Lúa

Kỹ thuật làm đất và gieo mạ trên khay

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Muốn trồng l&uacute;a đạt năng suất v&agrave; chất lượng cao th&igrave; việc chọn giống tốt, c&acirc;y mạ khoẻ. B&agrave;i viết dưới đ&acirc;y ch&uacute;ng t&ocirc;i xin chia sẻ kỹ thuật l&agrave;m đất v&agrave; gieo mạ tr&ecirc;n khay để c&oacute; c&acirc;y mạ đạt ti&ecirc;u chuẩn.</span></p>

Muốn trồng lúa đạt năng suất và chất lượng cao thì việc chọn giống tốt, cây mạ khoẻ. Bài viết dưới đây chúng tôi xin chia sẻ kỹ thuật làm đất và gieo mạ trên khay để có cây mạ đạt tiêu chuẩn.

 

- Chuẩn bị đất: Dùng bùn ao, mương máng tập kết về sân, trộn đều phân bón hữu cơ vi sinh rồi ủ trước khi gieo mạ 02 ngày. Lượng phân hữu cơ sử dụng 25kg/lượng bùn đủ gieo cho cấy 1ha.

- Ngâm ủ:Tiến hành ngâm hạt giống bằng nước ấm 50-550C trong 24-36h, cứ 8h rửa chua thay nước 01 lần, sau đó vớt ra, rửa sạch, cho vào bao ủ ấm ở nhiệt độ 30-350C, khi hạt thóc nảy mầm (mầm dài bằng ½ hạt thóc) thì mang gieo.

- Gieo mạ: Cho bùn vào khay, cán phẳng, gieo hạt đều trên mặt khay, rắc tro bếp lên mặt, che phủ nilon giữ ấm cho mạ (vụ xuân), phủ lưới đen che nắng cho mạ (vụ mùa)

- Chăm sóc: Kiểm tra hàng ngày để thực hiện tưới ẩm, tránh rét. Khi cây mạ có 2 -3 lá thật ( vụ xuân 15 ngày, vụ mùa 10 ngày) mở nilon (vụ xuân), lưới đen (vụ mùa) để phun thuốc trừ sâu và phân bón qua lá trước khi mang đi cấy 2-5 ngày.

Trên đây, là kỹ thuật làm đất và gieo mã trên khay. Chúc bà con thành công./.

BBT

Chăm sóc lúa Mùa cuối vụ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p style="color: rgb(0, 0, 0); font-family: roboto; font-size: 14px; text-align: center;"> <span style="background-color: transparent; color: rgb(56, 56, 56); font-family: arial, helvetica, sans-serif; font-size: 12px; text-align: justify;">L&uacute;a vụ M&ugrave;a gieo cấy thường bị s&acirc;u bệnh hại nhiều, nhất l&agrave; giai đoạn cuối vụ. Để đảm bảo năng suất, chất lượng gạo n&ocirc;ng d&acirc;n cần thăm đồng thường xuy&ecirc;n để ph&aacute;t hiện s&acirc;u bệnh hại l&uacute;a v&agrave; ch&uacute; &yacute; một số biện ph&aacute;p kỹ thuật sau</span></p>

Lúa vụ Mùa gieo cấy thường bị sâu bệnh hại nhiều, nhất là giai đoạn cuối vụ. Để đảm bảo năng suất, chất lượng gạo nông dân cần thăm đồng thường xuyên để phát hiện sâu bệnh hại lúa và chú ý một số biện pháp kỹ thuật sau.

- Điều tiết nước hợp lý: Lúa từ phân hóa đòng đến trổ bông đòi hỏi phải có đầy đủ nước và các chất dinh dưỡng thiết yếu mới phát triển thuận lợi. Cần dưỡng ẩm cho lúa kể từ khi lúa có "cứt gián" đến khi trước trổ khoảng 10 ngày (mực nước thích hợp 3 - 4cm). Sau thời gian này cần tháo nước để lộ ruộng khoảng 2 - 3 ngày rồi tưới nước trở lại lúa sẽ vươn đốt nhanh và đồng loạt. Khi lúa đã trổ thoát khoảng 85% thì đưa nước trở lại ruộng rồi rút cạn hẳn khi lúa đỏ đuôi).

- Bón phân theo yêu cầu của lúa: Song song với việc điều tiết nước hợp lý nông dân cần bón phân để có bông lúa to, nhiều hạt, tỷ lệ lép thấp và hạt lúa mẩy đều. Giai đoạn này cây lúa cần kali, nên bón vào khoảng 18 - 20 ngày trước khi lúa trổ để giúp lúa có bông to, hạt mẩy.

Đối với lúa cao sản và lúa lai sau khi lúa trổ cần cung cấp tiếp một đợt kali cuối vụ bằng cách sử dụng kali dễ tiêu + vi lượng phun qua lá. 

- Phòng trừ sâu bệnh hiệu quả: Lúa Mùa giai đoạn đứng cái đến làm đòng thường có lứa sâu cuốn lá và đục thân gây hại. Giai đoạn lúa nứt áo đòng là thời điểm sâu đục thân, cuốn lá, rầy nâu thường hay phát sinh gây hại cùng lúc. Nông dân cần thăm đồng điều tra sâu hại và trừ hiệu quả, ưu tiên sử dụng các loại thuốc trừ sâu tổng hợp thay vì mua nhiều loại thuốc cộng gộp.

Thời điểm lúa sau trổ đến ngậm sữa lúa Mùa thường chịu ảnh hưởng lớn đối tượng rầy gây hại. Nếu mật độ đến ngưỡng phun trừ (30 con/khóm) cần sử dụng thuốc đặc trị và phun thuốc trừ rầy theo ổ để tiết kiệm thuốc.

Bệnh gây hại lúa Mùa chủ yếu là vi khuẩn và nấm khô vằn, lem lép hạt. Nấm đạo ôn gây hại nhiều lúa mùa muộn nhưng ít gây hại lúa mùa sớm và mùa trung. Thời tiết thường có nhiều bão và mưa nắng xen kẽ, lúa lại xanh tốt nên bệnh bạc lá và đốm sọc vi khuẩn cũng như bệnh khô vằn phát sinh gây hại mạnh, nhất là các giống lúa nhiễm (Bắc thơm số 7, Q5, nếp…) và lúa gieo cấy dày, do vậy người trồng lúa phải khống chế và phòng trừ hiệu quả. Nên ưu tiên sử dụng các loại thuốc kháng sinh có nhiều hoạt chất để khống chế vi khuẩn sau mưa bão. Bệnh khô vằn muốn diệt hiệu quả cần dùng thuốc đặc trị + kali trắng để phun.

Theo http://khuyennongbacgiang.vn/

Phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ lứa 6 hại lúa vụ Mùa

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Vụ M&ugrave;a năm nay, to&agrave;n tỉnh gieo cấy 51.000 ha l&uacute;a, trong đ&oacute; tr&agrave; l&uacute;a m&ugrave;a sớm chiếm 38% diện t&iacute;ch, tr&agrave; m&ugrave;a trung chiếm 55% diện t&iacute;ch v&agrave; tr&agrave; l&uacute;a m&ugrave;a muộn 7%. Hiện l&uacute;a m&ugrave;a sớm đang giai đoạn đ&ograve;ng, l&uacute;a m&ugrave;a ch&iacute;nh vụ giai đoạn đẻ nh&aacute;nh rộ - đứng c&aacute;i. Thời gian vừa qua, thời tiết c&oacute; nắng mưa xen kẽ l&agrave; điều kiện thuận lợi cho c&aacute;c đối tượng s&acirc;u bệnh g&acirc;y hại tr&ecirc;n l&uacute;a đặc biệt l&agrave; s&acirc;u cuốn l&aacute; nhỏ.</span></p>

ảnh minh họa

Vụ Mùa năm nay, toàn tỉnh gieo cấy 51.000 ha lúa, trong đó trà lúa mùa sớm chiếm 38% diện tích, trà mùa trung chiếm 55% diện tích và trà lúa mùa muộn 7%. Hiện lúa mùa sớm đang giai đoạn đòng, lúa mùa chính vụ giai đoạn đẻ nhánh rộ - đứng cái. Thời gian vừa qua, thời tiết có nắng mưa xen kẽ là điều kiện thuận lợi cho các đối tượng sâu bệnh gây hại trên lúa đặc biệt là sâu cuốn lá nhỏ.

Theo kết quả điều tra của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh, sâu cuốn cuốn lá nhỏ lứa 5 đang gây hại với mật độ trung bình từ 2-3 con/m2 , cao 8-10 con/m2 và cục bộ > 20 con/m2. Toàn tỉnh có 110 ha lúa nhiễm sau cuốn lá nhỏ tập trung tại các huyện Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hòa, Lạng Giang... Dự báo trong thời gian tới trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ lứa 6 ra rải rác từ 20/8, rộ từ 25/8 - 3/9 và kéo dài tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng huyện. Sâu non có khả năng gây hại trên lá đòng, lá quang năng từ đầu tháng 9 trở đi.

Để chủ động phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ lứa 6 và sâu bệnh gây hại trên lúa vụ Mùa, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật đề nghị Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp các huyện, thành phố tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến của sâu cuốn lá nhỏ lứa 6 để có biện pháp chỉ đạo phòng trừ hiệu quả. Bên cạnh đó, cần tiếp tục theo dõi diễn biến các đối tượng sâu bệnh khác như: sâu đục thân 2 chấm, tập đoàn rầy, bệnh đen lép hạt, bạc lá, đốm sọc vi khuẩn, khô vằn… để chủ động có biện pháp chỉ đạo phòng trừ sớm, hiệu quả.

Theo http://www.khuyennongbacgiang.com/

TTKN- Triển khai mô hình liên kết sản xuất lúa hữu cơ chất lượng cao

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Vụ m&ugrave;a năm nay, Trung t&acirc;m Khuyến n&ocirc;ng phối hợp với Trung t&acirc;m Dịch vụ Kỹ thuật N&ocirc;ng nghiệp huyện Việt Y&ecirc;n triển khai m&ocirc; h&igrave;nh li&ecirc;n kết sản xuất l&uacute;a hữu cơ chất lượng cao, tại x&atilde; Trung Sơn, với diện t&iacute;ch 28,9ha.</span></p>

Lúa QR15 sinh trưởng phát triển tốt, đang trong giai đoạn đẻ nhánh

Vụ mùa năm nay, Trung tâm Khuyến nông phối hợp với Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp huyện Việt Yên triển khai mô hình liên kết sản xuất lúa hữu cơ chất lượng cao, tại xã Trung Sơn, với diện tích 28,9ha.

Theo đó, các hộ nông dân tham gia mô hình được nhà nước hỗ trợ 70% giá giống, 50% vật tư (gồm thuốc BVTV và phân bón hữu cơ sinh học) và hướng dẫn quy trình kỹ thuật sản xuất lúa hữu cơ trong quá trình thực hiện. Hiện, lúa sinh trưởng phát triển tốt, đang trong giai đoạn đẻ nhánh.

QR15 là giống lúa chất lượng được lựa chọn sản xuất trong mô hình. Giống QR15  có đặc điểm cây cao trung bình từ 100-110cm, gọn khóm, phiến lá phẳng, đứng lá, bông dài. Thời gian sinh trưởng vụ xuân 120-125 ngày, vụ mùa 100-105 ngày. Giống có khả năng chịu rét tốt, chống chịu sâu bệnh khá tốt. Năng suất lúa trung bình đạt từ 70-75 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 85-90 tạ/ha.

Trong quá trình sản xuất lúa hữu cơ các hộ tham gia mô hình cần tuân thủ đúng quy trình sản xuất theo hướng hữu cơ, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học mà chỉ sử dụng phân hữu cơ, thuốc phòng trừ sâu bệnh có nguồn gốc sinh học nhằm đảm bảo sức khỏe người sản xuất, tạo ra sản phẩm sạch, chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm, góp phần nâng cao giá trị cây trồng, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái đồng ruộng, phù hợp với thích ứng biến đổi khí hậu và từng bước hướng đến phát triển một nền nông nghiệp bền vững.

Theo khuyennongbacgiang.com

Một số kinh nghiệm phòng trừ tuyến trùng hại rễ trên cây lúa

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Trong những năm gần đ&acirc;y, bệnh bướu rễ (do tuyến tr&ugrave;ng) g&acirc;y hại kh&aacute; phổ biến trong ruộng l&uacute;a, đặc biệt l&agrave; c&aacute;c v&ugrave;ng đất giữ nước k&eacute;m (đất pha c&aacute;t hoặc đất nhiễm ph&egrave;n). Hậu quả l&agrave; nhiều ruộng l&uacute;a năng suất giảm 20 - 30% do tuyến tr&ugrave;ng g&acirc;y ra, đặc biệt l&agrave; trong vụ h&egrave; thu.</span></p>

ảnh minh họa

Trong những năm gần đây, bệnh bướu rễ (do tuyến trùng) gây hại khá phổ biến trong ruộng lúa, đặc biệt là các vùng đất giữ nước kém (đất pha cát hoặc đất nhiễm phèn). Hậu quả là nhiều ruộng lúa năng suất giảm 20 - 30% do tuyến trùng gây ra, đặc biệt là trong vụ hè thu.

Để giúp cho bà con nông dân chủ động phòng trừ đối tượng bệnh hại trên, xin giới thiệu đến bà con nông dân một số kinh nghiệm phòng trừ bệnh tuyến trùng gây hại trên cây lúa:

1. Triệu chứng bệnh:

- Tuyến trùng đục lỗ chui vào sinh sống bên trong rễ ngay từ khi mới gieo sạ và hình thành bướu trên rễ rất sớm (từ 5 ngày sau sạ).

- Cây lúa khoảng 1 tháng tuổi thường bị tuyến trùng xâm hại nếu đất ruộng có nguồn bệnh sẵn có. Cây bị lùn, lá hơi vàng, tăng trưởng chậm. Nhổ cây lúa lên, thấy rễ vẫn trắng nhưng bị ngắn lại, bướu xuất hiện ở nhiều đoạn của rễ hoặc ở chóp  rễ. Nơi có ổ tuyến trùng bị phù to tạo bướu 1 - 2mm.

- Khi bị tuyến trùng ký sinh, cây lúa bị bệnh bướu rễ sẽ bị chết khi còn non (2-3 lá) và phát triển chậm khi cây lúa ở giai đoạn 4 lá trở đi. Dù bị ở giai đoạn sau, cây lúa ít bị chết nhưng tốn nhiều phân bón và cây lúa phát triển kém.

- Khi cây lúa bị bướu rễ, chất dinh dưỡng bị tắc nghẽn không vận chuyển nuôi thân lá được, do vậy sau thời gian bị nhiễm bệnh cây lúa sẽ có triệu chứng vàng lá, cháy khô từ chóp xuống, lúa phát triển kém, chồi nhiễm bệnh bị lùn, trổ sớm và có rất ít hạt, hạt bị lửng lép nhiều.

2. Đặc điểm phát sinh phát triển của tuyến trùng

- Tuyến trùng gây hại mạnh trong giai đoạn đầu của cây lúa, nhất là môi trường ruộng lúa thường xuyên bị khô hạn, chúng ngừng sinh trưởng trong môi trường ngập nước). Những ruộng đất bị chua do bón quá nhiều lân supe từ những vụ trước hoặc đất có thành phần cơ giới nhẹ (cát pha) thì mật độ tuyến trùng thường cao hơn chân ruộng khác. Các chân ruộng để ải và giữ được nước thường xuyên sau gieo cấy sẽ ít bị tuyến trùng xâm hại.  

- Tuyến trùng sau khi xâm nhiễm 4 ngày, các đại tế bào được thành hình. Vòng đời của tuyến trùng có thể từ 26-51 ngày.

- Khi tuyến trùng xâm nhập vào bộ rễ cây và làm tổ tạo thành bướu sẽ làm tắc nghẽn sự vận chuyển nước và dinh dưỡng của hệ thống rễ, làm cây biến vàng rồi chết dần khi còn nhỏ và chậm phát triển, còi cọc khi cây lớn.

3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh bướu rễ gây hại trên cây lúa:

- Ruộng thiếu nước thường xuyên.

- Đất pha cát hoặc đất nhiễm phèn, giữ nước kém, cây lúa dễ bị bệnh bướu rễ hơn.

- Bón thừa phân lân và phân đạm riêng rẽ hay kết hợp sẽ tăng sự sinh sản của tuyến trùng.

- Tuyến trùng thường gây hại mạnh giai đoạn lúa còn nhỏ (mạ và thời kỳ đẻ nhánh).

4. Biện pháp phòng trừ:

Để phòng trừ tuyến trùng hại rễ lúa, nông dân cần thường xuyên điều tra đồng ruộng, phát hiện sớm và phòng trừ kịp thời theo các biện pháp kỹ thuật như sau:

- Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ.

- Để nước ngập trong ruộng vài ngày trước khi làm đất chuẩn bị gieo sạ.

- Cố gắng giữ nước trong ruộng, không để khô hạn lâu, nhất là giai đoạn lúa còn nhỏ.

- Không được để cạn nước, cần cho nước vào ruộng khoảng 3-5cm và giữ liên tục 5-7 ngày.

- Bón vôi với lượng từ 20-25kg/sào (360m2) để giảm độ chua cho đất.

- Sử dụng một số chế phẩm cải tạo đất và tăng cường khả năng ra rễ mới cho lúa như Rhizomyx 2,5G (trộn với phân chuồng hoai mục nếu có) kết hợp phun các loại phân bón hữu cơ qua lá để giúp lúa nhanh hồi phục ra lá, ra rễ nhanh hơn. 

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Sử dụng phân bón mới trên lúa vụ Xuân- Thêm lựa chọn cho nông dân

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Vụ Xu&acirc;n năm nay, Trung t&acirc;m Khuyến n&ocirc;ng phối hợp với C&ocirc;ng ty TNHH sản xuất thương mại v&agrave; đầu tư An Hưng triển khai m&ocirc; h&igrave;nh tr&igrave;nh diễn sử dụng ph&acirc;n b&oacute;n mới tr&ecirc;n c&acirc;y l&uacute;a. M&ocirc; h&igrave;nh triển khai với diện t&iacute;ch 2 ha với 30 hộ d&acirc;n ở th&ocirc;n Quế Sơn, x&atilde; Th&aacute;i Sơn, huyện Hiệp H&ograve;a.</span></p>

Ảnh minh họa - Sử dụng phân bón NPK An Hưng trên cây lúa cho năng suất cao

 

Vụ Xuân năm nay, Trung tâm Khuyến nông phối hợp với Công ty TNHH sản xuất thương mại và đầu tư An Hưng triển khai mô hình trình diễn sử dụng phân bón mới trên cây lúa. Mô hình triển khai với diện tích 2 ha với 30 hộ dân ở thôn Quế Sơn, xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa.

Theo đó, giống lúa TBR225 được lựa chọn để thử nghiệm phân bón mới An Hưng, từ giai đoạn bón thúc đến khi thu hoạch. Đây là giống lúa thuần chất lượng có khả năng sinh trưởng tốt, chống chịu sâu bệnh khá, năng suất ổn định và được nông dân gieo cấy với diện tích lớn ở Bắc Giang. Mô hình sử dụng phân bón NPK An Hưng (15-3-10+10S+TE và 12-3-12+3S+TE) và sử dụng phân bón thông thường khác trên cây lúa TBR225 làm đối chứng.

Ông Nguyễn Văn Hiếu, thôn Quế Sơn cho biết, vụ Chiêm Xuân năm nay gia đình cấy gần 5 sào giống TBR 225 và sử dụng phân bón NPK An Hưng. Qua quá trình chăm sóc, ông nhận thấy cùng được gieo cấy với mật độ như nhau nhưng sử dụng phân bón NPK An Hưng với tỷ lệ đúng, đủ và cân đối nên giống TBR225 đạt số rảnh 14-15 rảnh/khóm, cao hơn đối chứng 3 rảnh/khóm, cây cao hơn đối chứng. Đặc biệt, sử dụng phân bón NPK An Hưng cây lúa có bộ rễ dài và khỏe hơn, bộ lá đứng, màu xanh bền, cây lúa sinh trưởng tốt, ít bị sâu bệnh hại.

Kết quả thực tế mô hình cho thấy các yếu tố cấu thành năng suất của cây lúa TBR225 đều vượt trội khi sử dụng phân bón NPK An Hưng như số bông hữu hiệu cao đạt, số lượng hạt chắc nhiều, trọng lượng 1000 hạt đạt 23gam, năng suất bình quân đạt khoảng 68 tạ/ha, đối chứng đạt 56 tạ/ha.

Được biết, đây là hai dòng phân bón mới lần đầu tiên được Trung tâm Khuyến nông phối hợp triển khai trên địa bàn tỉnh, có hàm lượng dinh dưỡng cao, phù hợp với từng loại cây trồng trên các vùng đất khác nhau, giúp đem lại hiệu quả cao về cả năng suất và chất lượng, giúp cây sinh trưởng tốt, khỏe, giảm sâu bệnh, cải tạo đất và bảo vệ môi trường. Từ đó, làm cơ sở để nông dân trong tỉnh tiếp cận, lựa chọn sử dụng phân bón An Hưng trong thời gian tới.

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Tân Yên: Giống lúa Việt Lai 20 thích ứng tốt, năng suất cao

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Nhằm tiếp tục gi&uacute;p người d&acirc;n tiếp cận với giống l&uacute;a lai c&oacute; năng suất v&agrave; chất lượng gạo tốt, ph&ugrave; hợp với điều kiện th&acirc;m canh của người d&acirc;n tại địa phương, vụ Chi&ecirc;m Xu&acirc;n năm nay,Trung t&acirc;m Dịch vụ Kỹ thuật N&ocirc;ng nghiệp huyện T&acirc;n Y&ecirc;n (DV KTNN) phối hợp với C&ocirc;ng ty Cổ phần Kỹ thuật n&ocirc;ng nghiệp cao Hải Ph&ograve;ng, x&acirc;y dựng m&ocirc; h&igrave;nh sản xuất thử nghiệm giống l&uacute;a lai Việt Lai 20, đem lại kết quả khả quan.</span></p>

Giống lúa Việt Lai 20 có thể gieo cấy trên đất nghèo dinh dưỡng, đất chua mặn và có khả năng thâm canh cao

Nhằm tiếp tục giúp người dân tiếp cận với giống lúa lai có năng suất và chất lượng gạo tốt, phù hợp với điều kiện thâm canh của người dân tại địa phương, vụ Chiêm Xuân năm nay,Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp huyện Tân Yên (DV KTNN) phối hợp với Công ty Cổ phần Kỹ thuật nông nghiệp cao Hải Phòng, xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm giống lúa lai Việt Lai 20, đem lại kết quả khả quan.

Giống lúa Việt Lai 20 là giống lúa lai hai dòng đầu tiên được các nhà khoa học Việt Nam chọn tạo thành công năm 1996 do PGS.TS  Nguyễn Văn Hoan và thạc sĩ Vũ Hồng Quảng lai tạo. Với nhiều ưu điểm nổi bật chống đổ tốt, gạo có hàm lượng protein cao, thích ứng rộng, phù hợp với nhiều chân đất khác nhau, có thể gieo cấy trên đất nghèo dinh dưỡng, đất chua mặn và có khả năng thâm canh cao.

Hộ dân tham gia mô hình được hỗ trợ 100% giống lúa và được cán bộ kỹ thuật của Trung tâm hướng dẫn quy trình kỹ thuật gieo cấy, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại trong suốt quá trình. Mô hình sử dụng giống Khang dân 18 làm giống đối chứng.

Mô hình lựa chọn triển khai tại 3 xã, ở xã Việt Ngọc với diện tích 01 ha, tại thôn Cầu Trại; xã Phúc Sơn 01 ha tại thôn Khánh Châu và xã Đại Hóa 01 ha, tại thôn Chúc. Tổng số hộ tham gia mô hình là 28 hộ.

Trực tiếp sản xuất, các hộ dân tham gia mô hình nhận xét, giống lúa Việt Lai 20 ở cả 3 điểm triển khai mô hình đều có thời gian sinh trưởng trung bình 125-126 ngày dài hơn giống đối chứng KD18 từ 2-3 ngày. Như vậy có thể đánh giá giống Việt Lai 20 thuộc nhóm giống có thời gian sinh trưởng trung bình. Mặt khác, giống Việt Lai 20 có thời gian trỗ bông tập trung, tỷ lệ trỗ thoát cổ bông đạt >97%.

Vụ Chiêm Xuân năm 2021, thời tiết duy trì nhiều ngày có tiết trời âm u, mưa nhiều đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng nấm phát sinh gây hại trên cây lúa như: bệnh khô vằn, đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, bạc lá, đốm sọc vi khuẩn... Tại các điểm triển khai mô hình giống lúa Việt Lai 20 bị nhiễm nhẹ đạo ôn cổ bông và nhiễm bệnh khô vằn, đặc biệt ở các ruộng cấy với mật độ dày, bón phân chưa cân đối. So với đối chứng, giống Việt Lai 20 cho thấy khả năng chống chịu sâu khá.

Ở thời điểm cuối vụ rất thuận lợi cho quá trình phân hóa đòng và trỗ bông nên tỷ lệ hạt chắc/bông tăng cao hơn so với các vụ trước ở cùng thời điểm, tỷ lệ hạt lép/bông của giống trung bình chỉ chiếm 12-14% tổng số hạt trên bông. Tổng số hạt trên bông của giống Việt Lai 20 trung bình đạt từ 140-153 hạt/bông, trong khi đó giống đối chứng là 189 hạt/bông. Song, giống lúa lai Việt Lai 20 có đặc điểm hạt thóc to, trọng lượng 1000 hạt của giống đạt 28gram, cao gấp 1,3 lần so với đối chứng nên năng suất trung bình của Việt Lai 20 đạt 62 tạ/ha cao hơn giống đối chứng 8,5- 9 tạ/ha. Hạch toán cho thấy, giống lúa Việt Lai 20 đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn giống KD 18 khoảng 4,7triệu đồng/ha.

Từ những thành công của mô hình, Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật nông nghiệp huyện Tân Yên đề nghị, UBND các xã, thị trấn chỉ đạo cán bộ chuyên môn phụ trách nông nghiệp xã tuyên truyền sâu rộng tới nhân dân trong xã đưa giống lúa Việt lai 20 vào cơ cấu bộ giống lúa có thể tổ chức sản xuất trên địa huyện. Đồng thời đề nghị Công ty Cổ phần Kỹ thuật nông nghiệp cao Hải Phòng tiếp tục phối hợp với Trung tâm DV KTNN xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm trong các vụ tiếp theo để có đánh giá khách quan hơn giống lúa Việt Lai 20, làm cơ sở để nhân rộng mô hình tại các địa phương khác trong địa bàn huyện, thay thế dần các giống lúa chất lượng thấp, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập cho người nông dân.

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Phấn đấu gieo trồng trên 64.000 ha cây vụ mùa

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: &quot;Times New Roman&quot;, serif; font-size: 18.6667px; text-align: justify;">Theo Sở N&ocirc;ng nghiệp v&agrave; PTNT, vụ M&ugrave;a năm nay, to&agrave;n tỉnh phấn đấu gieo trồng 64.500 ha c&acirc;y trồng c&aacute;c loại.</span></p>

ảnh minh họa

Theo Sở Nông nghiệp và PTNT, vụ Mùa năm nay, toàn tỉnh phấn đấu gieo trồng 64.500 ha cây trồng các loại.

Cụ thể, cây lúa phấn đấu gieo trồng 51.000 ha, năng suất đạt 55,8 tạ/ha, sản lượng gần 285 tấn. Cây ngô diện tích 2.250 ha, năng suất 44,4 tạ/ha, sản lượng 10 nghìn tấn; cây lạc 1.250 ha, năng suất 25,8 tạ/ha, sản lượng hơn 3 nghìn tấn; rau các loại 6.000 ha; cây khác 4.000 ha...

Để vụ Mùa năm 2021 giành thắng lợi, Sở Nông nghiệp và PTNT đề nghị UBND các huyện, thành phố căn cứ tình hình cụ thể của địa phương, sớm triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất vụ Mùa tới các xã, thị trấn. Chỉ đạo đẩy mạnh tích tụ đất đai, sản xuất mô hình cánh đồng mẫu lớn gắn với liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm; mở rộng diện tích áp dụng sản uất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP; ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghip... Hướng dẫn nông dân thu hoạch nhanh gọn diện tích cây trồng vụ Chiêm Xuân, đồng thời làm đất ngay để kịp thời gieo cấy lúa mùa sớm cho kịp thời vụ...

Các cơ quan chuyên môn thuộc Sở: Chi cục Trồng trọt và BVTV, Chi cục Thủy lợi, Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản; Thanh tra Sở, Đoàn kiểm tra liên ngành của Sở làm tốt công tác điều tra, dự tính dự báo tình hình phát sinh, gây hại của các đối tượng sâu bệnh; chủ động nắm bắt tình hình sản xuất; kiểm tra, sửa chữa, tu bổ các hệ thống công trình thủy lợi, nạo vét kênh mương đảm bảo nước tưới tiêu phục vụ sản xuất...; phối hợp chỉ đạo sản xuất đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt tại các vùng sản xuất rau màu tập trung, chuyên canh; kiểm tra các cở sở sản xuất và kinh doanh giống cây trồng, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh.

Trung tâm Khuyến nông thực hiện tốt công tác phối hợp xây dựng mô hình trình diễn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất; tuyên truyền về thị trường nông sản; khuyến cáo các biện pháp kỹ thuật, các mô hình sản xuất mới có hiệu quả để nông dân áp dụng trong sản xuất.

Theo:khuyennongbacgiang.com

Giải pháp giảm thiểu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho cây trồng

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; font-weight: 700; text-align: justify;">Trong qu&aacute; tr&igrave;nh sản xuất n&ocirc;ng nghiệp, việc đa dạng ho&aacute; c&aacute;c loại c&acirc;y trồng &ndash; lu&acirc;n phi&ecirc;n thay đổi giống c&acirc;y trồng trong c&aacute;c năm, l&agrave; một trong những biện ph&aacute;p n&acirc;ng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đặc biệt l&agrave; hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. V&igrave; kẻ th&ugrave; của c&acirc;y trồng (s&acirc;u, động vật k&yacute; sinh&hellip;) sẽ biến mất trước khi lo&agrave;i c&acirc;y y&ecirc;u th&iacute;ch được gieo trở lại, bởi lo&agrave;i c&acirc;y ấy kh&ocirc;ng được gieo trồng qu&aacute; l&acirc;u n&ecirc;n s&acirc;u bọ kh&ocirc;ng c&oacute; điều kiện sinh s&ocirc;i.</span></p>

margin: 0px;">Căn cứ vào đặc tính cây trồng, đất đai thổ nhưỡng, những tiến bộ về phân bón, quy trình thâm canh phù hợp tạo ra cây trồng khoẻ chống chịu sâu, bệnh tốt như : quy trình 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm…

6. Tăng cường công tác dự tính dự báo

Một số bệnh phát sinh, phát triển và nhanh chóng phá hoại cây trồng ngay khi vừa xuất hiện. Do đó, cần phun thuốc kịp thời khi thời tiết có dấu hiệu thuận lợi cho sự phát triển của mầm bệnh như bệnh đạo ôn. Tiến tới dự báo tình hình sâu, bệnh thông qua hệ thống mô hình hoá rủi ro có tính đến những dữ liệu cụ thể (giống cây, đặc điểm thời tiết của địa phương, thời điểm gieo trồng và nảy mầm, tưới tiêu…) cho phép giảm đáng kể lượng thuốc trừ sâu sử dụng.

7. Nguyên tắc 4 đúng :

Khi sâu, bệnh đã đến ngưỡng phun trừ, bà con nông dân phải tuân thủ theo hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn, sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng : Đúng thuốc, Đúng liều lượng và nồng độ, Đúng lúc, Đúng cách.

Nông Tuyên Huấn

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, việc đa dạng hoá các loại cây trồng – luân phiên thay đổi giống cây trồng trong các năm, là một trong những biện pháp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đặc biệt là hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Vì kẻ thù của cây trồng (sâu, động vật ký sinh…) sẽ biến mất trước khi loài cây yêu thích được gieo trở lại, bởi loài cây ấy không được gieo trồng quá lâu nên sâu bọ không có điều kiện sinh sôi.

 1. Đa dạng hoá cây trồng :

Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, việc đa dạng hoá các loại cây trồng – luân phiên thay đổi giống cây trồng trong các năm, là một trong những biện pháp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đặc biệt là hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Vì kẻ thù của cây trồng (sâu, động vật ký sinh…) sẽ biến mất trước khi loài cây yêu thích được gieo trở lại, bởi loài cây ấy không được gieo trồng quá lâu nên sâu bọ không có điều kiện sinh sôi.

2. Lợi dụng thiên địch và ký sinh :

Thiên địch thường là nhóm phòng trừ sinh học quan trọng nhất ở lúa, trong cả một vòng đời, mỗi một thiên địch tiêu thụ rất nhiều mồi. Thiên địch thường dễ nhìn thấy nhất nhưng đôi khi chúng bị nhầm lẫn với sâu hại. Thiên địch xuất hiện ở hầu hết các môi trường trồng lúa. Một số thiên địch như một vài loại nhện, bọ rùa, bọ cánh cứng tìm các cây có mồi như : bọ rầy xanh hút lá, bọ rầy hút thân cây, bướm và sâu non của sâu đục thân và sâu xanh để diệt.

Nhện thích mồi di động, nhưng một số lại tấn công trứng sâu. Nhiều loại nhện chỉ săn mồi ban đêm. Một số khác lại kéo màng và ăn tất cả những gì mắc vào màng nhện, bất kể ngày hay đêm.

Nhiều loại bọ cánh cứng, một số loài châu chấu ăn thịt và dễ thích ăn trứng sâu. Do đó, một điều không phải là bất thường, nếu như ta thấy trứng của một loài sâu hại nào đó bị ăn mất 80-90%. Một con nhện Lycosa trưởng thành có thể ăn 5-15 rầy nâu trưởng thành mỗi ngày. Giai đoạn sâu non và trưởng thành của hầu hết các loại thiên địch tấn công sâu hại cây trồng và trong quá trình phát triển của mỗi thiên địch cần rất nhiều mồi.

Các loại thiên địch khác như bọ niễng, sống trên mặt nước của ruộng lúa, khi các loài sâu hại như : bọ rầy, sâu non của sâu đục thân, sâu cuốn lá bò từ lá này sang lá khác bị rơi xuống mặt nước và sẽ bị bọ niễng và các loài thiên địch tương tự tấn công ngay.

Các thiên địch thường rất phàm ăn và khi nguồn thức ăn chính của chúng hiếm, chúng sẽ tấn công các loài có ích khác. Tuy nhiên, nói chung các thiên địch ăn các loài mà khi chúng xuất hiện rất nhiều như những dịch. Một điều rất quan trọng là một số loài sâu hại xuất hiện ở mức độ không gây hại về mặt kinh tế là có ích, vì chúng cung cấp thức ăn để duy trì các loài có ích ở mức độ có thể ngăn chặn được dịch sâu, bệnh.

Nuôi thiên địch hàng loạt để thả ra đồng ruộng là một điều hết sức tốn kém. Trên mỗi mảnh ruộng của người nông dân đã có sẵn những thiên địch. Các thiên địch cần được bảo vệ bằng cách sử dụng một cách khoa học thuốc trừ sâu phổ rộng giết được nhiều loại sâu một cách đúng mức hoặc bằng cách dùng thuốc trừ sâu chỉ độc hại đối với sâu mà không độc hại đối với thiên địch.

Thành phần thiên địch trên cây lúa đã được các nhà khoa học bảo vệ thực vật Việt Nam xác nhận : có 415 loài thuộc 14 bộ, 58 họ, 241 giống của các lớp nhện, nấm, tuyến trùng.

Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, việc đa dạng hoá các loại cây trồng – luân phiên thay đổi giống cây trồng trong các năm, là một trong những biện pháp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đặc biệt là hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Vì kẻ thù của cây trồng (sâu, động vật ký sinh…) sẽ biến mất trước khi loài cây yêu thích được gieo trở lại, bởi loài cây ấy không được gieo trồng quá lâu nên sâu bọ không có điều kiện sinh sôi.

 1. Đa dạng hoá cây trồng :

Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, việc đa dạng hoá các loại cây trồng – luân phiên thay đổi giống cây trồng trong các năm, là một trong những biện pháp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đặc biệt là hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Vì kẻ thù của cây trồng (sâu, động vật ký sinh…) sẽ biến mất trước khi loài cây yêu thích được gieo trở lại, bởi loài cây ấy không được gieo trồng quá lâu nên sâu bọ không có điều kiện sinh sôi.

2. Lợi dụng thiên địch và ký sinh :

Thiên địch thường là nhóm phòng trừ sinh học quan trọng nhất ở lúa, trong cả một vòng đời, mỗi một thiên địch tiêu thụ rất nhiều mồi. Thiên địch thường dễ nhìn thấy nhất nhưng đôi khi chúng bị nhầm lẫn với sâu hại. Thiên địch xuất hiện ở hầu hết các môi trường trồng lúa. Một số thiên địch như một vài loại nhện, bọ rùa, bọ cánh cứng tìm các cây có mồi như : bọ rầy xanh hút lá, bọ rầy hút thân cây, bướm và sâu non của sâu đục thân và sâu xanh để diệt.

Nhện thích mồi di động, nhưng một số lại tấn công trứng sâu. Nhiều loại nhện chỉ săn mồi ban đêm. Một số khác lại kéo màng và ăn tất cả những gì mắc vào màng nhện, bất kể ngày hay đêm.

Nhiều loại bọ cánh cứng, một số loài châu chấu ăn thịt và dễ thích ăn trứng sâu. Do đó, một điều không phải là bất thường, nếu như ta thấy trứng của một loài sâu hại nào đó bị ăn mất 80-90%. Một con nhện Lycosa trưởng thành có thể ăn 5-15 rầy nâu trưởng thành mỗi ngày. Giai đoạn sâu non và trưởng thành của hầu hết các loại thiên địch tấn công sâu hại cây trồng và trong quá trình phát triển của mỗi thiên địch cần rất nhiều mồi.

Các loại thiên địch khác như bọ niễng, sống trên mặt nước của ruộng lúa, khi các loài sâu hại như : bọ rầy, sâu non của sâu đục thân, sâu cuốn lá bò từ lá này sang lá khác bị rơi xuống mặt nước và sẽ bị bọ niễng và các loài thiên địch tương tự tấn công ngay.

Các thiên địch thường rất phàm ăn và khi nguồn thức ăn chính của chúng hiếm, chúng sẽ tấn công các loài có ích khác. Tuy nhiên, nói chung các thiên địch ăn các loài mà khi chúng xuất hiện rất nhiều như những dịch. Một điều rất quan trọng là một số loài sâu hại xuất hiện ở mức độ không gây hại về mặt kinh tế là có ích, vì chúng cung cấp thức ăn để duy trì các loài có ích ở mức độ có thể ngăn chặn được dịch sâu, bệnh.

Nuôi thiên địch hàng loạt để thả ra đồng ruộng là một điều hết sức tốn kém. Trên mỗi mảnh ruộng của người nông dân đã có sẵn những thiên địch. Các thiên địch cần được bảo vệ bằng cách sử dụng một cách khoa học thuốc trừ sâu phổ rộng giết được nhiều loại sâu một cách đúng mức hoặc bằng cách dùng thuốc trừ sâu chỉ độc hại đối với sâu mà không độc hại đối với thiên địch.

Thành phần thiên địch trên cây lúa đã được các nhà khoa học bảo vệ thực vật Việt Nam xác nhận : có 415 loài thuộc 14 bộ, 58 họ, 241 giống của các lớp nhện, nấm, tuyến trùng.

Bộ cánh màng có số lượng loài nhiều nhất 165 loài, bộ cánh cứng 95 loài, bộ cánh nửa 70 loài, có khoảng hơn 80 loài thường xuyên có mặt trên đồng lúa.

3. Định hướng chọn giống cây trồng :

Trong tự nhiên, một số loài cây có khả năng chống chịu tốt với sâu, bệnh. Đặc tính này có thể được bảo tồn bằng cách lai tạp khi chọn giống. Giải pháp này tỏ ra rất hiệu quả trong trường hợp muốn hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và không quá đặt nặng mục tiêu đạt sản lượng cao.

4. Diệt cỏ dại tận gốc :

Thường chúng ta diệt cỏ chỉ xới trên mặt hoặc phun thuốc, nhổ bằng tay… Tuy nhiên, cỏ có hệ rễ rất phát triển, có khả năng tái sinh rất nhanh, với phần rễ củ còn lại, dù là ít hoặc bị tổn thương. Chính vì vậy, trước khi trồng, phải diệt cỏ tận gốc, moi cả rễ. Các biện pháp đều nhằm ngăn cỏ dại hút chất dinh dưỡng của cây trồng…

5. Biện pháp thâm canh :

GIỐNG LÚA BẮC THƠM 7 KHÁNG BẠC LÁ 3 GEN ĐÃ CÓ CHỦ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Bắc thơm 7 Kh&aacute;ng bạc l&aacute; 3 gen mang c&aacute;c gen kh&aacute;ng bệnh bạc l&aacute; (xa5, Xa7, Xa21) n&ecirc;n c&oacute; khả năng kh&aacute;ng bệnh cao v&agrave; ổn định, tỷ lệ nhiễm rầy n&acirc;u nhẹ.</div> <div> &nbsp;</div>
Bắc thơm 7 Kháng bạc lá 3 gen mang các gen kháng bệnh bạc lá (xa5, Xa7, Xa21) nên có khả năng kháng bệnh cao và ổn định, tỷ lệ nhiễm rầy nâu nhẹ.
Sự kiện Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (Bộ NN- PTNT) ký hợp đồng chuyển giao bản quyền giống Bắc thơm 7 kháng bạc lá 3 cho Công ty cổ phần Giống cây trồng Nam Định tổ chức mới đây, hứa hẹn sẽ cung cấp cho nông dân Nam Định nói riêng, nông dân các tỉnh đồng bằng sông Hồng nói chung giống lúa thơm xứng tầm kỳ vọng.
 
Chiều 10/12 tại Nam Định, dưới sự chứng kiến của ông Nguyễn Phùng Hoan, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định và lãnh đạo Sở NN-PTNT tỉnh, 2 cơ quan là Viện Cây lượng thực và Cây thực phẩm, Công ty cổ phần Giống cây trồng Nam Định đã tổ chức lễ ký kết chuyển giao bản quyền sản xuất, kinh doanh giống Bắc thơm 7 KBL3.
 
Giống lúa BT7 KBL-03 (tên cũ) bắt đầu được các nhà khoa học Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm nghiên cứu, lai tạo từ vụ xuân năm 2015. Sau đó, giống chính thức được gửi khảo nghiệm trong hệ thống khảo nghiệm giống quốc gia từ vụ xuân năm 2018, nay giống được đổi tên thành Bắc thơm 7 KBL3.
 
Tiến sĩ Phạm Thiên Thành, Bộ môn Công nghệ sinh học, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, tác giả giống lúa Bắc thơm 7 KBL3 chia sẻ, Bắc thơm 7 KBL3 là giống cảm ôn, được chọn tạo từ tổ hợp lai BT7 và IRBB66 (dòng đẳng gen kháng bệnh bạc lá).
 
Thời gian sinh trưởng của Bắc thơm 7 KBL3 trong vụ xuân 130 ngày, vụ mùa 105 - 110 ngày. Chiều cao cây 95 - 100 cm, đẻ nhánh trung bình, hạt thon nhỏ, màu vàng sẫm, khối lượng 1.000 hạt 20 - 21 gam. Đặc biệt, so với giống Bắc thơm 7 truyền thống và một số dòng Bắc thơm 7 KBL khác đã có trên thị trường, Bắc thơm 7 KBL3 mang 3 gen kháng bệnh bạc lá (xa5, Xa7, Xa21) nên có khả năng kháng bệnh bạc lá cao và ổn định, tỷ lệ nhiễm rầy nâu nhẹ.
 
Theo tiến sĩ Thành, sở dĩ một vài giống lúa Bắc thơm 7 KBL trước đây đưa vào sản xuất chưa mang lại thành công như mong đợi, với lý do đấy là những giống đơn gen (chỉ có 1 gen), nên giống có thể chống chịu bệnh bạc lá ở vụ này mà lại không chống chịu được ở vụ khác, chống chịu ở vùng thổ nhưỡng, khí hậu này mà không phát huy được khả năng của giống khi gieo cấy ở vùng khác.
 
Còn giống Bắc thơm 7 KBL3 của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm có tới 3 gen, mà xa21, Xa7, Xa21 đều là những gen có ưu thế chống chịu mọi cấp độ của bệnh bạc lá nên chắc chắn, khi đưa giống vào sản xuất sẽ thành công ngoài mong đợi.
 
Cụ thể, theo kết quả các mô hình khảo nghiệm, thử nghiệm sản xuất trên nhiều chân đất và diện tích khác nhau trong thời gian qua, được Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm công bố, thì năng suất trung bình của giống lúa Bắc thơm 7 KBL3 đạt từ 55 - 60 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 65 tạ/ha. Đặc biệt, hàm lượng Amylose trong giống lúa Bắc thơm 7 KBL3 là 13% nên chất lượng tốt, cơm mềm, mùi thơm, vị đậm.
 
Đây cũng là một điểm cộng đáng tự hào của giống lúa Bắc thơm 7 KBL3. Bởi một khi đưa gen vào giống lúa Bắc thơm 7 truyền thống thì đặc tính của giống thường bị thay đổi. Thậm chí giống không giữ được chất lượng gạo ban đầu, cơm nấu lên bị cứng, mất mùi thơm vốn có.
 
Với giống lúa Bắc thơm 7 KBL3 thì các đặc tính của giống Bắc thơm gốc được giữ nguyên vẹn. Như vậy, đây có thể nói là giống lúa "2 trong 1" khi vừa chống chịu được bệnh bạc lá vốn được coi là bệnh "ung thư" với giống lúa Bắc thơm 7 rất hay bùng phát ở vụ mùa, lại vừa có chất lượng gạo, cơm tuyệt vời, lúa dễ bán và bán được với giá cao.  
 
Chứng kiến lễ ký kết giữa hai đơn vị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định, ông Nguyễn Phùng Hoan vui mừng cho biết, riêng với tỉnh Nam Định cũng như một số tỉnh đồng bằng sông Hồng khác, từ nhiều năm nay người nông dân vẫn luôn một mực chung thủy với giống lúa Bắc thơm 7 bởi chất lượng gạo của giống lúa này cho đến nay xét một cách sòng phẳng chưa có giống nào vượt qua được.
 
Đó là lý do giải thích tại sao giống Bắc thơm 7 truyền thống cấy ở Nam Định rất nhiều năm bị bệnh bạc lá, có những năm cả cánh đồng gần như bị cháy xám nhưng nông dân vẫn không bỏ giống lúa này. Vừa khuyến cáo, có nơi còn "cấm" không được gieo cấy nhưng nông dân vẫn say sưa, quấn quýt với Bắc thơm 7, coi như "đánh bạc" với trời.
 
Chính vì vậy, dù có nhược điểm là bị mẫn cảm với bệnh bạc lá, nhất là trong vụ mùa, thậm chí nhiều năm gặp mưa bão mất mùa liên tiếp, nhưng bà con nông dân Nam Định vẫn gắn bó với giống Bắc thơm 7 qua nhiều thập kỷ, với diện tích luôn duy trì chiếm 60 - 65% tổng diện tích lúa mỗi vụ của Nam Định.
 
Do đó, việc Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm nghiên cứu chọn tạo thành công giống Bắc thơm 7 KBL3, lại chuyển giao cho một doanh nghiệp giống cây trồng đóng trên địa bàn tỉnh Nam Định- cái nôi của giống Bắc thơm 7 ở miền Bắc, có thể coi là mối "nhân duyên".
 
Theo: nongnghiep.vn