Lúa

Giống lúa BG6 năng suất đạt 70 tạ/ha

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(56, 56, 56); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Vụ M&ugrave;a năm nay, C&ocirc;ng ty Cổ phần Giống c&acirc;y trồng Bắc Giang triển khai m&ocirc; h&igrave;nh gieo cấy giống l&uacute;a thuần BG6, với quy m&ocirc; 3 ha, tại x&atilde; T&acirc;n Dĩnh, huyện Lạng Giang. M&ocirc; h&igrave;nh nhằm nghi&ecirc;n cứu để đưa ra quy tr&igrave;nh kỹ thuật gieo cấy giống l&uacute;a mới BG6.</span></p>

Vụ Mùa năm nay, Công ty Cổ phần Giống cây trồng Bắc Giang triển khai mô hình gieo cấy giống lúa thuần BG6, với quy mô 3 ha, tại xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang. Mô hình nhằm nghiên cứu để đưa ra quy trình kỹ thuật gieo cấy giống lúa mới BG6.


Đoàn đại biểu tham quan mô hình lúa BG6
 

Giống lúa BG6 là giống lúa thuần do Công ty Cổ phần Giống cây trồng Bắc Giang chọn tạo, được Bộ Nông nghiệp & PTNT cấp bằng bảo hộ và được đưa vào danh mục giống Quốc gia năm 2015. Đây là giống cảm ôn, gieo cấy được cả 2 vụ trong năm, dễ chăm sóc, năng suất cao, chịu thâm canh và  khả năng thích ứng rộng. Thời gian sinh trưởng: vụ Xuân 125-130 ngày; vụ Mùa 100-105 ngày. Chiều cao cây trung bình 105 - 110 cm, lá màu xanh, góc lá hẹp, cứng cây, chống đổ tốt...; ít rụng hạt, khối lượng 1.000 hạt từ 27 gram, năng suất đạt 70 tạ/ha. Hạt gạo lật màu trắng, chất lượng gạo và cơm ngon, dẻo.

Giống lúa thuần BG6 đã được rất nhiều các địa phương tiếp nhận thực hiện các mô hình trình diễn. Đồng thời, Công ty CP Giống cây trồng Bắc Giang cũng đã cung ứng giống đến bà con nông dân ở các địa phương từ các tỉnh Duyên hải miền trung, Đồng bằng Sông Hồng, các tỉnh miền núi phía Bắc.

Diện tích các giống lúa khảo nghiệm
 

Từ kết quả của mô hình, Công ty xây dựng quy trình kỹ thuật chăm sóc lúa thuần BG6 để nhân ra diện rộng. Đồng thời, tiếp tục khảo nghiệm, đánh giá các giống lúa để có cơ sở lựa chọn vào cơ cấu sản xuất, dần thay thế các giống lúa có năng suất thấp hiện nay.

Được biết, trong vụ Mùa này, Công ty đang làm khảo nghiệm 44 giống lúa, gồm 9 nhóm như sau: Nhóm Nếp chất lượng gồm 5 giống; nếp năng suất (2 giống); nhóm trung ngày (2 giống); cực ngắn ngày (2 giống); lúa tẻ năng suất cao (4 giống); tẻ thơm (7 giống); chất lượng cao ngắn ngày (7 giống); lúa lai năng suất cao (8 giống) và nhóm lúa lai chất lượng cao (7 giống). Bên cạnh đó, Công ty đang thực hiện nghiên cứu, khảo nghiệm 50 dòng lúa thuần mới có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với các vùng sản xuất và sinh thái của tỉnh Bắc Giang.

Theo http://khuyennongbacgiang.vn/

Kỹ thuật áp dụng xây dựng mô hình sản xuất giống lúa xác nhận CNC11 và QJ1

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong thực tế, sản xuất l&uacute;a giống l&agrave; một yếu tố rất quan trọng. Trong th&acirc;m canh, việc sử dụng giống tốt l&agrave; một biện ph&aacute;p rẻ tiền mang lại hiệu quả kinh tế cao. C&aacute;c nh&agrave; khoa học đ&atilde; khẳng định: hạt giống c&oacute;&nbsp; tốt l&agrave; yếu tố cơ bản để đạt năng suất cao. Hạt giống tốt phải thuần về mặt di truyền v&agrave; cần phải được ph&acirc;n loại kỹ lưỡng để loại bỏ tạp chất, cỏ dại, l&eacute;p lửng&hellip; đảm bảo đ&uacute;ng ti&ecirc;u chuẩn nh&agrave; nước.</span></p>

(Ảnh: minh hoạ)

Trong thực tế, sản xuất lúa giống là một yếu tố rất quan trọng. Trong thâm canh, việc sử dụng giống tốt là một biện pháp rẻ tiền mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các nhà khoa học đã khẳng định: hạt giống có  tốt là yếu tố cơ bản để đạt năng suất cao. Hạt giống tốt phải thuần về mặt di truyền và cần phải được phân loại kỹ lưỡng để loại bỏ tạp chất, cỏ dại, lép lửng… đảm bảo đúng tiêu chuẩn nhà nước.

Công nghệ nhân giống được chuyển giao, giúp cho người dân vùng thực hiện Dự án nắm rõ giống đạt tiêu chuẩn để lựa chọn và cách sản xuất giống, từ đó dẫn đến giống không bị thoái hóa làm ảnh hưởng đến. Doanh nghiệp có thể tự chủ trong việc cung ứng giống để sản xuất hàng hóa mà không phải phụ thuộc vào nơi khác cung ứng.

* Ruộng giống:

- Đất: Ruộng sản xuất lúa xác nhận được bố trí trên chân đất có tầng canh tác dầy, thuận tiện tưới tiêu, sạch cỏ dại và sâu bệnh, không còn sót lúa của vụ trước mọc lại, ít bị tác động bởi các điều kiện ngoại cảnh bất thuận.

- Cách ly:Ruộng giống được cách ly với các ruộng lúa xung quanh theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về  hạt giống lúa QCVN 01-54:2011/BNNPTNT)

 Cách ly không gian: ruộng lúa giống cách các ruộng trồng giống khác ít nhất là 3m.

Cách ly thời gian: ruộng lúa giống có thời gian trỗ lệch so với các giống khác 15 ngày.

- Tỉ lệ cây khác dạng và cỏ dại:cây khác dạng không vượt quá 0,05%, cỏ dại không quá 0,01%.

* Thời vụ:

- Vụ Xuân: gieo mạ 20/1 - 10/2 (trà Xuân muộn), cấy trong tháng 2.

            - Vụ Mùa: gieo mạ 25/6-5/7 (trà Mùa chính), cấy trong tháng 7

* Làm mạ:

- Ngâm ủ hạt giống:

+ Đối với lúa CNC11: Hạt giống nguyên chủng được đãi và ngâm trong nước sạch và ấm, ngâm trong vòng 25-36 giờ cho đến khi no nước, sau đó lấy ra rửa chua, để ráo nước, ủ ở nhiệt độ 28 - 35ºC trong 25- 36 giờ, đến khi hạt nảy mầm khoảng 0,5 cm thì đem gieo. Mật độ gieo mạ: 40 kg/ha.

+ Đối với lúa QJ1:Hạt giống nguyên chủng được đãi và thời gian ngâm 72 giờ hạt giống liền vụ (có xử lý thuốc kích thích nảy mầm, hoặc axit Nitoric HNO3 nồng độ 3/1.000); thời gian ngâm 60-70 giờ đối với hạt giống qua vụ; có thay nước 2 - 3 lần; không để ngâm trong nước quá chua. Sau đó đãi sạch, rửa chua để ráo nước, đem ủ bình thường như các giống lúa thuần khác. Khi mạ gai dứa (mầm và rễ mọc đều) đem gieo. Mật độ gieo mạ: 40 kg/ha.

 - Làm đất:Chọn đất màu mỡ, không bị nhiễm phèn hoặc nhiễm mặn, hệ thống tưới tiêu chủ động, đất được cày, xới kỹ, làm nhuyễn, sạch cỏ dại. Lên luống có chiều rộng 1,2-1,4 m, rãnh rộng 25–30 cm, mặt luống phẳng, không đọng nước.

* Ruộng cấy

(Ảnh: minh hoạ)

- Đất:đất bằng phẳng, chủ động nước, cày, xới kỹ.

- Cấy:Tiến hành cấy khi mạ được 2,5-3 lá, lúa cấy 1 -2 rảnh, khoảng cách 20x12 cm (30–35 khóm/m2), cấy theo luống, mỗi băng 2-3 m, khoảng cách giữa các luống là 30 cm. Mạ nhổ xong phải cấy trong ngày. Nếu cấy theo công nghệ  hiệu ứng hàng biên thì cấy: Hàng sông lớn 36cm, sông nhỏ 19cm, cây cách cây 22cm.   

- Bón phân

Phân bón: Tùy điều kiện thâm canh có thể bón (cho 1 sào = 360 m2)  phân chuồng (phân hữu cơ) 285-350 kg/sào (nếu không có phân chuồng thì dùng phân vi sinh lượng 15 -20 kg/sào) + Đạm Urê 7-8 kg/sào +  Supe lân 14-18 kg/sào + Kali 5-7 kg/sào. Nếu ruộng chua cần bón thêm 10-15 kg/sào vôi bột.

+ Đối với lúa CNC11:

Bón lót: Toàn bộ phân chuồng + 100% Lân + 50% Đạm Urê + 50% Kali.

Bón thúc lần 1: Khi mạ được 2,0 - 2,5 lá: 40% Đạm Urê + 50% Kali.

Bón tiễn chân: Trước khi cấy 3 - 4 ngày với số phân đạm còn lại.

+ Đối với lúa QJ1:                  

Bón lót: Toàn bộ phân chuồng + 100%Lân  + 40% Đạm Ure + 30% Kali.

Bón thúc (sau cấy 10 – 15 ngày, khi lúa mở lá): 50% Đạm Ure.

Bón đón đòng (khi lúa đứng cái): 10% đạm Ure + 70% Kali.

- Điều tiết nước: Giữ mực nước 1-2cm trước khi cấy. Sau cấy 3 ngày lấy nước cho vào từ từ khoảng 2-3 cm, khi lúa đã đẻ nhánh cho thêm nước vào nhưng không cao quá 10 cm. Khi lúa chín khoảng 70% thì rút cạn nước để lúa mau chín và ruộng khô dễ thu hoạch.

- Quản lý cỏ dại và phòng trừ sâu bệnh: Sau khi cấy 1 ngày ruộng lúa được rút cạn nước rồi phun thuốc trừ cỏ tiền nẩy mầm (hoặc kết hợp với giữ nước 2-3cm để hạn chế cỏ dại). Ruộng lúa thường xuyên được kiểm tra sâu bệnh định kỳ 3-5 ngày/lần để phát hiện sâu bệnh và kịp thời xử lý. Ruộng lúa được làm cỏ bằng tay giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng, trỗ và trước thu hoạch. Sử dụng một số thuốc BVTV như Shepatoc 250WP; Gasrice 15 EC, Lervil 50SC; chess 50WG; validacin 5L; Anvil 5SC; Nativo 750WG ... để phòng trừ sâu, bệnh hại.

            - Khử lẫn

            Trong quá trình sản xuất lúa giống lúa xác nhận , ruộng lúa được tiến hành khử lẫn 3 lần.

Lần 1: Sau khi cấy 10 -15 ngày nhổ bỏ những bụi lúa lẫn.

            Lần 2: Khử lẫn trong thời gian trỗ, cắt bỏ sát gốc những cây trổ sớm hoặc trễ hơn so với những ngày trổ tập trung của quần thể ruộng giống.

            Lần 3: Sau khi lúa đã xuôi bông, cắt bỏ những cây khác nhau về chiều cao cây, dạng lá đồng, dạng cổ bông, dạng bông, cách đống hạt trên bông, dạng hạt và màu sắc hạt.

            * Kiểm định đồng ruộng

Trong quá trình sản xuất lúa giống lúa  CNC11 nguyên chủng, ruộng lúa được tiến hành kiểm định 3 lần.

Lần 1: Sau khi cấy 10 -15 ngày, loại bỏ những cây khác dạng.

Lần 2: Lúa trỗ khoảng 50%,  loại bỏ những cây khác dạng.

Lần 3: Trước thu hoạch (lúa chín), loại bỏ những cây khác dạng.

* Thu hoạch và bảo quản.

            Lúa được thu hoạch bằng máy gặt liên hoàn; trước khi thu hoạch máy gặt được làm vệ sinh sạch và gặt riêng; bao bì và các dụng cụ thu hoạch khác được bảo đảm không để lẫn tạp giống sau thu hoạch.

            Lúa được tiến hành thu hoạch khi chín 85-90%. Tập trung cắt nhanh, phơi hoặc sấy luôn. Độ ẩm sau phơi (sấy) phải đạt 14%, làm sạch hạt, lấy mẫu kiểm nghiệm, đóng bao và bảo quản.

Theo:  Ứng dụng KHCN XD mô hình sx lúa, gạo chất lượng cao tại tỉnh Bắc Giang

BBT

Kỹ thuật cấy và chăm sóc cây lúa

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">-&nbsp;</span><strong style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;"><em>L&agrave;m đất</em></strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">: sau khi đ&atilde; đưa nước v&agrave;o ruộng ng&acirc;m 15-20 ng&agrave;y th&igrave; tiến h&agrave;nh bừa đất, đất bừa nhuyễn, phẳng, sau 02 ng&agrave;y th&igrave; th&aacute;o cạn nước như gieo xạ v&agrave; tiến h&agrave;nh b&oacute;n l&oacute;t, sau đ&oacute; cấy bằng m&aacute;y, cấy xong cho dặm tỉa ngay những chỗ mất khoảng v&agrave; g&oacute;c ruộng m&aacute;y cấy kh&ocirc;ng hết. Vừa dặm vừa đưa nước v&agrave;o ruộng ở mực nước ngập mặt ruộng nhưng kh&ocirc;ng ngập l&uacute;a. Sau đ&oacute; tiến h&agrave;nh phun thuốc trừ cỏ, trừ ốc.</span></p>

 

- Làm đất: sau khi đã đưa nước vào ruộng ngâm 15-20 ngày thì tiến hành bừa đất, đất bừa nhuyễn, phẳng, sau 02 ngày thì tháo cạn nước như gieo xạ và tiến hành bón lót, sau đó cấy bằng máy, cấy xong cho dặm tỉa ngay những chỗ mất khoảng và góc ruộng máy cấy không hết. Vừa dặm vừa đưa nước vào ruộng ở mực nước ngập mặt ruộng nhưng không ngập lúa. Sau đó tiến hành phun thuốc trừ cỏ, trừ ốc.

- Bón phân: Lượng phân bón cho 1ha: NPK 5.10.3: 550kg; NPK12.3.13: 500kg; Phân vi sinh hữu cơ: 850kg; Kalyclorua: 80kg

Cách bón: (tính cho 1 sào Bắc Bộ)

Bón lót: Bón khi làm đất lần cuối: : Bón lót toàn bộ phân vi sinh và 15kg NPK 5.10.3.

Bón thúc lần 1: khi lúa bén rễ hồi xanh: 5kg  NPK5.10.3 còn lại và 10kg NPK12.3.13

Bón thúc lần 2: bón đón đòng (khi cây lúa có 80% số dảnh có 02 lá trêncùng hoàn chỉnh thắt eo): 8kg NPK 12.3.13 và 3kg kaly.

- Tưới tiêu nước: theo nhu cầu từng giai đoạn phát triển của cây lúa:

Lần 1: sau khi cấy để tiến hành dặm tỉa và phun phòng trừ ốc bươu vàng gây hại và giữ nước trong ruộng thường xuyên ở mực nước 3-5cm, đảm bảo đủ nước giai đoạn cây lúa đẻ nhánh..

Lần 2: sau khi cây lúa kết thúc thời kỳ đẻ nhánh rút nước toàn bộ ruộng cấy để tránh cây lúa đẻ nhánh vô hiệu đồng thời tạo điều kiện cho bộ rễ ăn sâu vào đất tránh đổ ngã cuối vụ.

Lần ba: cách lần 2 từ 7-10 ngày, đưa nước vào ruộng cấy để bón đón đòng, sau đó điều tiết nước trong ruộng từ 2-3cm  để cây lúa làm đòng đồng thời hạn chế chuột phá hại. Khi lúa trỗ hoàn toàn chuyển giai đoạn chín sữa (bông lúa uốn câu) thì rút nước hoàn toàn.

BBT

Kỹ thuật làm đất và gieo mạ trên khay

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Muốn trồng l&uacute;a đạt năng suất v&agrave; chất lượng cao th&igrave; việc chọn giống tốt, c&acirc;y mạ khoẻ. B&agrave;i viết dưới đ&acirc;y ch&uacute;ng t&ocirc;i xin chia sẻ kỹ thuật l&agrave;m đất v&agrave; gieo mạ tr&ecirc;n khay để c&oacute; c&acirc;y mạ đạt ti&ecirc;u chuẩn.</span></p>

Muốn trồng lúa đạt năng suất và chất lượng cao thì việc chọn giống tốt, cây mạ khoẻ. Bài viết dưới đây chúng tôi xin chia sẻ kỹ thuật làm đất và gieo mạ trên khay để có cây mạ đạt tiêu chuẩn.

 

- Chuẩn bị đất: Dùng bùn ao, mương máng tập kết về sân, trộn đều phân bón hữu cơ vi sinh rồi ủ trước khi gieo mạ 02 ngày. Lượng phân hữu cơ sử dụng 25kg/lượng bùn đủ gieo cho cấy 1ha.

- Ngâm ủ:Tiến hành ngâm hạt giống bằng nước ấm 50-550C trong 24-36h, cứ 8h rửa chua thay nước 01 lần, sau đó vớt ra, rửa sạch, cho vào bao ủ ấm ở nhiệt độ 30-350C, khi hạt thóc nảy mầm (mầm dài bằng ½ hạt thóc) thì mang gieo.

- Gieo mạ: Cho bùn vào khay, cán phẳng, gieo hạt đều trên mặt khay, rắc tro bếp lên mặt, che phủ nilon giữ ấm cho mạ (vụ xuân), phủ lưới đen che nắng cho mạ (vụ mùa)

- Chăm sóc: Kiểm tra hàng ngày để thực hiện tưới ẩm, tránh rét. Khi cây mạ có 2 -3 lá thật ( vụ xuân 15 ngày, vụ mùa 10 ngày) mở nilon (vụ xuân), lưới đen (vụ mùa) để phun thuốc trừ sâu và phân bón qua lá trước khi mang đi cấy 2-5 ngày.

Trên đây, là kỹ thuật làm đất và gieo mã trên khay. Chúc bà con thành công./.

BBT

Chăm sóc lúa Mùa cuối vụ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p style="color: rgb(0, 0, 0); font-family: roboto; font-size: 14px; text-align: center;"> <span style="background-color: transparent; color: rgb(56, 56, 56); font-family: arial, helvetica, sans-serif; font-size: 12px; text-align: justify;">L&uacute;a vụ M&ugrave;a gieo cấy thường bị s&acirc;u bệnh hại nhiều, nhất l&agrave; giai đoạn cuối vụ. Để đảm bảo năng suất, chất lượng gạo n&ocirc;ng d&acirc;n cần thăm đồng thường xuy&ecirc;n để ph&aacute;t hiện s&acirc;u bệnh hại l&uacute;a v&agrave; ch&uacute; &yacute; một số biện ph&aacute;p kỹ thuật sau</span></p>

Lúa vụ Mùa gieo cấy thường bị sâu bệnh hại nhiều, nhất là giai đoạn cuối vụ. Để đảm bảo năng suất, chất lượng gạo nông dân cần thăm đồng thường xuyên để phát hiện sâu bệnh hại lúa và chú ý một số biện pháp kỹ thuật sau.

- Điều tiết nước hợp lý: Lúa từ phân hóa đòng đến trổ bông đòi hỏi phải có đầy đủ nước và các chất dinh dưỡng thiết yếu mới phát triển thuận lợi. Cần dưỡng ẩm cho lúa kể từ khi lúa có "cứt gián" đến khi trước trổ khoảng 10 ngày (mực nước thích hợp 3 - 4cm). Sau thời gian này cần tháo nước để lộ ruộng khoảng 2 - 3 ngày rồi tưới nước trở lại lúa sẽ vươn đốt nhanh và đồng loạt. Khi lúa đã trổ thoát khoảng 85% thì đưa nước trở lại ruộng rồi rút cạn hẳn khi lúa đỏ đuôi).

- Bón phân theo yêu cầu của lúa: Song song với việc điều tiết nước hợp lý nông dân cần bón phân để có bông lúa to, nhiều hạt, tỷ lệ lép thấp và hạt lúa mẩy đều. Giai đoạn này cây lúa cần kali, nên bón vào khoảng 18 - 20 ngày trước khi lúa trổ để giúp lúa có bông to, hạt mẩy.

Đối với lúa cao sản và lúa lai sau khi lúa trổ cần cung cấp tiếp một đợt kali cuối vụ bằng cách sử dụng kali dễ tiêu + vi lượng phun qua lá. 

- Phòng trừ sâu bệnh hiệu quả: Lúa Mùa giai đoạn đứng cái đến làm đòng thường có lứa sâu cuốn lá và đục thân gây hại. Giai đoạn lúa nứt áo đòng là thời điểm sâu đục thân, cuốn lá, rầy nâu thường hay phát sinh gây hại cùng lúc. Nông dân cần thăm đồng điều tra sâu hại và trừ hiệu quả, ưu tiên sử dụng các loại thuốc trừ sâu tổng hợp thay vì mua nhiều loại thuốc cộng gộp.

Thời điểm lúa sau trổ đến ngậm sữa lúa Mùa thường chịu ảnh hưởng lớn đối tượng rầy gây hại. Nếu mật độ đến ngưỡng phun trừ (30 con/khóm) cần sử dụng thuốc đặc trị và phun thuốc trừ rầy theo ổ để tiết kiệm thuốc.

Bệnh gây hại lúa Mùa chủ yếu là vi khuẩn và nấm khô vằn, lem lép hạt. Nấm đạo ôn gây hại nhiều lúa mùa muộn nhưng ít gây hại lúa mùa sớm và mùa trung. Thời tiết thường có nhiều bão và mưa nắng xen kẽ, lúa lại xanh tốt nên bệnh bạc lá và đốm sọc vi khuẩn cũng như bệnh khô vằn phát sinh gây hại mạnh, nhất là các giống lúa nhiễm (Bắc thơm số 7, Q5, nếp…) và lúa gieo cấy dày, do vậy người trồng lúa phải khống chế và phòng trừ hiệu quả. Nên ưu tiên sử dụng các loại thuốc kháng sinh có nhiều hoạt chất để khống chế vi khuẩn sau mưa bão. Bệnh khô vằn muốn diệt hiệu quả cần dùng thuốc đặc trị + kali trắng để phun.

Theo http://khuyennongbacgiang.vn/

Phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ lứa 6 hại lúa vụ Mùa

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Vụ M&ugrave;a năm nay, to&agrave;n tỉnh gieo cấy 51.000 ha l&uacute;a, trong đ&oacute; tr&agrave; l&uacute;a m&ugrave;a sớm chiếm 38% diện t&iacute;ch, tr&agrave; m&ugrave;a trung chiếm 55% diện t&iacute;ch v&agrave; tr&agrave; l&uacute;a m&ugrave;a muộn 7%. Hiện l&uacute;a m&ugrave;a sớm đang giai đoạn đ&ograve;ng, l&uacute;a m&ugrave;a ch&iacute;nh vụ giai đoạn đẻ nh&aacute;nh rộ - đứng c&aacute;i. Thời gian vừa qua, thời tiết c&oacute; nắng mưa xen kẽ l&agrave; điều kiện thuận lợi cho c&aacute;c đối tượng s&acirc;u bệnh g&acirc;y hại tr&ecirc;n l&uacute;a đặc biệt l&agrave; s&acirc;u cuốn l&aacute; nhỏ.</span></p>

ảnh minh họa

Vụ Mùa năm nay, toàn tỉnh gieo cấy 51.000 ha lúa, trong đó trà lúa mùa sớm chiếm 38% diện tích, trà mùa trung chiếm 55% diện tích và trà lúa mùa muộn 7%. Hiện lúa mùa sớm đang giai đoạn đòng, lúa mùa chính vụ giai đoạn đẻ nhánh rộ - đứng cái. Thời gian vừa qua, thời tiết có nắng mưa xen kẽ là điều kiện thuận lợi cho các đối tượng sâu bệnh gây hại trên lúa đặc biệt là sâu cuốn lá nhỏ.

Theo kết quả điều tra của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh, sâu cuốn cuốn lá nhỏ lứa 5 đang gây hại với mật độ trung bình từ 2-3 con/m2 , cao 8-10 con/m2 và cục bộ > 20 con/m2. Toàn tỉnh có 110 ha lúa nhiễm sau cuốn lá nhỏ tập trung tại các huyện Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hòa, Lạng Giang... Dự báo trong thời gian tới trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ lứa 6 ra rải rác từ 20/8, rộ từ 25/8 - 3/9 và kéo dài tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng huyện. Sâu non có khả năng gây hại trên lá đòng, lá quang năng từ đầu tháng 9 trở đi.

Để chủ động phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ lứa 6 và sâu bệnh gây hại trên lúa vụ Mùa, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật đề nghị Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp các huyện, thành phố tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến của sâu cuốn lá nhỏ lứa 6 để có biện pháp chỉ đạo phòng trừ hiệu quả. Bên cạnh đó, cần tiếp tục theo dõi diễn biến các đối tượng sâu bệnh khác như: sâu đục thân 2 chấm, tập đoàn rầy, bệnh đen lép hạt, bạc lá, đốm sọc vi khuẩn, khô vằn… để chủ động có biện pháp chỉ đạo phòng trừ sớm, hiệu quả.

Theo http://www.khuyennongbacgiang.com/

TTKN- Triển khai mô hình liên kết sản xuất lúa hữu cơ chất lượng cao

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Vụ m&ugrave;a năm nay, Trung t&acirc;m Khuyến n&ocirc;ng phối hợp với Trung t&acirc;m Dịch vụ Kỹ thuật N&ocirc;ng nghiệp huyện Việt Y&ecirc;n triển khai m&ocirc; h&igrave;nh li&ecirc;n kết sản xuất l&uacute;a hữu cơ chất lượng cao, tại x&atilde; Trung Sơn, với diện t&iacute;ch 28,9ha.</span></p>

Lúa QR15 sinh trưởng phát triển tốt, đang trong giai đoạn đẻ nhánh

Vụ mùa năm nay, Trung tâm Khuyến nông phối hợp với Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp huyện Việt Yên triển khai mô hình liên kết sản xuất lúa hữu cơ chất lượng cao, tại xã Trung Sơn, với diện tích 28,9ha.

Theo đó, các hộ nông dân tham gia mô hình được nhà nước hỗ trợ 70% giá giống, 50% vật tư (gồm thuốc BVTV và phân bón hữu cơ sinh học) và hướng dẫn quy trình kỹ thuật sản xuất lúa hữu cơ trong quá trình thực hiện. Hiện, lúa sinh trưởng phát triển tốt, đang trong giai đoạn đẻ nhánh.

QR15 là giống lúa chất lượng được lựa chọn sản xuất trong mô hình. Giống QR15  có đặc điểm cây cao trung bình từ 100-110cm, gọn khóm, phiến lá phẳng, đứng lá, bông dài. Thời gian sinh trưởng vụ xuân 120-125 ngày, vụ mùa 100-105 ngày. Giống có khả năng chịu rét tốt, chống chịu sâu bệnh khá tốt. Năng suất lúa trung bình đạt từ 70-75 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 85-90 tạ/ha.

Trong quá trình sản xuất lúa hữu cơ các hộ tham gia mô hình cần tuân thủ đúng quy trình sản xuất theo hướng hữu cơ, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học mà chỉ sử dụng phân hữu cơ, thuốc phòng trừ sâu bệnh có nguồn gốc sinh học nhằm đảm bảo sức khỏe người sản xuất, tạo ra sản phẩm sạch, chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm, góp phần nâng cao giá trị cây trồng, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái đồng ruộng, phù hợp với thích ứng biến đổi khí hậu và từng bước hướng đến phát triển một nền nông nghiệp bền vững.

Theo khuyennongbacgiang.com

Một số kinh nghiệm phòng trừ tuyến trùng hại rễ trên cây lúa

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Trong những năm gần đ&acirc;y, bệnh bướu rễ (do tuyến tr&ugrave;ng) g&acirc;y hại kh&aacute; phổ biến trong ruộng l&uacute;a, đặc biệt l&agrave; c&aacute;c v&ugrave;ng đất giữ nước k&eacute;m (đất pha c&aacute;t hoặc đất nhiễm ph&egrave;n). Hậu quả l&agrave; nhiều ruộng l&uacute;a năng suất giảm 20 - 30% do tuyến tr&ugrave;ng g&acirc;y ra, đặc biệt l&agrave; trong vụ h&egrave; thu.</span></p>

ảnh minh họa

Trong những năm gần đây, bệnh bướu rễ (do tuyến trùng) gây hại khá phổ biến trong ruộng lúa, đặc biệt là các vùng đất giữ nước kém (đất pha cát hoặc đất nhiễm phèn). Hậu quả là nhiều ruộng lúa năng suất giảm 20 - 30% do tuyến trùng gây ra, đặc biệt là trong vụ hè thu.

Để giúp cho bà con nông dân chủ động phòng trừ đối tượng bệnh hại trên, xin giới thiệu đến bà con nông dân một số kinh nghiệm phòng trừ bệnh tuyến trùng gây hại trên cây lúa:

1. Triệu chứng bệnh:

- Tuyến trùng đục lỗ chui vào sinh sống bên trong rễ ngay từ khi mới gieo sạ và hình thành bướu trên rễ rất sớm (từ 5 ngày sau sạ).

- Cây lúa khoảng 1 tháng tuổi thường bị tuyến trùng xâm hại nếu đất ruộng có nguồn bệnh sẵn có. Cây bị lùn, lá hơi vàng, tăng trưởng chậm. Nhổ cây lúa lên, thấy rễ vẫn trắng nhưng bị ngắn lại, bướu xuất hiện ở nhiều đoạn của rễ hoặc ở chóp  rễ. Nơi có ổ tuyến trùng bị phù to tạo bướu 1 - 2mm.

- Khi bị tuyến trùng ký sinh, cây lúa bị bệnh bướu rễ sẽ bị chết khi còn non (2-3 lá) và phát triển chậm khi cây lúa ở giai đoạn 4 lá trở đi. Dù bị ở giai đoạn sau, cây lúa ít bị chết nhưng tốn nhiều phân bón và cây lúa phát triển kém.

- Khi cây lúa bị bướu rễ, chất dinh dưỡng bị tắc nghẽn không vận chuyển nuôi thân lá được, do vậy sau thời gian bị nhiễm bệnh cây lúa sẽ có triệu chứng vàng lá, cháy khô từ chóp xuống, lúa phát triển kém, chồi nhiễm bệnh bị lùn, trổ sớm và có rất ít hạt, hạt bị lửng lép nhiều.

2. Đặc điểm phát sinh phát triển của tuyến trùng

- Tuyến trùng gây hại mạnh trong giai đoạn đầu của cây lúa, nhất là môi trường ruộng lúa thường xuyên bị khô hạn, chúng ngừng sinh trưởng trong môi trường ngập nước). Những ruộng đất bị chua do bón quá nhiều lân supe từ những vụ trước hoặc đất có thành phần cơ giới nhẹ (cát pha) thì mật độ tuyến trùng thường cao hơn chân ruộng khác. Các chân ruộng để ải và giữ được nước thường xuyên sau gieo cấy sẽ ít bị tuyến trùng xâm hại.  

- Tuyến trùng sau khi xâm nhiễm 4 ngày, các đại tế bào được thành hình. Vòng đời của tuyến trùng có thể từ 26-51 ngày.

- Khi tuyến trùng xâm nhập vào bộ rễ cây và làm tổ tạo thành bướu sẽ làm tắc nghẽn sự vận chuyển nước và dinh dưỡng của hệ thống rễ, làm cây biến vàng rồi chết dần khi còn nhỏ và chậm phát triển, còi cọc khi cây lớn.

3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh bướu rễ gây hại trên cây lúa:

- Ruộng thiếu nước thường xuyên.

- Đất pha cát hoặc đất nhiễm phèn, giữ nước kém, cây lúa dễ bị bệnh bướu rễ hơn.

- Bón thừa phân lân và phân đạm riêng rẽ hay kết hợp sẽ tăng sự sinh sản của tuyến trùng.

- Tuyến trùng thường gây hại mạnh giai đoạn lúa còn nhỏ (mạ và thời kỳ đẻ nhánh).

4. Biện pháp phòng trừ:

Để phòng trừ tuyến trùng hại rễ lúa, nông dân cần thường xuyên điều tra đồng ruộng, phát hiện sớm và phòng trừ kịp thời theo các biện pháp kỹ thuật như sau:

- Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ.

- Để nước ngập trong ruộng vài ngày trước khi làm đất chuẩn bị gieo sạ.

- Cố gắng giữ nước trong ruộng, không để khô hạn lâu, nhất là giai đoạn lúa còn nhỏ.

- Không được để cạn nước, cần cho nước vào ruộng khoảng 3-5cm và giữ liên tục 5-7 ngày.

- Bón vôi với lượng từ 20-25kg/sào (360m2) để giảm độ chua cho đất.

- Sử dụng một số chế phẩm cải tạo đất và tăng cường khả năng ra rễ mới cho lúa như Rhizomyx 2,5G (trộn với phân chuồng hoai mục nếu có) kết hợp phun các loại phân bón hữu cơ qua lá để giúp lúa nhanh hồi phục ra lá, ra rễ nhanh hơn. 

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Sử dụng phân bón mới trên lúa vụ Xuân- Thêm lựa chọn cho nông dân

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Vụ Xu&acirc;n năm nay, Trung t&acirc;m Khuyến n&ocirc;ng phối hợp với C&ocirc;ng ty TNHH sản xuất thương mại v&agrave; đầu tư An Hưng triển khai m&ocirc; h&igrave;nh tr&igrave;nh diễn sử dụng ph&acirc;n b&oacute;n mới tr&ecirc;n c&acirc;y l&uacute;a. M&ocirc; h&igrave;nh triển khai với diện t&iacute;ch 2 ha với 30 hộ d&acirc;n ở th&ocirc;n Quế Sơn, x&atilde; Th&aacute;i Sơn, huyện Hiệp H&ograve;a.</span></p>

Ảnh minh họa - Sử dụng phân bón NPK An Hưng trên cây lúa cho năng suất cao

 

Vụ Xuân năm nay, Trung tâm Khuyến nông phối hợp với Công ty TNHH sản xuất thương mại và đầu tư An Hưng triển khai mô hình trình diễn sử dụng phân bón mới trên cây lúa. Mô hình triển khai với diện tích 2 ha với 30 hộ dân ở thôn Quế Sơn, xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa.

Theo đó, giống lúa TBR225 được lựa chọn để thử nghiệm phân bón mới An Hưng, từ giai đoạn bón thúc đến khi thu hoạch. Đây là giống lúa thuần chất lượng có khả năng sinh trưởng tốt, chống chịu sâu bệnh khá, năng suất ổn định và được nông dân gieo cấy với diện tích lớn ở Bắc Giang. Mô hình sử dụng phân bón NPK An Hưng (15-3-10+10S+TE và 12-3-12+3S+TE) và sử dụng phân bón thông thường khác trên cây lúa TBR225 làm đối chứng.

Ông Nguyễn Văn Hiếu, thôn Quế Sơn cho biết, vụ Chiêm Xuân năm nay gia đình cấy gần 5 sào giống TBR 225 và sử dụng phân bón NPK An Hưng. Qua quá trình chăm sóc, ông nhận thấy cùng được gieo cấy với mật độ như nhau nhưng sử dụng phân bón NPK An Hưng với tỷ lệ đúng, đủ và cân đối nên giống TBR225 đạt số rảnh 14-15 rảnh/khóm, cao hơn đối chứng 3 rảnh/khóm, cây cao hơn đối chứng. Đặc biệt, sử dụng phân bón NPK An Hưng cây lúa có bộ rễ dài và khỏe hơn, bộ lá đứng, màu xanh bền, cây lúa sinh trưởng tốt, ít bị sâu bệnh hại.

Kết quả thực tế mô hình cho thấy các yếu tố cấu thành năng suất của cây lúa TBR225 đều vượt trội khi sử dụng phân bón NPK An Hưng như số bông hữu hiệu cao đạt, số lượng hạt chắc nhiều, trọng lượng 1000 hạt đạt 23gam, năng suất bình quân đạt khoảng 68 tạ/ha, đối chứng đạt 56 tạ/ha.

Được biết, đây là hai dòng phân bón mới lần đầu tiên được Trung tâm Khuyến nông phối hợp triển khai trên địa bàn tỉnh, có hàm lượng dinh dưỡng cao, phù hợp với từng loại cây trồng trên các vùng đất khác nhau, giúp đem lại hiệu quả cao về cả năng suất và chất lượng, giúp cây sinh trưởng tốt, khỏe, giảm sâu bệnh, cải tạo đất và bảo vệ môi trường. Từ đó, làm cơ sở để nông dân trong tỉnh tiếp cận, lựa chọn sử dụng phân bón An Hưng trong thời gian tới.

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Tân Yên: Giống lúa Việt Lai 20 thích ứng tốt, năng suất cao

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Nhằm tiếp tục gi&uacute;p người d&acirc;n tiếp cận với giống l&uacute;a lai c&oacute; năng suất v&agrave; chất lượng gạo tốt, ph&ugrave; hợp với điều kiện th&acirc;m canh của người d&acirc;n tại địa phương, vụ Chi&ecirc;m Xu&acirc;n năm nay,Trung t&acirc;m Dịch vụ Kỹ thuật N&ocirc;ng nghiệp huyện T&acirc;n Y&ecirc;n (DV KTNN) phối hợp với C&ocirc;ng ty Cổ phần Kỹ thuật n&ocirc;ng nghiệp cao Hải Ph&ograve;ng, x&acirc;y dựng m&ocirc; h&igrave;nh sản xuất thử nghiệm giống l&uacute;a lai Việt Lai 20, đem lại kết quả khả quan.</span></p>

Giống lúa Việt Lai 20 có thể gieo cấy trên đất nghèo dinh dưỡng, đất chua mặn và có khả năng thâm canh cao

Nhằm tiếp tục giúp người dân tiếp cận với giống lúa lai có năng suất và chất lượng gạo tốt, phù hợp với điều kiện thâm canh của người dân tại địa phương, vụ Chiêm Xuân năm nay,Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp huyện Tân Yên (DV KTNN) phối hợp với Công ty Cổ phần Kỹ thuật nông nghiệp cao Hải Phòng, xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm giống lúa lai Việt Lai 20, đem lại kết quả khả quan.

Giống lúa Việt Lai 20 là giống lúa lai hai dòng đầu tiên được các nhà khoa học Việt Nam chọn tạo thành công năm 1996 do PGS.TS  Nguyễn Văn Hoan và thạc sĩ Vũ Hồng Quảng lai tạo. Với nhiều ưu điểm nổi bật chống đổ tốt, gạo có hàm lượng protein cao, thích ứng rộng, phù hợp với nhiều chân đất khác nhau, có thể gieo cấy trên đất nghèo dinh dưỡng, đất chua mặn và có khả năng thâm canh cao.

Hộ dân tham gia mô hình được hỗ trợ 100% giống lúa và được cán bộ kỹ thuật của Trung tâm hướng dẫn quy trình kỹ thuật gieo cấy, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại trong suốt quá trình. Mô hình sử dụng giống Khang dân 18 làm giống đối chứng.

Mô hình lựa chọn triển khai tại 3 xã, ở xã Việt Ngọc với diện tích 01 ha, tại thôn Cầu Trại; xã Phúc Sơn 01 ha tại thôn Khánh Châu và xã Đại Hóa 01 ha, tại thôn Chúc. Tổng số hộ tham gia mô hình là 28 hộ.

Trực tiếp sản xuất, các hộ dân tham gia mô hình nhận xét, giống lúa Việt Lai 20 ở cả 3 điểm triển khai mô hình đều có thời gian sinh trưởng trung bình 125-126 ngày dài hơn giống đối chứng KD18 từ 2-3 ngày. Như vậy có thể đánh giá giống Việt Lai 20 thuộc nhóm giống có thời gian sinh trưởng trung bình. Mặt khác, giống Việt Lai 20 có thời gian trỗ bông tập trung, tỷ lệ trỗ thoát cổ bông đạt >97%.

Vụ Chiêm Xuân năm 2021, thời tiết duy trì nhiều ngày có tiết trời âm u, mưa nhiều đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng nấm phát sinh gây hại trên cây lúa như: bệnh khô vằn, đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, bạc lá, đốm sọc vi khuẩn... Tại các điểm triển khai mô hình giống lúa Việt Lai 20 bị nhiễm nhẹ đạo ôn cổ bông và nhiễm bệnh khô vằn, đặc biệt ở các ruộng cấy với mật độ dày, bón phân chưa cân đối. So với đối chứng, giống Việt Lai 20 cho thấy khả năng chống chịu sâu khá.

Ở thời điểm cuối vụ rất thuận lợi cho quá trình phân hóa đòng và trỗ bông nên tỷ lệ hạt chắc/bông tăng cao hơn so với các vụ trước ở cùng thời điểm, tỷ lệ hạt lép/bông của giống trung bình chỉ chiếm 12-14% tổng số hạt trên bông. Tổng số hạt trên bông của giống Việt Lai 20 trung bình đạt từ 140-153 hạt/bông, trong khi đó giống đối chứng là 189 hạt/bông. Song, giống lúa lai Việt Lai 20 có đặc điểm hạt thóc to, trọng lượng 1000 hạt của giống đạt 28gram, cao gấp 1,3 lần so với đối chứng nên năng suất trung bình của Việt Lai 20 đạt 62 tạ/ha cao hơn giống đối chứng 8,5- 9 tạ/ha. Hạch toán cho thấy, giống lúa Việt Lai 20 đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn giống KD 18 khoảng 4,7triệu đồng/ha.

Từ những thành công của mô hình, Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật nông nghiệp huyện Tân Yên đề nghị, UBND các xã, thị trấn chỉ đạo cán bộ chuyên môn phụ trách nông nghiệp xã tuyên truyền sâu rộng tới nhân dân trong xã đưa giống lúa Việt lai 20 vào cơ cấu bộ giống lúa có thể tổ chức sản xuất trên địa huyện. Đồng thời đề nghị Công ty Cổ phần Kỹ thuật nông nghiệp cao Hải Phòng tiếp tục phối hợp với Trung tâm DV KTNN xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm trong các vụ tiếp theo để có đánh giá khách quan hơn giống lúa Việt Lai 20, làm cơ sở để nhân rộng mô hình tại các địa phương khác trong địa bàn huyện, thay thế dần các giống lúa chất lượng thấp, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập cho người nông dân.

Theo http://khuyennongbacgiang.com/