịp thời và đủ lượng, cân đối đạm, kali. Nếu bón đón đòng muộn, lượng phân thiếu, số hạt/bông ít.
 
 
 
Đối với chân đất cao, trồng màu, trồng cây vụ đông sử dụng các giống lúa cực ngắn ngày hoặc ngắn ngày. Riêng giống ngắn ngày, nếu cần tranh thủ thời vụ áp dụng phương thức gieo cấy mạ dược, tăng lượng phân bón lót và bón thúc đẻ nhánh hơn các chân ruộng khác.
 
 
 
Đối với trà mùa muộn cần giảm tối đa diện tích gieo cấy, nên sử dụng các giống lúa nếp đặc sản, giống cho giá trị hàng hóa cao. Giai đoạn cuối vụ bảo đảm đủ nước và phòng trừ tốt sâu bệnh.
 
 
 
3. Về phương thức gieo cấy
 
 
 
Đối với các giống lúa có thời gian sinh trưởng cực ngắn từ 80 - 95 ngày chỉ nên áp dụng phương thức gieo thẳng hoặc cấy mạ nền. Nếu cấy mạ nền, tuổi mạ 7 - 8 ngày do từ gieo đến bước vào làm đòng khoảng 20 - 35 ngày, nếu cây lúa không phát triển nhanh thân, lá thì ít bông và bông ngắn.
 
 
 
Vì vậy áp dụng phương thức gieo cấy trên lúa sinh trưởng phát triển nhanh, đẻ nhánh sớm, bảo đảm số bông hữu hiệu và số lượng hạt/bông, nếu thâm canh tốt giống cực ngắn ngày vẫn cho năng suất tương đương, thậm chí cao hơn so với các giống có thời gian sinh trưởng dài hơn.
 
 
 
Theo nhận định của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, thời tiết đầu vụ mùa năm nay khả năng mưa nhiều, đối với chân trũng cấy mạ dược cần thực hiện biện pháp thâm canh mạ, gieo mạ thưa, bón lót, bón thúc đủ phân chuồng, phân tổng hợp để cây mạ cao cây, đanh dảnh, khi cấy nhổ mạ không xén lá để đề phòng vừa cấy xong gặp mưa lớn, lúa chống úng tốt, ít phải dặm hoặc cấy lại.
 
 
 
Về gieo mạ nền, chú ý thường xuyên tưới ẩm cho mạ sinh trưởng phát triển, nền gieo có thể là bùn hoặc đất bột trộn phân chuồng, phân NPK. Độ dày nền khoảng 2cm. Thường xuyên kiểm tra mạ, nếu thấy mạ có biểu hiện thiếu dinh dưỡng hoặc kéo dài tuổi mạ cần tưới nước bùn loãng với phân super lân Lâm Thao hoặc NPK 5-10-3.
 
 
 
Tuổi mạ nền căn cứ theo thời gian sinh trưởng từng giống lúa, có thể từ 7 - 20 ngày. Thực tế giống Q5 và BC15 tuổi mạ nền 20 - 25 ngày mới cấy, sau cấy lúa vẫn sinh trưởng phát triển nhanh và cho năng suất cao.
 
 
 
4. Về bón phân với các giống lúa cực ngắn ngày
 
 
 
Do thời gian sinh trưởng ngắn nên việc bón phân để lúa phát triển thân, lá nhanh và đẻ nhánh sớm trước khi bước vào làm đòng. Bón phân cho lúa cực ngắn ngày vụ mùa chỉ nên chia làm 2 lần là bón lót và bón đón đòng, giảm công lao động trong việc bón phân nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu sinh trưởng, phát triển của cây lúa.
 
 
 
Cách bón: Bón lót 100% phân chuồng, hữu cơ vi sinh, vi sinh và phân lân, 85% urê, 50% kali, bón khi bừa đan trước khi cấy, phân bón được trộn đều vào các lớp đất trong ruộng. Trong đó có 2 kg urê rắc mặt ruộng ngay sau khi bừa đan.
 
 
 
Cấy khi ruộng đã lắng bùn hoặc để qua đêm. Bón đón đòng 15% urê và 50% kali, bón khi 10% dảnh chính có lá trên cùng thắt eo (có ngấn cách chóp lá 3 - 6cm).
 
 
 
                                                                           Nguồn NongNghiep.vn
 

GIỐNG LÚA MỚI PHÁT THẢI ÍT MÊTAN

Nhóm thông tin: 
Các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học khoa học nông nghiệp Thụy Điển phối hợp với các nhà khoa học Trung Quốc và Hoa Kỳ đã tạo ra được giống lúa mới giàu tinh bột, nhưng lại thải ít mêtan hướng tới hai mục tiêu vừa cung cấp nguồn lương thực dồi dào, vừa giảm nóng lên toàn cầu.
Canh tác lúa là họat động cung cấp lương thực cho hàng tỷ người, nhưng cũng là nguồn chính phát thải mêtan gây biến đổi khí hậu. Mêtan tồn tại trong khí quyển thời gian không dài bằng khí CO2, nhưng lại bẫy nhiều nhiệt bức xạ từ bề mặt Trái đất.
 
 
 
Mỗi năm, các cánh đồng lúa thải ra từ 25-100 triệu tấn mêtan. Vì vậy, việc mở rộng diện tích canh tác lúa sẽ đe dọa đến hành tinh.
 
 
 
Chuanxin Sun, trưởng nhóm nghiên cứu cho rằng cần nghiên cứu công nghệ bền vững để vừa tăng sản lượng lúa đồng thời lại giảm dòng khí thải mêtan từ các cánh đồng lúa.
 
 
 
Để giải quyết vấn đề này, nhóm nghiên cứu của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Thụy Điển đã cấy một gen của lúa mạch vào lúa thường để tạo ra giống lúa SUSIBA2.
 
 
 
Thử nghiệm trong vòng 3 năm ở Trung Quốc cho thấy hoạt động canh tác giống lúa SUSIBA2 đã làm giảm đáng kể phát thải mêtan và còn cho lượng tinh bột cao hơn.
 
 
 
Về lâu dài, vẫn cần có các số đo phát thải mêtan để tính toán toàn bộ tác động tiềm tàng của cây trồng đến nỗ lực giảm thải khí nhà kính. Các nhà khoa học cho rằng cần thực hiện nghiên cứu đánh giá khả năng giống lúa mới có cho phép canh tác bền vững cây trồng hay không để đáp ứng nhu cầu lương thực của dân số thế giới.
 
 
 

DẺO NGON GẠO THƠM YÊN DŨNG

Nhóm thông tin: 
Được trồng thử nghiệm từ năm 2006, gạo thơm trở thành nông sản đáng tự hào của người dân Yên Dũng. Năm 2009, Hội Sản xuất và tiêu thụ gạo thơm Yên Dũng được thành lập với 80 hội viên nhằm xây dựng thương hiệu, tìm đầu ra ổn định, góp phần nâng cao giá trị nông sản. 
Đến năm 2015, tổng diện tích trồng lúa thơm của huyện Yên Dũng  đạt gần 8 nghìn ha (bằng 52% diện tích trồng lúa). Nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng suất lúa thơm trung bình đạt 58,2 tạ/ha.
 
 
 
Năm 2011, gạo thơm Yên Dũng được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học - Công nghệ) cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa tập thể.
 
 
 
Hội Sản xuất và tiêu thụ gạo thơm Yên Dũng còn phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện lựa chọn mô hình, tổ chức sản xuất lúa thơm theo quy trình tiêu chuẩn VietGAP, quy hoạch vùng sản xuất lúa thơm tập trung với 329 hộ tại các thôn: Bắc Am (xã Tư Mại), Thống Nhất, Biền (xã Cảnh Thụy) tham gia, tổng diện tích gần 20 ha.
 
 
 
Trên thị trường, gạo thơm Yên Dũng được người tiêu dùng đánh giá cao vì cơm dẻo, thơm ngon, dễ chế biến, có thể sánh ngang với gạo tám thơm Hải Hậu (Nam Định) và một số loại gạo cao cấp được sản xuất tại Điện Biên, Thái Lan. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là công tác quảng bá thương hiệu, nâng cao giá trị sản phẩm còn hạn chế. Kênh tiêu thụ chủ yếu của mặt hàng này hiện mới chỉ dừng lại ở việc ký gửi, giới thiệu tại một số đại lý, cửa hàng trong và ngoài tỉnh. 
Chị Phan Thị Việt, đại lý bán gạo tại số 30, đường Vi Đức Lục (TP Bắc Giang) cho biết: "Gạo thơm Yên Dũng chủ yếu bán cho khách quen, bạn bè tại các khu chung cư và một số bếp ăn tập thể ở trường học, doanh nghiệp... với mức tiêu thụ khoảng 2 tấn/ngày. Hầu hết khách hàng đều khen gạo thơm ngon. Nhưng để khẳng định thương hiệu trên thị trường, các ngành, hội cần quảng bá sâu rộng, bài bản giúp gạo thơm Yên Dũng ngày càng được nhiều người biết đến, đồng thời chúng tôi cũng có thêm cơ hội mở rộng kinh doanh".
 
 
 
 
Ông Ngụy Thế Kiên, Phó Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện kiêm Phó Chủ tịch Hội Sản xuất và tiêu thụ gạo thơm Yên Dũng chia sẻ, Ban Chấp hành Hội nhiệm kỳ II vừa được kiện toàn, đang trong quá trình xây dựng điều lệ hoạt động, kế hoạch sản xuất gạo thơm. Thời gian tới chúng tôi sẽ phối hợp với Hội Nông dân huyện tìm hướng hỗ trợ hội viên quảng bá hương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm góp phần giúp gạo thơm Yên Dũng ngày càng vươn xa.
 
 
 

KHẢO NGHIỆM GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG BTO9

Nhóm thông tin: 
Vụ mùa năm nay, Trạm Khuyến nông huyện Yên Dũng (Bắc Giang) phối hợp với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và PTNT) khảo nghiệm giống lúa chất lượng BT09 với quy mô 5 ha tại xã Tư Mại và Thắng Cương.
Đây là những giống lúa có tiềm năng năng suất cao, ước đạt 60 tạ/ha; thời gian sinh trưởng ngắn, vụ xuân khoảng 115-120 ngày, vụ mùa 95-100 ngày, ít sâu bệnh, chất lượng gạo thơm ngon, chịu hạn, chịu rét tốt.
 
 
 
Tham gia sản xuất, nông dân được hỗ trợ giống, tập huấn kỹ thuật gieo cấy và chăm sóc.
 
 
 
Nguyễn Thảo

THÂM CANH NẾP CÁI HOA VÀNG

Nhóm thông tin: 
Nếp cái hoa vàng là giống bản địa chất lượng cao, được gieo cấy ở vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ, cho gạo trắng, xôi dẻo, thơm, ngon.
 
   
 
Hà Nội đã mở rộng 36.750 ha lúa hàng hóa chất lượng cao tại 14 huyện, với các vùng nếp cái hoa vàng Đông Anh, Sóc Sơn; vùng Bắc thơm 7 Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Mỹ Đức; vùng Hương thơm số 1 Phúc Thọ, Chương Mỹ. Riêng nếp cái hoa vàng, thành phố có trên 1.000 ha.
 
 
 
Để đảm bảo SX vụ mùa 2015 thắng lợi, Trung tâm Phát triển cây trồng Hà Nội đã khuyến cáo các HTXNN vận động xã viên thực hiện tốt nội dung hướng dẫn kỹ thuật sau:
 
 
 
Thâm canh nếp cái hoa vàng - 1
Nếp cái hoa vàng là giống bản địa chất lượng cao, được gieo cấy ở vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ.
 
 
 
Giống phản ứng với ánh sáng ngày ngắn nên chỉ gieo cấy trong vụ mùa. Chiều cao cây 150 - 180 cm; cứng cây, dạng cây gọn, đẻ nhánh khỏe. Hạt tròn, màu vàng nâu sẫm, khối lượng 1.000 hạt từ 30 - 32 gram.
 
 
 
Gạo trắng, xôi dẻo, thơm, ngon. Năng suất trung bình 45 - 50 tạ/ha, thâm canh cao có thể đạt 55 - 60 tạ/ha. Thích hợp chân đất vàn và vàn thấp.
 
 
 
Thời vụ: Gieo mạ từ 15 - 20/6; cấy xong trước 10/7 (tuổi mạ khi cấy 16 - 20 ngày).
 
 
 
Giai đoạn mạ
 
 
 
+ Hạt giống: Phơi lại trong nắng nhẹ từ 4 - 6 giờ.
 
 
 
+ Ngâm, ủ: Cho thóc vào ngâm đến khi hạt hút đủ nước, trong quá trình ngâm cứ 6 - 8 giờ thay nước một lần. Sau đó vớt rửa sạch nước chua và ủ bằng thúng, bao tải, định kỳ vảy nước và trộn đảo để nảy mầm đều và phát triển cân đối.
 
 
 
+ Phương pháp làm mạ ruộng: Chọn chân cao dễ thoát nước. Đất cày, bừa ngả sớm, bừa nhuyễn, bằng phẳng, sạch cỏ, lên luống rộng 1,4 - 1,6 m, cao 20 - 25 cm, rãnh rộng 20 - 30 cm, mặt luống hơi vồng (gồ sống trâu) để dễ thoát nước.
 
 
 
Bón lót: 150 - 200 kg phân chuồng hoai mục + 15 kg supe lân/sào Bắc bộ (360 m2). Lượng giống 30 - 36 kg thóc giống /360 m2 (khoảng 0,1 kg/1m2).
 
 
 
Giai đoạn lúa
 
 
 
+ Làm đất: Làm đất kỹ, nhặt sạch cỏ dại, bón đủ phân lót, san phẳng, để lắng bùn 1 - 2 ngày trước khi cấy.
 
 
 
+ Kỹ thuật cấy: Tuổi mạ khi cấy từ 3,5 - 5 lá. Mật độ cấy 15 - 20 khóm/m2, cấy 1 dảnh/khóm. Cấy theo băng, luống: Chiều rộng không vượt quá 2 m. Cấy nông tay. Mực nước trên ruộng từ 3 - 5 cm để mạ nhanh bén rễ hồi xanh.
 
 
 
Phân bón và phương pháp bón
 
 
 
+ Lượng phân thông thường: Phân chuồng hoai mục: 200 - 250 kg/sào (nếu không có phân chuồng có thể thay thế phân hữu cơ vi sinh theo tỷ lệ 1 kg phân hữu cơ vi sinh tương đương 3 kg phân chuồng hoai mục). Super lân hoặc phân lân lung chảy 15 - 20 kg/sào, Kaliclorua 3 - 4 kg/sào, urê 2 - 3 kg/sào.
 
 
 
+ Phương pháp bón: Phân chuồng bón 100% trước khi bừa cấy. Bón lót 100% phân lân + 40% lượng đạm urê. Bón thúc lần 1 (sau khi lúa bén rễ hồi xanh) 50% lượng phân đạm urê + 50% lượng kaliclorua.
 
 
 
Bón thúc lần 2 (lúa phân hóa đòng cứt gián): Bón nốt 10% lượng phân đạm + 50% phân Kaliclorua. Quan sát màu sắc cây lúa để quyết định lượng phân đạm bón hay không bón.
 
 
 
Điều tiết nước theo phương pháp xen kẽ
 
 
 
+ Giữ nước lần 1: Luôn giữ mực nước trên mặt ruộng 2 - 2,5 cm từ khi cấy đến sau bón phân thúc phân lần 1 từ 3 - 4 ngày.
 
 
 
+ Rút nước lần 1: Sau khi bón phân thúc lần 1 từ 3 - 4 ngày tiến hành tháo cạn hết nước trên ruộng, để ruộng cạn liên tục ở mức độ nẻ, đi vào ruộng chỉ hơi lún đất. Nếu ruộng khô thì tưới ẩm bằng cách cho nước vào các rãnh, không giữ nước trên mặt ruộng để cạn đến khi lúa bắt đầu phân hóa đòng.
 
 
 
+ Giữ nước lần 2: Khi lúa phân hóa đòng tiến hành tưới nước để bón phân thúc lần 2 và luôn giữ mực nước trên mặt ruộng 2 - 3 cm đến khi lúa chín sáp.
 
 
 
+ Rút nước lần 2: Từ khi lúa chín sáp (chắc xanh) đến thu hoạch.
 
 
 
Phòng trừ sâu bệnh
 
 
 
+ Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, xác định đối tượng sâu bệnh; mật độ sâu, tỷ lệ bệnh.
 
 
 
+ Sâu đục thân 2 chấm: Phun phòng trừ sâu đục thân 2 chấm lần 1 (xung quanh 25/9 để bảo vệ đồng lúa) và lần 2 (sau lần 1 khoảng 7 ngày để bảo vệ bông lúa), sử dụng một trong các loại thuốc sau: Virtako 40WG, Alocbale 40EC, Regent 800WG, Enasin 32WP… Nồng độ và liều lượng theo hướng dẫn ghi trên vỏ bao bì thuốc.
 
 
 
+ Rầy các loại: Kiểm tra đồng ruộng nếu mật độ rầy trên 1.500 con/m2 trở lên thì phun một trong các loại thuốc sau: Actara 25WG, Superista 25EC, Winter 625EC, Penalty Gold 50EC…
 
 
 
+ Bệnh khô vằn hại lúa: Kiểm tra đồng ruộng nếu tỉ lệ bệnh > 20% số dảnh giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng sử dụng một trong các loại thuốc đặc hiệu như Anvil 5EC, Fam-ertil 300EC, Tinix 250EC…
 
 
 
+ Chuột hại: Do giống chín muộn nên thường bị chuột hại nặng thời kỳ trước thu hoạch. Để phòng trừ kết hợp các biện pháp thủ công bằng bẫy bán nguyệt và đánh bả sinh học trong suốt thời gian sinh trưởng.
 
 
 
Thu hoạch, bảo quản
 
 
 
Tiến hành thu hoạch khi lúa chín hoàn toàn, thời tiết nắng ráo. Sau khi thu hoạch đem tuốt lấy hạt, phơi dày, phơi đồng, luống. Trong trường hợp thu hoạch về chưa phơi được ngay (gặp trời mưa) cần rải mỏng để thóc không bị ẩm mốc, nảy mầm. Thường phơi trong 2 - 3 nắng rồi đem bảo quản.
 
 
 
Thu Trang

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG KHUYẾN NÔNG VỀ QUẢN LÝ DINH DƯỠNG CHO CÂY LÚA

Nhóm thông tin: 

Ứng dụng Phần mềm Quản lý dinh dưỡng cho cây lúa trên điện thoại di động
 
 
 
Phần mềm Quản lý dinh dưỡng cho cây lúa do Viện lúa Quốc tế (IRRI) phát triển đã được chạy thử nghiệm và phát hành tại Philippines, Indonesia và Bangladesh... hiện nay đang được nghiên cứu để phát triển tại Việt Nam. Phần mềm được thiết kế cho cán bộ khuyến nông để thu thập thông tin từ nông dân và sau đó cung cấp cho họ bản hướng dẫn về bón phân cụ thể theo từng địa phương, giống lúa, năng suất và các điều kiện canh tác.
 
 
 
Tiến bộ mới trong công nghệ thông tin, truyền thông và điện thoại di động cung cấp cho nông dân sản xuất nhỏ nhiều thông tin và sản phẩm dịch vụ sản xuất nông nghiệp. Viện lúa Quốc tế (IRRI) đã sử dụng cơ hội này để phát triển các ứng dụng trên máy tính cá nhân và điện thoại di động. Phần mềm Quản lý dinh dưỡng cho cây lúa, chuyển từ hướng dẫn bón phân theo vùng chuyên biệt sang hướng dẫn bón phân theo nhu cầu của từng nông hộ. Phiên bản quốc gia về Phần mềm Quản lý dinh dưỡng cho cây lúa đã được chạy thử nghiệm và phát hành tại Philippines, Indonesia và Bangladesh... hiện nay đang được nghiên cứu để phát triển tại Việt Nam.
 
 
 
Thông qua việc sử dụng các tiến bộ mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mỗi ứng dụng Phần mềm Quản lý dinh dưỡng sẽ hoạt động bình thường trên máy tính và điện thoại thế hệ mới với hệ điều hành chính, bao gồm cả Android và iOS (Apple). Phần mềm Quản lý dinh dưỡng được thiết kế cho cán bộ khuyến nông trong hệ thống khuyến nông quốc gia và cho cả các tổ chức tư nhân sử dụng. Cán bộ khuyến nông sử dụng các ứng dụng này để thu thập thông tin từ nông dân và sau đó cung cấp cho nông dân bản hướng dẫn về bón phân cụ thể theo từng địa phương, giống lúa, năng suất và các điều kiện canh tác của họ.
Giao diện của Phần mềm Quản lý dinh dưỡng cho cây lúa chứa hệ thống câu hỏi được thiết kế để thu thập thông tin từ nông dân về điều kiện canh tác của thửa ruộng trên vùng đất nhất định và các nhu cầu của nông dân. Phần mềm sử dụng các câu trả lời của nông dân cùng với các dữ liệu quốc gia về giống, khí hậu, đất đai và phản ứng của cây trồng với các dưỡng chất để tính toán nhu cầu về đạm (N), lân (P) và kali (K) cho các vùng cụ thể và đưa ra khuyến cáo về thời gian bón phân, liều lượng bón phù hợp với giống, tập quán gieo trồng và tuổi mạ được nông dân lựa chọn.
 
 
 
Phần mềm Quản lý dinh dưỡng được chia thành ba phần: Một “giao diện” nhỏ được tải về máy tính hoặc điện thoại di động của cán bộ khuyến nông để phỏng vấn nông dân, một “mô hình” tính toán và đưa ra bản hướng dẫn bón phân cho nông dân và  một “bản khuyến cáo” hướng dẫn bón phân cung cấp cho nông dân bằng một bản in hoặc một tin nhắn. Cán bộ khuyến nông thực hiện cuộc phỏng vấn với nông dân khoảng 10 phút (không kết nối internet hoặc điện thoại). Sau phỏng vấn, các thông tin thu thập sẽ truyền qua internet về “mô hình”, nằm trên máy chủ của cơ sở dữ liệu. Bản hướng dẫn sử dụng phân bón sẽ được truyền trở lại ngay trên máy tính hoặc điện thoại thông minh của cán bộ khuyến nông. Bản hướng dẫn này cũng có thể truyền trực tiếp cho nông dân bằng tin nhắn SMS.
 
 
 
Sử dụng công nghệ thông tin, truyền thông để tính toán và hướng dẫn bón phân theo yêu cầu của từng nông hộ có thể nâng cao khả năng khuyến nông và thúc đẩy ứng dụng các công nghệ mới. Phần mềm Quản lý dinh dưỡng cho phép mỗi khuyến nông viên, nhân viên tư vấn hay nông dân sử dụng máy tính hoặc điện thoại di động thế hệ mới có kết nối internet trực tiếp truy cập và trả lời các câu hỏi của hệ thống để nhận được bản hướng dẫn sử dụng phân bón cụ thể theo từng địa phương, giống lúa và các điều kiện canh tác của họ.
 
 
 
Lê Quang
 

LẠM DỤNG THUỐC TRỪ CỎ: PHÁT SINH NHIỀU HỆ LỤY

Nhóm thông tin: 
Để giảm công lao động, hầu hết nông dân sử dụng thuốc trừ cỏ trong trồng trọt. Việc lạm dụng loại hoá chất này đang gây ra nhiều hệ luỵ, tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người.
 
Có cỏ là phun thuốc
 
 Gia đình ông Thân Văn Thương, thôn Thiết Nham, xã Minh Đức (Việt Yên) thường trồng một mẫu lạc mỗi vụ. Trước đây, để ngăn cỏ mọc, ông mất vài ngày nhổ, vạc mới hết. Thế nhưng, khoảng 5 năm qua, khi lên luống, lấp đất xong, ông phun ngay thuốc trừ cỏ. Công việc này một người làm trong một ngày đã hoàn tất. Trên ruộng lúa sau cấy vài ngày, ông Thương trộn thuốc lẫn với cát vãi xuống ruộng, không dùng nạo cỏ như trước. 
 
 Hiện nay, hàng nghìn hộ nông dân trên địa bàn tỉnh cũng làm theo cách trên. Không chỉ trong sản xuất, đi trên một số tuyến phố tại TP Bắc Giang nhiều người bắt gặp đơn vị quản lý dùng thuốc diệt cỏ trên vỉa hè mà đáng lẽ phát dọn thủ công. Để dòng chảy thông thoáng, một số công ty thủy nông phun thuốc trừ cỏ diệt bèo, cỏ dại bám ở bờ kênh, mương. 
 
 Tại khu vực miền núi, bà con sử dụng nhóm thuốc cỏ cháy để diệt cỏ trên nương, bãi. Bà Nguyễn Thị Luận, bản Làng Dưới, xã Xuân Lương (Yên Thế) cho biết: "Cỏ trên đồi, dưới rẫy mọc rất nhanh, hôm trước phát quang hôm sau đã mọc chồi non. Thế nên, từ khi biết đến loại thuốc trừ cỏ cháy, tôi chỉ bỏ ra vài chục nghìn đồng mua một liều phun, sau đó đốt mồi lửa là xong”. Tìm hiểu tại xã Vân Sơn (Sơn Động), nhiều hộ dân cũng dùng thuốc trừ cỏ trong canh tác, coi đây là biện pháp hữu hiệu, nhanh chóng để diệt cỏ. 
 
 Hiện cơ quan chuyên môn chưa có số liệu tính toán về lượng thuốc diệt cỏ sử dụng mỗi năm trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi đa số nông dân dùng thuốc trừ cỏ cho lúa, hoa màu. Tại những vùng chuyên canh rau ở xã Đông Lỗ (Hiệp Hoà), Chu Điện, Bảo Đài (Lục Nam), Thái Đào (Lạng Giang), thuốc trừ cỏ được dùng phổ biến, dùng nhiều lần trong một năm. 
 
 Theo đánh giá của Chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tỉnh, nông dân đang sử dụng thuốc diệt cỏ tràn lan, không quan tâm làm cỏ sục bùn cho lúa, nhổ cỏ trên ruộng rau màu. Thậm chí có người còn nghĩ càng tăng nồng độ thì hiệu quả càng cao nên phun không theo hướng dẫn trên bao bì. Thuốc trừ cỏ đã giúp nông dân đỡ vất vả, tiết kiệm công lao động. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều người có thời gian rảnh rỗi nhưng không làm cỏ bằng biện pháp thủ công, lạm dụng quá mức hoá chất, phun thuốc cả trên bờ, dưới ruộng. 
 
 Nhân rộng phương thức canh tác an toàn
 
 Việc sử dụng thuốc trừ cỏ tràn lan ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ cộng đồng, trước tiên là người trực tiếp sử dụng. Khi phun trên kênh mương, hoạt chất tan theo nước, chảy đến nơi khác và tích tụ trong động vật thuỷ sinh. Nếu con người ăn thịt của động vật này thì cơ thể bị nhiễm hoá chất. Hoạt chất trong thuốc trừ cỏ là loại cực độc song chỉ hấp thu qua cây trồng một tỷ lệ nhỏ, còn lại thấm vào đất, hòa vào nước. 
 
 Thuốc trừ cỏ còn tiêu diệt vi sinh vật có ích, gây mất cân bằng sinh thái. Đây là một trong những nguyên nhân khiến tình hình sâu bệnh trên cây trồng ngày càng diễn biến phức tạp và phát sinh nhiều đối tượng mới. Điển hình là bệnh vàng lá Bắc Giang gây hại trên lúa. Bệnh này do vi rút gây ra, có tốc độ lây lan rất nhanh và thường phát sinh trong vụ mùa, hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. 
 
 Thực tế cho thấy nhận thức được những tác hại của thuốc trừ cỏ, khắc phục khó khăn về nhân lực, một số chủ trang trại đã dùng, máy làm cỏ mi ni song số lượng còn ít. Ông Nguyễn Xuân Giang, Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư Phát triển Đồng Xanh, xã Lan Giới (Tân Yên) cho biết: "Đơn vị chúng tôi chuyên sản xuất, kinh doanh rau an toàn với diện tích gần 5 ha. Để sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng chúng tôi không dùng thuốc trừ cỏ. Nếu làm cỏ thủ công trên diện tích lớn thì tốn rất nhiều thời gian, công sức. Vì vậy, Công ty đã chi hơn 30 triệu đồng mua một máy băm cỏ có công suất làm việc bằng 8-9 người". 
 
 Nhằm hạn chế những tác động tiêu cực, Chi cục BVTV tỉnh khuyến cáo nông dân chú trọng thực hiện các biện pháp canh tác an toàn. Bà Đỗ Thị Luyến, Chi cục phó Chi cục BVTV cho biết: "Đối với lúa nên cấy thẳng hàng theo băng. Sau cấy 15 ngày bà con nên làm cỏ sục bùn thủ công. Cách làm này tăng kích thích ô xy trong đất, tạo môi trường thuận lợi vi sinh vật có ích phát triển, phòng bệnh nghẹt rễ lúa”. 
 
 Đối với cây màu nên mở rộng diện tích làm đất tối thiểu, tận dụng rơm rạ che phủ bề mặt luống, vừa giữ ẩm vừa hạn chế cỏ mọc. Đi đôi với biện pháp trên, về phía người dân khi sử dụng thuốc BVTV cần tuân thủ nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng nồng độ, đúng thời điểm và kỹ thuật) để nâng cao hiệu quả phòng trừ sâu bệnh; nêu cao vai trò của các tổ chức chính trị, đoàn thể cơ sở trong việc tuyên truyền, khuyến cáo người dân sử dụng thuốc BVTV an toàn. 
 
 Trong các lớp dạy nghề cho nông dân nên lồng ghép nội dung nói về tác hại của thuốc BVTV, từ đó người dân có trách nhiệm bảo vệ sức khoẻ của chính bản thân và môi trường; tuyệt đối không phun thuốc trừ cỏ để diệt bèo, cây cối trên mương máng.
 
 Hoạt chất trong thuốc trừ cỏ là loại cực độc song chỉ hấp thu qua cây trồng một tỷ lệ nhỏ, còn lại thấm vào đất, hòa vào nước. Thuốc trừ cỏ còn tiêu diệt vi sinh vật có ích, gây mất cân bằng sinh thái.
 
 Trịnh Lan