Lúa

ĐẾN CÔ TIÊN CŨNG PHẢI MUỘN PHIỀN

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> C&oacute; C&ocirc; Ti&ecirc;n kh&ocirc;ng lo mất m&ugrave;a, c&oacute; C&ocirc; Ti&ecirc;n kh&ocirc;ng lo s&acirc;u bệnh, c&oacute; C&ocirc; Ti&ecirc;n kh&ocirc;ng lo đổ ng&atilde;, c&oacute; C&ocirc; Ti&ecirc;n kh&ocirc;ng lo gi&aacute; thấp&hellip;Đấy l&agrave; những g&igrave; m&agrave; người d&acirc;n quen truyền tai nhau nhưng điều đ&oacute; kh&ocirc;ng ứng với năm nay&hellip;</div> <div> &nbsp;</div>
Có Cô Tiên không lo mất mùa, có Cô Tiên không lo sâu bệnh, có Cô Tiên không lo đổ ngã, có Cô Tiên không lo giá thấp…Đấy là những gì mà người dân quen truyền tai nhau nhưng điều đó không ứng với năm nay…
Tôi với chị Nguyễn Thị Xoa ở thôn Cấn Hạ, xã Cấn Hữu, huyện Quốc Oai (Hà Nội) ngồi trong chiếc thùng xe ba bánh cùng mấy bao tải thóc Cô Tiên mới gặt cứ nảy lên nảy xuống trên con đường đất gồ ghề sống trâu chạy qua những cánh đồng bạc trắng vì sâu bệnh về nhà văn hóa thôn.
 
Ở đó đã có mấy người trực sẵn, kẻ cầm cân, người cầm thúng, đong đong, đổ đổ để bán cho hợp tác xã. Mặt ai cũng méo xẹo. Vài người than: “Thế nào vụ này lại quy định mỗi bao 40 kg phải đóng thành 41 kg để trừ cho cái bì chỉ khoảng 1 lạng, đúng là đã thiệt đơn lại còn thiệt kép”.
 
Cô Tiên là giống lúa nếp tuy chất lượng không thực sự cao nhưng mấy năm nay được người dân nhiều tỉnh thành tiếp nhận nhanh bởi năng suất khá và nhất là khả năng chống chịu sâu bệnh. Thế nhưng vụ này, ở thôn Cấn Hạ có không ít lời bàn tán về khả năng này của Cô Tiên. 8 sào lúa nhà chị Xoa nhiễm sâu đục thân khá nặng, thêm vào đó lại bị chuột bọ phá hoại (lỗi này do địa phương không tổ chức tốt việc đánh chuột) khiến cho năng suất chỉ cỡ 1 tạ/sào.
 
“Vụ xuân vừa rồi mỗi sào được 2 tạ, bán được 7.000đ/kg nên cũng được lãi chút ít. Vụ này đã mất mùa giá lại chỉ cân có 6.100đ/kg thóc tươi trong khi đó tiền cày bừa, máy móc, phân gio, thuốc sâu… tính ra đã hơn 600.000đ/sào. Tự làm mà còn thế chứ nếu phải thuê thì lỗ to chú ạ!”, chị Xoa nói.
 
Cạnh đó, ông Nguyễn Văn Liễn ở thôn Cấn Hạ đang lúi húi đóng bao, chờ cân cũng nén tiếng thở dài khi kể về 7 sào nếp năng suất trung bình khoảng 1,2 tạ. Rất nhiều hộ khác cũng chỉ đạt 1-1,3 tạ/sào như vậy.
Trước sự xì xào của người dân, anh Phùng Văn Đồng, Trưởng ban kiểm soát của hợp tác xã Cấn Thượng- đơn vị bao tiêu sản phẩm cho toàn bộ diện tích nếp Cô Tiên của cả xã cho biết, xã có 3 hợp tác xã thì Cấn Hạ năng suất thấp nhất bởi nó đã mất vai trò, hai vụ nay bị dân bãi nhiệm nên không có ai chỉ đạo gì cả.
 
Kênh mương hỏng hóc không được sửa, nước bơm lên ai tranh được thì tranh không lại chảy xuống mương, dự tính dự báo sâu bệnh không có nên người phun đúng lứa kẻ phun trượt. Một số hộ vì sâu bệnh, chuột bọ phá hoại quá, ước tính năng suất chỉ đạt 20-30kg/sào nên không thu hoạch mà để cho chủ máy gặt được bao nhiêu thì lấy. Sản xuất như thế nên năng suất thấp là phải chứ không hẳn do giống.
 
Cũng theo anh Đồng đã 5 năm nay hợp tác xã hợp đồng với dân để sản xuất thóc nếp, vụ này số lượng 400 tấn tương đương với khoảng 200 mẫu. Mọi năm giá thóc Cô Tiên đều trên 7.000đ/kg nhưng nay chỉ được cỡ 6.200đ nhưng vì là thu tươi nên bà con đỡ công phơi phóng, quạt, đóng bao, trung bình vẫn có thể lãi cỡ 500.000đ/sào.
 
Giá thóc rẻ do thứ nhất là nhiều nơi được mùa, thứ hai là do thị trường Trung Quốc năm nay ít nhập gạo nếp. Hiện xã đã thu hoạch được hơn ½ diện tích lúa nếp và vẫn có các đầu mối nhập chứ không hề bị ế.
Để biết thêm thông tin, tôi liên lạc với chị Nguyễn Thị Hà- một đầu mối chuyên thu mua thóc nếp ở thôn Trai Trang huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên và được biết: “Trong các năm kinh doanh gạo chưa bao giờ tôi chứng kiến giá nếp rẻ như năm nay. Nếp Cô Tiên đang được thu vào với giá 6.500đ/kg thóc tươi, các loại nếp khác ngon hơn như nếp Nhung giá cũng chỉ 7.000đ/kg thóc tươi. Lý do là bởi đâu đâu cũng cấy nhiều, thu dồn dập vào một thời điểm dẫn đến không thụ hết chứ không hẳn do Trung Quốc không nhập hàng bởi các loại nếp trên chỉ tiêu thụ trong nước còn xuất khẩu là “nếp tẻ”, hạt nhỏ hơn, năng suất cao như lúa tẻ và giá bán rẻ hơn cả nếp Cô Tiên”.
 
Ở thôn Trai Trang hầu như cả làng đều đi buôn thóc còn quy mô lớn, có lò sấy, có máy xay xát như chị Hà có khoảng 20 hộ. Mọi năm giá thóc cao phần cất kho phần xát luôn để đẩy bớt hàng đi nhưng năm nay mọi người để tất trong kho chờ đợi bởi với giờ giá thóc nếp Cô Tiên khô 10.800đ/kg, giá gạo 15.300đ/kg như hiện tại chỉ vừa đủ công vận chuyển, sấy, xay xát chứ không có lãi.
 
Từ đầu mùa đến giờ riêng gia đình chị đã thu gom được gần 1.000 tấn thóc tươi và hiện tại vẫn đang đi thu mua tiếp ở Bắc Ninh vì tỉnh này cấy muộn hơn các nơi.
 
Theo nongnghiep.vn

QUẢN LÝ GIỐNG CÂY TRỒNG NÔNG NGHIỆP, THAM KHẢO TỪ TRUNG QUỐC

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Sau 4 năm x&acirc;y dựng, lấy &yacute; kiến, ng&agrave;y 4/11/2015 Quốc hội Trung Quốc đ&atilde; th&ocirc;ng qua Luật giống c&oacute; hiệu lực thi h&agrave;nh từ ng&agrave;y 1/1/2016 nhằm th&uacute;c đẩy ph&aacute;t triển v&agrave; hiện đại h&oacute;a ng&agrave;nh giống.</div> <div> &nbsp;</div>
Sau 4 năm xây dựng, lấy ý kiến, ngày 4/11/2015 Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Luật giống có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2016 nhằm thúc đẩy phát triển và hiện đại hóa ngành giống.
Là một quốc gia với trên 1,4 tỷ dân, Trung Quốc cũng là quốc gia có nhiều cái “nhất” trên thế giới: Diện tích và sản lượng lúa gạo lớn nhất (146 triệu tấn), tiêu thụ lúa gạo lớn nhất (142,6 triệu tấn); số đầu lợn cao nhất và tiêu thụ thịt lợn đứng hàng đầu thế giới; sản lượng kê, lạc, khoai tây... của Trung Quốc cũng luôn đứng đầu.
 
Trong lĩnh vực lúa gạo, Trung Quốc là một trong các quốc gia có nhiều thành tích kỳ diệu trong nghiên cứu, chọn tạo giống, đã cho ra đời lúa ưu thế lai, lúa chịu mặn... góp phần tăng năng suất, sản lượng lúa không chỉ ở Trung Quốc mà các giống lúa mới của Trung Quốc còn xuất khẩu sang nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Công tác nghiên cứu là vậy, còn việc quản lý giống cây trồng được Trung Quốc tiến hành như thế nào?  
 
 
Trong suốt những thập niên đầu của thế kỷ XXI, Trung Quốc quản lý giống cây trồng khá nhiêu khê với danh mục giống cây trồng chính lên tới 28 loại; có 3 cấp thẩm định và công nhận cho sản xuất gồm cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện. Và giai đoạn này có hàng ngàn giống cây trồng cấp tỉnh được công nhận hàng năm.
 
 
Để thẩm định và công nhận mỗi loại giống, thời gian sau khi các tác giả, cơ quan tác giả đã hoàn thiện quá trình chọn tạo cũng mất 3-4 năm với cây lương thực, thực phẩm hàng năm, mặc dù giai đoạn này Trung Quốc chưa quy định cụ thể về bảo hộ giống cây trồng. Số lượng các doanh nghiệp, công ty sản xuất, kinh doanh lĩnh vực giống cây trồng cũng nở rộ và khá phức tạp.  
 
 
Nhận thấy, lĩnh vực quản lý giống cây trồng còn nhiều bất cập, mặc dù luật giống cây trồng của Trung Quốc được ban hành từ năm 2001, nhưng các quy định của luật này hiện không còn phù hợp, nên năm 2011 Quốc vụ viện Trung Quốc bắt đầu tiến chỉnh sửa luật, ban hành luật mới trên cơ sở điều tra, tổng hợp ý kiến của các nhà sản xuất kinh doanh giống, các nhà khoa học nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng.
 
Có gần ½ ý kiến kiến nghị bỏ việc thẩm định và công nhận giống, với các lý do: Thời gian thẩm định quá dài (3-4 năm); Thẩm định nhưng không có trách nhiệm, khi có vấn đề thiệt hại do giống, nông dân chính là người bị thiệt hại lớn nhất; Tiêu chí thẩm định để công nhận rất đơn chất và nặng về năng suất (số lượng là chính); Thẩm định, công nhận và bảo hộ không gắn kết với nhau và việc thẩm định theo vùng sinh thái không khoa học, lẫn lộn với vùng hành chính.
 
Sau 4 năm xây dựng, lấy ý kiến, ngày 4/11/2015 Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Luật giống có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2016 nhằm thúc đẩy phát triển và hiện đại hóa ngành giống. Luật giống có 10 chương bao gồm: (i) Điều khoản chung, (ii) Bảo tồn nguồn gen, (iii) Chọn tạo công nhận và ghi nhận hồ sơ giống, (iv) Bảo hộ giống cây trồng mới, (v) Hoạt động sản xuất kinh doanh giống, (vi) Giám sát và quản lý giống, (vii) Xuất nhập khẩu và hợp tác quốc tế, (viii) Các biện pháp trợ giúp, (ix) Trách nhiệm pháp lý và (x). Các điều khoản bổ sung.
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, những vấn đề cơ bản của hệ thống công nhận giống của Trung Quốc đã được sửa đổi bao gồm:
 
1.Số lượng cây trồng (cây trồng chính) buộc phải công nhận đã giảm từ 28 loại xuống còn 5 loại là lúa, lúa mỳ, ngô, bông và đậu tương. Trước đây cải dầu, khoai tây và lạc buộc phải công nhận nhưng theo luật mới các cây này không phải bắt buộc công nhận nữa mặc dù đều là những cây có diện tích lớn.
 
2.Luật mới cũng đưa ra khái niệm về “luồng xanh” trong hệ thống công nhận: Cho phép các công ty giống đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quy định về nghiên cứu, chọn tạo, đánh giá và khảo nghiệm, thuê khảo nghiệm được tự thực hiện các bước theo quy định và tự tiến hành công nhận giống.
 
3.Giống đã được thẩm định và công nhận được phép sản xuất kinh doanh ở vùng sinh thái tương tự mà không phải mất thêm công đoạn thử nghiệm và công nhận như trước đây khi đưa nó đến một vùng khác có điều kiện sinh thái tương tự ở Trung Quốc.
 
4. Các loài cây trồng không thuộc 5 loài trên chỉ cần nộp hồ sơ ghi nhận cho cơ quan quản lý nhà nước được phân công, tuy nhiên Trung Quốc cũng chưa ban hành danh mục các loài phải nộp hồ sơ ghi nhận.
 
5. Công nhận và bảo hộ được tích hợp với nhau trong luật này.
 
6. Xử phạt vi phạm tăng gấp vài chục lần, thậm chí hàng trăm lần để điều chỉnh hành vi khiến các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải thận trọng rất nhiều khi đưa giống ra bán cho nông dân.
 
7. Giấy phép sản xuất và kinh doanh được gộp làm 1 thay vì chia ra 2 loại như trước đây và luật này cũng bỏ yêu cầu về vốn kinh doanh tối thiểu để tạo sự dễ dàng hơn khi xin cấp phép.
 
8. Chính phủ tăng cường sự trợ giúp và trợ cấp cho ngành giống thông qua quy định trong luật.
 
Các sửa đổi cơ bản này nhằm khắc phục những bất cập của các quy định trước đây và giảm thiểu nhũng nhiễu, phiền hà do mất thời gian thẩm định công nhận để đưa các tiến bộ mới về giống ra phục vụ sản xuất nhanh, kịp thời hơn.
 
Xin được dẫn chiếu các quy định mới trong luật này (Chương III) về chọn tạo và công nhận, ghi nhận hồ sơ giống (ghi nhận hồ sơ là tự công bố với các giống cây trồng không bắt buộc công nhận), hy vọng đây là kênh tham khảo tốt và sát cho Việt Nam khi xây dựng Nghị định và các TCVN để hướng dẫn và thực thi Luật Trồng trọt đã được ban hành và có hiệu lực từ 01/1/2020.
Một vấn đề chúng ta cũng đang bàn bạc thảo luận là, bản quyền và quyền sáng chế các giống cây trồng mới liên quan đến việc chọn tạo giống sử dụng ngân sách nhà nước, Luật giống của Trung Quốc quy định sở hữu thuộc về cơ quan thực hiện dự án, đề tài , trừ các giống và sáng chế liên quan đến an ninh, lợi ích quốc gia hoặc lợi ích cơ bản của xã hội và cộng đồng. Việc chuyển giao quyền sở hữu này phải thông qua sàn giao dịch thương mại công khai, cấm giao dịch tư nhân (điều 13).
 
 
Tại điều 15 quy định, nhà nước thực thi chương trình công nhận giống cho các giống cây trồng và giống cây lâm nghiệp chính. Các cấp độ công nhận là cấp quốc gia, cấp tỉnh. Giống cây lâm nghiệp chính được xác định bởi các cơ quan quản lý hành chính nông lâm nghiệp thuộc cấp tỉnh, khu tự trị hặc thành phố trực thuộc Trung ương thì được công nhận ở cấp tỉnh. Các giống được công nhận phải có tính khác biệt, ổn định và đồng nhất.
 
 
Các biện pháp công nhận phải áp dụng các nguyên tắc công bằng, công khai, khoa học và hiệu quả và phải tham khảo ý kiến của các nhà chọn tạo, sử dụng, sản xuất kinh doanh và đại diện các ngành liên quan đến giống cây trồng đó.
 
 
Luật giống của Trung Quốc cũng quy định khá chi tiết việc thành lập các ủy ban thẩm định (hay hội đồng công nhận) phải đảm bảo tính chuyên nghiệp, Hội đồng phải lập hồ sơ quản lý việc công nhận, theo dõi được giống khi phóng thích cũng như các thông tin liên quan và chịu sự giám sát của xã hội. 
 
Đối với “làn xanh” tức là các doanh nghiệp có hoạt động kết hợp giữa chọn tạo, nhân và phổ biến giống đáp ứng các điều kiện của cơ quan quản lý có thể tự tiến hành khảo nghiệm theo tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn công nhận giống trong trường hợp giống được chọn tạo độc lập từ doanh nghiệp đó. 
 
Hội đồng công nhận phải phát hành chứng chỉ công nhận với những giống đạt tiêu chuẩn công nhận. Các doanh nghiệp giống chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu thí nghiệm và phải truy xuất được nguồn gốc, phải chịu sự giám sát từ các cơ quan quản lý nông lâm nghiệp cấp tỉnh trở lên và của xã hội.
 
Các giống cây trồng được công nhận cấp quốc gia phải được công bố bởi các cơ quan quản lý về nông lâm nghiệp thuộc Quốc vụ viện (Bộ Nông lâm nghiệp). Việc công nhận có thể bị hủy bỏ nếu phát hiện có những kiếm khuyết nặng không thể khắc phục được, cơ quan quản lý phải ra thông báo dừng bán và phổ biến giống đó.
 
Theo nongnghiep.vn

Ủ PHÂN HỮU CƠ ĐỂ BÓN LÚA HỮU CƠ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Theo kế hoạch vụ Đ&ocirc;ng Xu&acirc;n 2019 - 2020, Trung t&acirc;m Khuyến n&ocirc;ng tỉnh Quảng Trị sẽ triển khai 16ha m&ocirc; h&igrave;nh l&uacute;a sản xuất theo hướng hữu cơ, tại 2 điểm x&atilde; Gio Quang (huyện Gio Linh) v&agrave; x&atilde; Vĩnh Thủy (huyện Vĩnh Linh).</div> <div> &nbsp;</div>
Theo kế hoạch vụ Đông Xuân 2019 - 2020, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị sẽ triển khai 16ha mô hình lúa sản xuất theo hướng hữu cơ, tại 2 điểm xã Gio Quang (huyện Gio Linh) và xã Vĩnh Thủy (huyện Vĩnh Linh).
Trước khi bắt đầu vào vụ sản xuất, cán bộ kỹ thuật của Trung tâm đã tổ chức tập huấn hướng dẫn cho bà con quy trình ủ phân hữu cơ sinh học.
 
Kỹ sư Lê Thị Tú, cán bộ kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông cho biết: Nguyên liệu đầu vào để cho ra 1 tấn phân thì cần 1 - 1,5 tấn rác thải hữu cơ và phế thải nông nghiệp; Phân chuồng hoặc mùn hoai: 3 - 4 tạ; Đạm urê: 1kg; Super lân: 2kg; Chế phẩm vi sinh vật Quế Lâm dạng bột: 2kg.
 
Rác thải hữu cơ và phế thải nông nghiệp sau khi được thu gom và phân loại được đem tập trung đến đóng ủ. Ở đóng ủ, rác thải được dàn đều thành từng lớp, mỗi một lớp có độ dày khoảng 15 - 20cm (đường kính từ 2 - 2,5m), rải 1 lượt phân đạm urê và super lân lên và rải tiếp 1 lượt phân động vật lên trên lớp rác cào đều, sau đó phủ 1 lượt nguyên liệu hữu cơ 15 - 20cm tại mỗi lớp tiến hành xử lý chế phẩm VSV (để chế phẩm vi sinh không trực tiếp với phân đạm urê).
 
Cứ tiếp tục từng lớp như thế cho đến khi hoàn thành. Nếu phụ phế thải ở một số hộ gia đình có số lượng lớn có thể ủ tại sân hoặc vườn nhà đều có thể làm theo cách như trên. Sau khi ủ phải thường xuyên kiểm tra, giám sát độ ẩm và bổ sung nước cho bể ủ khi thấy cần thiết (độ ẩm đống ủ được duy trì khoảng 60% để cho vi sinh vật hoạt động).
 
Thời gian ủ khoảng 45 - 60 ngày, sản phẩm sẽ được đưa ra sử dụng. Đối với phân hữu cơ sinh học, do phân đã ủ hoai mục và hàm lượng dinh dưỡng cao hơn phân hữu cơ truyền thống (phân heo, phân trâu bò...) nên sẽ bón cho cây trồng với lượng bằng 1/2 - 2/3 lượng phân hữu cơ truyền thống.
 
Tùy theo từng loại cây trồng để bón lượng phân cho phù hợp. Đối với cây lúa, thông thường bón theo hai cách là bón lót và bón thúc. Bón lót bằng cách rải đều khi bừa lần cuối và bón thúc bằng hình thức vãi đều. Sản phẩm phân hữu cơ sinh học có tác dụng làm tăng độ phì nhiêu của đất, tăng chất khoáng và vi sinh vật hữu hiệu cho đất, cải tạo đất rất tốt, nhất là đối với các loại đất đã và đang bị suy thoái. Tăng khả năng giữ nước của đất.
 
Bên cạnh đó phân hữu cơ sinh học có tác dụng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh không chỉ ở cây lúa mà còn các cây trồng khác.
Mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ sử dụng phân hữu cơ sinh học sẽ làm tăng khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của cây lúa, khả năng chống chịu sâu bệnh sẽ tốt hơn, trong thời kỳ trổ ruộng sẽ ít nhiễm rầy, khô vằn, cho bông dài, sạch sâu bệnh. Giảm chi phí sản xuất, hạn chế việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.

KỸ THUẬT PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH TRONG NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> N&ecirc;̀n n&ocirc;ng nghi&ecirc;̣p hữu cơ sẽ tạo n&ecirc;n sự đa dang sinh học, c&acirc;n bằng h&ecirc;̣ sinh thái giữa s&acirc;u b&ecirc;̣nh và thi&ecirc;n địch, mà những loại&nbsp; thi&ecirc;n địch này sẽ có vai trò đi&ecirc;̀u hòa s&ocirc;́ lượng của s&acirc;u b&ecirc;̣nh bằng cách ti&ecirc;u di&ecirc;̣t hoặc ức ch&ecirc;́ sự phát tri&ecirc;̉n của s&acirc;u b&ecirc;̣nh. Tuy nhi&ecirc;n, kh&ocirc;ng phải lúc nào cũng giữ được th&ecirc;́ c&acirc;n bằng đó, sẽ có lúc s&ocirc;́ lượng s&acirc;u b&ecirc;̣nh hại nhi&ecirc;̀u hơn thi&ecirc;n địch, n&ecirc;n c&ocirc;ng tác phòng trừ s&acirc;u b&ecirc;nh trong n&ocirc;ng nghi&ecirc;̣p hữu cơ r&acirc;́t quan trọng. Và c&acirc;̀n áp dụng các bi&ecirc;̣n pháp trong Quản lý dịch hại t&ocirc;̉ng hợp (IPM), k&ecirc;́t hợp nhi&ecirc;̀u bi&ecirc;̣n pháp (như bi&ecirc;̣n pháp canh tác, sinh học,&hellip;) lại với nhau đ&ecirc;̉ c&ocirc;ng tác phòng trừ s&acirc;u b&ecirc;̣nh đạt được hi&ecirc;̣u quả cao nh&acirc;́t.</div> <div> &nbsp;</div>
Nền nông nghiệp hữu cơ sẽ tạo nên sự đa dang sinh học, cân bằng hệ sinh thái giữa sâu bệnh và thiên địch, mà những loại  thiên địch này sẽ có vai trò điều hòa số lượng của sâu bệnh bằng cách tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của sâu bệnh. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng giữ được thế cân bằng đó, sẽ có lúc số lượng sâu bệnh hại nhiều hơn thiên địch, nên công tác phòng trừ sâu bênh trong nông nghiệp hữu cơ rất quan trọng. Và cần áp dụng các biện pháp trong Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), kết hợp nhiều biện pháp (như biện pháp canh tác, sinh học,…) lại với nhau để công tác phòng trừ sâu bệnh đạt được hiệu quả cao nhất.
 
I. Định nghĩa Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
 
Quản lý dịch hại tổng hợp – (Integrated Pest Management) được viết tắt là IPM. Hiểu một cách đơn giản về IPM là áp dụng tổng hợp tất cả các biện pháp nhằm phòng trừ, kiểm soát dịch hại đạt hiệu quả, đảm bảo mật  độ các loài dịch hại thấp hơn mức (ở dưới ngưỡng) mà dịch hại có thể gây ra thiệt hại về kinh tế và hạn chế những tác động tiêu cực với môi trường và các sinh vật khác (sức khỏe con người, các sinh vật có ích….).
 
 II.Nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp  (IPM) trên cây trồng theo hướng hữu cơ
 
Có 4 nguyên lý cơ bản :
 
Trồng giống tốt, cây khỏe.
Đi thăm đồng ruộng liên tục và thường xuyên.
Người nông dân sẽ trở thành chuyên gia của đồng ruộng.
Bảo vệ, khuyến khích các loại thiên địch.
III.Các biện pháp áp dụng trong quản lý dịch hại tổng hợp
 
1.Xử lý hạt giống
 
Xử lý hạt (hom) giống trước khi gieo, xử lý bằng nước nóng, xử lý nhiệt. Làm sạch cỏ dại lẫn tạp trong giống, cũng là một biện pháp hạn chế cỏ dại hiệu quả.
 
2.Biện pháp trong kỹ thuật canh tác 
 
a. Làm đất sớm và dọn dẹp vệ sinh đồng ruộng
 
Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ sau mỗi vụ gieo trồng, thu hoạch có ý nghĩa rất quan trọng giúp tiêu diệt nguồn bệnh tồn tại trong đất và trên những tàn dư (rơm rạ, lá, thân, cành cây…) sau mỗi vụ thu hoạch, làm mất nơi cư trú của sâu bệnh hại
 
b. Luân canh, xen canh cây trồng
 
 Luân canh với nhiều cây trồng khác sẽ tránh được nguồn bệnh tích lũy trên trồng từ vụ này sang vụ khác, vừa có tác dụng cải tạo đất vừa hạn chế được sâu bệnh hại và cỏ dại. Trồng những cây không cùng là ký chủ của sâu bệnh hại.
Trồng xen với những cây trồng cây có tác dụng xua đuổi sâu hại hoặc có khả năng dẫn dụ thiên địch.
 
c. Thời vụ gieo trồng thích hợp
 
Thời vụ gieo trồng hợp lý, gieo trồng tập trung đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, đạt năng suất cao, tránh rủi ro về thời tiết, tránh các đợt cao điểm của dịch hại.
 
d.Sử dụng hạt giống khỏe, giống chống chịu
 
Sử dụng giống khỏe, sạch bệnh, giống chống chịu tạo điều kiện cho cây trồng phát triển khỏe mạnh. Sử dụng giống ngắn ngày, trồng vụ sớm có thể tránh một số loại sâu bệnh hại, vừa có tác dụng hạn chế sâu bệnh hại vừa tiết kiệm chi phí trong công tác phòng trừ.
 
e. Gieo trồng với mật độ hợp lý
 
Mật độ và kỹ thuật gieo phụ thuộc vào giống, thời vụ, đất trồng,…Mật độ quá dày hoặc quá thưa đều ảnh hưởng đến năng suất và sự phát sinh của sâu bệnh hại, cỏ dại. Mật độ có liên quan đến sự phát triển của cây trồng (bộ tán, rễ…) tiểu khí hậu sinh thái, sâu bệnh và cỏ dại đồng ruộng.
 
f. Sử dụng phân bón hợp lý, cân đối
 
Phân bón có vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, phân bón có ý nghĩa quyết định đến năng suất và chất lượng của cây trồng. Việc bón phân dư thừa hoặc không hợp lý, không đúng thời điểm khiến cây trồng phát triển không cân đối dễ bị sâu bênh phát sinh, tấn công và gây hại. Nên bón phân cân đối hợp lý tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng,  phát triển khỏe mạnh, nâng cao sức đề kháng với sâu bệnh, sức chống chịu với thời tiết bất lợi của cây trồng.
 
Tăng cường sử dụng các loại phân bón hữu cơ (đặc biệt là các loại phân hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ sinh học) vừa cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, cho cây trồng phát triển khỏe mạnh, nâng cao sức đề kháng cho cây trồng vừa cải tạo đất đai, tạo môi trường sống thuận lợi cho các sinh vật hữu ích phát triển góp phần hạn chế sâu bệnh phát sinh gây hại.
 
g. Nước tưới
 
Chế độ nước tưới hợp lý với từng giai đoạn của cây trồng, cần tưới đủ nước, thoát nước chống úng vào mùa mưa.
 
3.Biện pháp cơ giới vật lý
 
Dùng tay bắt giết sâu bọ, ngắt bỏ thân lá bị bệnh, thu lượm ngắt bỏ ổ trứng, đào hang bắt chuột.
 
Sử dụng bẫy bả như bẫy chua ngọt, bẫy dính, bẫy pheromone, bẫy đèn để tiêu diệt côn trùng trưởng thành,nhằm kiểm soát mật độ của dịch hại.
 
4.Biện pháp sinh học
 
 Bảo vệ thiên địch, tạo môi trường thuận lợi, tạo nơi cư trú cho các loại sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên của dịch hại phát triển,tạo sự đa dạng và cân bằng sinh học trên đồng ruộng nhằm góp phần tiêu diệt, hận chế dịch hại.
Thu hút các loại sinh vật ăn thịt, khuyến các vi sinh vật hữu ích (vi sinh vật ký sinh, nấm đối kháng,…) phát triển nhằm tiêu diệt, kìm hãm hoặc ức chế sâu bệnh hại phát triển.
 
Sử dụng các loại thuốc trừ sâu bệnh sinh học chỉ có tác dụng với dịch hại, không độc hại với sinh vật hữu ích và con người, có hai nhóm:
Nhóm thuốc có nguồn gốc vi sinh : từ vi khuẩn như BT (Bacillus Thurigiensis)…, từ nấmMetarhizum, Trichoderma..., từ virus NPV (Nucleo polyhedrosis virus)…
Nhóm thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc : được chiết xuất từ cây cỏ, thảo dược,….
Như vậy, công tác phòng trừ sâu bệnh trong nền nông nghiệp hữu cơ cần áp dụng, kết hợp nhiều biện pháp (như biện pháp canh tác, sinh học, cơ giới vật lý,..) lại với nhau nhằm đạt hiệu cao trong phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ môi trường, đảm bảo sự đa dạng sinh học, cần bằng hệ sinh thái và cây trồng phát triển bền vững , an toàn, không độc hại với con người.
 
khuyennongbacgiang.com
 
 

GIÁ PHÂN BÓN GIẢM NHẸ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Hiện gi&aacute; b&aacute;n lẻ nhiều loại ph&acirc;n Ur&ecirc; do trong nước sản xuất như Ur&ecirc; Ph&uacute; Mỹ v&agrave; Đạm C&agrave; Mau, Ur&ecirc; Ninh B&igrave;nh v&agrave; Ur&ecirc; H&agrave; Bắc tại ĐBSCL đang ở mức 360.000 - 390.000 đồng/bao. C&ograve;n nhiều loại Ur&ecirc; nhập khẩu từ Trung Quốc, Indonesia, Nga, Malaysia, Qatar... gi&aacute; 350.000 - 400.000 đồng/bao.</div> <div> &nbsp;</div>
Hiện nay giá phân bón tại ĐBSCL đang giảm từ 5.000 - 10.000 đồng/bao.
Hiện giá bán lẻ nhiều loại phân Urê do trong nước sản xuất như Urê Phú Mỹ và Đạm Cà Mau, Urê Ninh Bình và Urê Hà Bắc tại ĐBSCL đang ở mức 360.000 - 390.000 đồng/bao. Còn nhiều loại Urê nhập khẩu từ Trung Quốc, Indonesia, Nga, Malaysia, Qatar... giá 350.000 - 400.000 đồng/bao.
 
Các loại phân DAP sản xuất trong nước như DAP Đình Vũ, DAP Cà Mau có giá 500.000 - 640.000 đồng/bao, trong khi nhiều loại DAP nhập khẩu từ Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc có giá từ 600.000 - 780.000 đồng/bao, tùy loại. NPK 20-20-15 Đầu Trâu và NPK 20-20-15 Cò Bay có giá 600.000 - 630.000 đồng/bao, Kali (Nga, Canada, Israel) 400.000 - 440.000 đồng/bao…
 
Theo các cửa hàng kinh doanh VTNN, năm nay do nguồn cung dồi dào và có sự cạnh tranh giữa nhiều thương hiệu sản phẩm trên thị trường phân bón trong và ngoài nước, do vậy, gần đây giá nhiều loại phân bón trên thị trường đã giảm nhẹ từ 5.000 - 10.000 đồng/bao so với cách nay hơn 1 tháng.
 
Theo Nongnghiep.vn
 

CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ ỐC BƯƠU VÀNG HẠI LÚA

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Hiện nay, c&aacute;c tỉnh ph&iacute;a Bắc đ&atilde; bước v&agrave;o gieo cấy l&uacute;a vụ m&ugrave;a. Từ nay đến đầu th&aacute;ng 8 l&agrave; thời điểm g&acirc;y hại mạnh của ốc bươu v&agrave;ng, l&agrave;m ảnh hưởng đến một số diện t&iacute;ch l&uacute;a mới cấy, khiến người d&acirc;n phải cấy dặm, cấy lại, ảnh hưởng đến khung thời vụ gieo cấy l&uacute;a m&ugrave;a nếu kh&ocirc;ng c&oacute; biện ph&aacute;p ph&ograve;ng trừ hiệu quả.</div> <div> &nbsp;</div>
Hiện nay, các tỉnh phía Bắc đã bước vào gieo cấy lúa vụ mùa. Từ nay đến đầu tháng 8 là thời điểm gây hại mạnh của ốc bươu vàng, làm ảnh hưởng đến một số diện tích lúa mới cấy, khiến người dân phải cấy dặm, cấy lại, ảnh hưởng đến khung thời vụ gieo cấy lúa mùa nếu không có biện pháp phòng trừ hiệu quả.
Cây lúa giai đoạn mạ non là thức ăn ưa thích của ốc bươu vàng. Chúng cắn đứt gốc cây mạ hay lúa non rồi nhai thân hoặc lá non, làm trụi cả đám mạ.
 
Ốc càng lớn tác hại càng mạnh: loại ốc đường kính 1 cm không gây hại; loại bằng hạt ngô tác hại đã rõ, một con ốc một ngày ăn hết 5,26 - 9,33 dảnh lúa; khi ốc 4 -  5 cm (bằng quả bóng bàn) một ngày có thể ăn 11,96 - 14,33 dảnh lúa.
 
Nếu có thức ăn thích hợp hơn như bèo tấm, rong đuôi chó, bèo tổ ong thì sau khi cấy 15 ngày tác hại của ốc bươu vàng không đáng kể. Lúa cấy sau 30 ngày cũng ít bị ảnh hưởng bởi ốc bươu vàng.
 
Ốc bươu vàng vận động chậm chạp bằng cách bơi lờ đờ trong nước hoặc bò trên mặt đất ẩm. Chúng có khả năng tự nổi trên mặt nước hoặc tự chìm xuống rất nhanh. Việc lây lan mạnh ốc bươu vàng trong thời gian qua chính là do khâu kiểm dịch không chặt chẽ, tự con người mang đến các vùng đất mới và quan trọng hơn cả là lây lan theo dòng nước chảy, nhất là qua các đợt lũ.
 
Để hạn chế tối đa tác hại của ốc bươu vàng trong vụ mùa 2019, bà con cần thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp ốc bươu vàng như sau:
 
* Trước khi cấy:
 
 - Làm đất kỹ, tập trung, cày bừa san đều ruộng, tránh lồi lõm, trũng nước.
 
- Dùng phên, lưới có mắt nhỏ chắn những nơi lấy nước để ngăn chặn sự di chuyển của ốc bươu vàng, đồng thời dễ dàng thu bắt.
 
- Sau khi bừa lần cuối, để lắng bùn 1-2 ngày trước khi cấy, bắt ốc và ổ trứng vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát.
 
- Những ao, hồ đầm có thể thả thêm cá chép, cá trắm đen bởi ốc con là thức ăn ưa thích của chúng.
 
* Sau khi cấy:
 
- Sau khi bừa lần cuối, nhặt ốc bằng tay vào buổi sáng hoặc buổi chiều.
 
- Sử dụng các loại lá cây mà ốc bươu vàng ưa thích như lá chuối, lá đu đủ, xơ mít, để tập trung ốc bươu vàng, giúp dễ bắt và diệt.
 
- Khi bừa lần cuối, kéo bao tải đựng đá hoặc vật nặng để tạo rãnh xung quanh ruộng, cứ 10 - 15 m tạo một rãnh sâu 5 cm và rộng 25 cm. Đây là nơi tập trung ốc bươu vàng để dễ xử lý.
 
- Cắm cọc nhử ốc bươu vàng đẻ trứng và tiến hành thu gom ổ trứng thường xuyên tại các cọc cắm, trên bờ cỏ và trên thân cây lúa, nhằm hạn chế lượng ốc nở ra gây hại lúa.
 
- Thời kỳ lúa đẻ nhánh có thể thả vịt vào ruộng để bắt ốc.
 
- Những nơi ốc bươu vàng sống tập trung, nếu chủ động nước có thể sử dụng 1 trong số các loại thuốc trừ ốc bươu vàng như: Bosago 12AB; Apple 700WP; Awar 700WP; Dioto 250EC; Pazol 700WP, Viniclo 70WP, Clodansuper 250WP, 500WP, 700WP; Soliti 15WP; Anhead 6GR, 12GR, Honeycin 6GR; Milax 100GR…
 
Trên những chân ruộng đầu nguồn nước có nuôi thủy sản không nên sử dụng các loại thuốc có tính độc cao đối với động vật thủy sinh.
 
- Đối với những ruộng mới cấy hay ruộng lúa đang đẻ nhánh bị ốc bươu vàng gây hại mất khoảng nên giữ mực nước thấp, đắp bờ xung quanh để hạn chế sự di chuyển và phát tán gây hại của ốc bươu vàng; đồng thời cần cấy dặm bổ sung ngay, kết hợp tăng cường chăm sóc, bón phân để thúc đẩy cây lúa đẻ nhánh mạnh./.
 
Theo Khuyennongvn.gov.vn

NGƯỜI 'GIỮ HỒN' LÚA BATON

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Những người Bh&rsquo;noong sống trong khu t&aacute;i định cư Pl&acirc;y Kdhủh (thuộc th&ocirc;n 4, x&atilde; Phước Đức, Phước Sơn, Quảng Nam) coi &ocirc;ng Nguyễn Văn B&eacute; l&agrave; người đi đầu trong c&ocirc;ng t&aacute;c d&acirc;n vận, khuyến kh&iacute;ch b&agrave; con thực hiện tốt việc giữ g&igrave;n văn h&oacute;a truyền thống của đồng b&agrave;o m&igrave;nh.</div> <div> &nbsp;</div>
Những người Bh’noong sống trong khu tái định cư Plây Kdhủh (thuộc thôn 4, xã Phước Đức, Phước Sơn, Quảng Nam) coi ông Nguyễn Văn Bé là người đi đầu trong công tác dân vận, khuyến khích bà con thực hiện tốt việc giữ gìn văn hóa truyền thống của đồng bào mình.
Vị ân nhân của làng
Đón tiếp chúng tôi trong căn nhà gỗ ngập tràn hương lúa nằm nép dưới chân núi Xuân Mãi, thoạt đầu, ông Bé có vẻ khá dè dặt và xen chút ngại ngùng. Ấy vậy mà chỉ sau vài câu hỏi han thân tình, ông đã nhanh chóng cởi mở tiếp chuyện như gặp lại bạn cũ lâu năm.
Kể về những nỗ lực làm kinh tế trong suốt nhiều năm qua, ông Bé hài hước nói, không thể nhớ nổi chính xác đã trồng được bao nhiêu diện tích keo trong rừng. Bởi cứ có đất trống là lại trồng, một phần đất để dành trồng lúa Baton, phần còn lại trồng keo lai, kết hợp làm trang trại chăn nuôi.
 
Tính đến nay, chỉ riêng đàn trâu bò đã có đến 30 con lớn nhỏ. Miệt mài làm lụng bao nhiêu năm, ông bảo, làm nhiều vậy cũng chỉ mong sao đủ để lo cho con cháu ăn học, chứ chẳng mong sẽ dư giả cho bản thân. Bởi lẽ, tâm nguyện lớn nhất của ông là con cháu mình được ăn học đến nơi đến chốn, dùng tri thức để thoát khỏi cái nghèo của miền núi.
 
Ngồi kế bên, vợ ông - bà Hồ Thị Nhung vui vẻ tiếp lời, ngày trước, cuộc sống còn nhiều khó khăn, việc học hành của con em miền núi còn chưa được người đồng bào coi trọng, bởi cái ăn cái mặc còn không đủ, tâm trí nào nghĩ đến chuyện học hành của con cháu. Vậy mà, nhìn những đứa trẻ trong làng đã nghèo lại không được đến trường học con chữ, ông Bé không đành lòng.
 
Từ đó, ông Bé đã mạnh dạn khai khẩn đất trồng rừng để phát triển kinh tế, lấy đó làm điều kiện cho con cái mình có thể đến trường học lại cái chữ. Những nỗ lực của ông cuối cùng cũng được đền đáp xứng đáng khi cây rừng nhờ bàn tay cần cù chăm sóc cứ thế phát triển xanh tốt, đem lại cho gia đình một nguồn thu đáng kể.
 
Sự tận tâm một lòng muốn gìn giữ và bảo tồn giống lúa truyền thống của ông Bé thể hiện qua việc ông sẵn sàng dành ra một phần ba diện tích căn nhà chỉ để dành làm kho lúa Baton, và cả cách mà ông nâng niu từng hạt lúa, như một thứ quý hiếm mà ông không bao giờ muốn mất đi...
Làm được cho mình, ông lại tiếp tục giúp đỡ, hỗ trợ cho bà con trong vùng cùng thoái khỏi cái nghèo, rồi động viên, khuyến khích, vận động mọi người cho con cái được đến trường học chữ.
 
Để có được lòng tin của dân làng, ông luôn làm gương bằng cách khuyến khích con cái mình học tập, hỗ trợ hết khả năng để con cái có thể đến trường.
 
“Hồi đó, con đường từ làng đến trường học phải lội qua nhiều đoạn suối. Nguy hiểm và vất vả vô cùng, thế mà đều đặn quanh năm suốt tháng, ngày nào ông ấy cũng cõng mấy đứa con đến lớp, không để con phải mất một buổi học nào”, bà Nhung kể thêm.
 
Ông Bé tự hào kể, những đứa con của ông đều cố gắng, chăm chỉ học hành, có người bây giờ đã trở thành giáo viên, mang kiến thức về truyền dạy cho con em đồng bào quê hương miền núi. Đó là điều khiến ông hết sức phấn khởi và hạnh phúc.
 
Những câu chuyện của ông Bé, cứ thế được kể ra bằng giọng điệu tự nhiên nhất, chân thành nhất, như cái cách mà ông vẫn thường làm, đó là dùng tấm chân tình để giúp đỡ, hướng dẫn bà con trong việc nỗ lực thoát nghèo, cải thiện kinh tế đời sống. Có lẽ vì vậy, mà người dân tại Plây Kdhủh luôn xem ông Bé là “ân nhân” và dành cho ông sự yêu mến đặc biệt.  
 
Một đời tâm huyết với Baton
Gác lại câu chuyện làm kinh tế thoát nghèo, ông Bé bắt đầu kể về những trăn trở của mình trong việc bảo tồn giống lúa Baton - một loại giống quý hiếm còn sót lại của đồng bào Bh’noong. “Chừ mà tìm giống chuẩn lúa Baton không còn nhiều đâu. Chỉ một số vùng còn giữ, nhưng cũng hiếm lắm rồi”, ông Bé trầm ngâm.
 
Căn nhà gỗ nằm dưới chân núi Xuân Mãi của ông Bé lúc nào cũng thoang thoảng mùi thơm đặc trưng của lúa Baton, giống lúa mà ông đã dành tất cả tâm huyết để bảo tồn và gìn giữ.
Theo lời ông Bé, giống lúa Baton là nguyên liệu chính để làm ra những cặp bánh truyền thống trong các lễ hội tết mùa. Nếu không được gìn giữ, việc thực hiện nghi thức cúng tết mùa cũng khó có thể diễn ra, giá trị văn hóa vốn có mà tổ tiên để lại coi như bị thất truyền. Chỉ nghĩ đến đó thôi, ông Bé đã thoáng rùng mình, không dám tưởng tượng tiếp nữa.
 
Ông tâm sự, ông và nhiều già làng Bh’noong khác đều có chung một nỗi lo sợ, đó là những cái hiện đại sẽ làm mai một đi những giá trị truyền thống, dần dần sẽ không giữ được nét văn hóa riêng của vùng núi nữa. Cũng như việc giống lúa truyền thống của đồng bào Bh’noong đang ngày càng khan hiếm và đứng trước nguy cơ mất giống.
 
Xuất phát từ sự lo lắng đó, ông quyết tâm vận động đồng bào Bh’noong bằng mọi cách phải giữ gìn và bảo tồn giống lúa truyền thống này.
 
“Mấy năm trời, tôi tìm kiếm khắp nơi, chỉ để khôi phục lại giống lúa này. Quý lắm. Bên phòng nông nghiệp huyện họ biết chuyện nên đặt hàng nhờ tôi hỗ trợ nguồn giống để thực hiện dự án bảo tồn”, ông Bé vui mừng chia sẻ.
 
Nói rồi, ông kéo chúng tôi xuống căn nhà bếp, nơi được ông treo đầy những giàn lúa giống theo hình tháp ngược trên giàn cao hơn mặt đất chừng quá đầu người.
 
Theo lời giải thích của ông Bé, treo trên giàn bếp là phương thức lưu truyền lâu đời mà người Bh’noong dùng trong việc chọn giống lúa chuẩn để gieo trồng, bởi hơi khói từ bếp sẽ giúp hạt lúa thêm chắc mẩy, chống mối mọt rất tốt.
 
Tuy nhiên, để tìm ra giống lúa chuẩn đòi hỏi người chọn giống phải có kỹ năng, kinh nghiệm và phải thật sự am hiểu về khả năng phát triển của giống lúa rẫy, điều này không phải ai cũng có thể làm được
 
Ông Bé chỉ tay về phía những giàn lúa giống, hồ hởi nói, đây đều là giống lúa baton chuẩn, không lai tạp, được ông dày công tìm kiếm và bảo quản. Vừa nói, ông vừa mở bao lúa và giải thích cho chúng tôi về cách phân biệt giữa lúa Baton giống với Baton thường.
 
“Đây, những hạt lúa này nếu so với những hạt giống trên giàn bếp sẽ rất khó nhìn thấy được sự khác biệt, bởi hầu hết na ná giống nhau. Nhưng, nếu quan sát kỹ, ngoài kích thước nhỏ hơn, phía hai đầu hạt lúa này có thêm những sợi tua giống rễ, tạo nên điểm khác biệt thường thấy”, ông Bé nói.
 
Ông Nguyễn Văn Mé, Bí thư Đảng ủy xã Phước Đức chia sẻ, gạo Baton là một trong những nguyên liệu chính để làm ra thứ bánh sừng trâu đặc trưng, không thể thiếu của đồng bào Bh’noong trong ngày tết mùa truyền thống.
 
Chính nhờ có lúa Baton mà người Bh’noong mới giữ được lễ hội tết mùa như bây giờ. Nếu không có loại lúa truyền thống này, thì lễ hội tết mùa không còn nét đặc trưng riêng nữa. Chính vì vậy, việc làm của ông Nguyễn Văn Bé rất có ý nghĩa trong việc bảo tồn và lưu giữ giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Bh’noong.
 
Theo Nongnghiep.vn

CỰU CHIẾN BINH THÀNH CÔNG VỚI SẢN PHẨM “GẠO LỨT HUYẾT RỒNG VÀ BỘT GẠO HUYẾT RỒNG”

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Ch&iacute;nh trị về đẩy mạnh học tập v&agrave; l&agrave;m theo tư tưởng, đạo đức, phong c&aacute;ch Hồ Ch&iacute; Minh, c&aacute;c hội vi&ecirc;n Hội Cựu chiến binh huyện Tam N&ocirc;ng đ&atilde; ph&aacute;t huy truyền thống &ldquo;Bộ đội Cụ Hồ&rdquo; bắt tay v&agrave;o lao động sản xuất để ph&aacute;t triển kinh tế gia đ&igrave;nh, ổn định cuộc sống. Nổi bật l&agrave; m&ocirc; h&igrave;nh sản xuất th&agrave;nh c&ocirc;ng sản phẩm gạo lứt Huyết rồng v&agrave; bột gạo Huyết rồng của &ocirc;ng L&ecirc; Văn Đấu (sinh năm 1947) ở ấp Long An A, x&atilde; Ph&uacute; Th&agrave;nh A.</div> <div> &nbsp;</div>
Thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các hội viên Hội Cựu chiến binh huyện Tam Nông đã phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” bắt tay vào lao động sản xuất để phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống. Nổi bật là mô hình sản xuất thành công sản phẩm gạo lứt Huyết rồng và bột gạo Huyết rồng của ông Lê Văn Đấu (sinh năm 1947) ở ấp Long An A, xã Phú Thành A.
Sau khi cấy thử nghiệm thành công giống lúa huyết rồng trên 700m2 đất ruộng nhà và nấu cơm ăn thử thấy thơm, ngon, ngọt tự nhiên…, cựu chiến binh Lê Văn Đấu quyết định dành 13.000m2 đất canh tác giống lúa huyết rồng để làm vùng nguyên liệu chế biến thành sản phẩm “Gạo lứt Huyết rồng nguyên hạt” và “Bột gạo Huyết rồng”.
 
Cựu binh Lê Văn Đấu cho biết: “Qua chương trình y học, được biết gạo lứt giúp trị bệnh tiểu đường, ổn định tiểu đường nên tôi dự định làm thử. May mắn đúng lúc đó tôi được người bạn cho mấy ký giống gọi là Huyết rồng. Tôi cấy thử trên 700 mét vuông. Sau khi ăn tôi thấy đường huyết của mình tương đối ổn định nên tôi quyết định nhân giống. Với suy nghĩ là làm sao cho lợi nhuận tăng cao hơn nên tôi quyết định chế biến ra bột gạo lứt huyết rồng. Sau khi đưa sản phẩm ra thị trường thì thấy thị trường chấp nhận”.
 
Lúa Huyết rồng sau thu hoạch được kiểm tra chất lượng, đảm bảo an toàn, không còn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật mới được cựu chiến binh Lê Văn Đấu đưa vào nhà máy xay xát và chế biến ra gạo lứt Huyết rồng và bột gạo Huyết rồng thành phẩm. Lúc đầu, ông Đấu chỉ làm để ăn trong gia đình và bán lẻ cho bà con chòm xóm ăn thử… Được nhiều người tiêu dùng khen ngon nên cuối năm 2017, ông Đấu mạnh dạn sản xuất sản phẩm và đăng ký thương hiệu độc quyền mang tên “Gạo lứt huyết rồng Năm Đấu” và “Bột gạo huyết rồng Năm Đấu”. Sản phẩm làm ra được đóng gói mỗi loại 500gram và dán nhãn đẹp mắt... Giá bán cũng phù hợp (30.000 đồng/gói) nên được người tiêu dùng ưa chuộng và mua nhiều.
Từ hai sản phẩm này, mỗi tháng ông Đấu đạt doanh thu từ 100 - 150 triệu đồng, tạo việc làm ổn định cho 6 lao động tại địa phương, với mức thu nhập bình quân 5 triệu đồng/tháng. Đặc biệt, sản phẩm độc đáo nêu trên của ông Đấu sản xuất ra không kịp cung ứng cho người tiêu dùng. Ông Đấu đang tiếp tục đầu tư vốn mở thêm nhà xưởng, trang bị thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại để mở rộng quy mô sản xuất, đáp ứng đủ sản phẩm cho người tiêu dùng.
 
Không chỉ sản xuất thành công từ sản phẩm “Gạo lứt huyết rồng” và “Bột gạo huyết rồng”, cựu chiến binh Lê Văn Đấu còn tự canh tác các loại đậu trên diện tích đất nhà để chế biến và bán các sản phẩm từ tài nguyên bản địa mang thương hiệu Năm Đấu như: Bột đậu đen lòng xanh và Bột của năm loại đậu… đang được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng.
 
Với những thành công của mình, ông Lê Văn Đấu đã vinh dự được Chủ tịch UBND huyện Tam Nông (Đồng Tháp) trao tặng Giấy khen Danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở tại hội nghị vinh danh các nông dân tiêu biểu năm 2018 đầu tiên của huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp
 
Khuyennongvn.gov.vn

'DÌ HAI' PHÁ VÒNG CƯƠNG TỎA

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Kh&ocirc;ng nằm trong cơ cấu l&agrave; v&ograve;ng cương tỏa lớn đối với sự ph&aacute;t triển của một giống l&uacute;a bởi tốc độ của n&oacute; c&oacute; thể sẽ bị hạn chế đi rất nhiều. Vậy &ldquo;d&igrave; hai&rdquo; (tức giống l&uacute;a gốc Nhật J02) đ&atilde; ph&aacute; v&ograve;ng cương tỏa ấy như thế n&agrave;o v&agrave; được người n&ocirc;ng d&acirc;n đ&oacute;n nhận ra sao? C&acirc;u chuyện ghi nhận ở Thanh L&atilde;ng (B&igrave;nh Xuy&ecirc;n, Vĩnh Ph&uacute;c).</div> <div> &nbsp;</div>
Không nằm trong cơ cấu là vòng cương tỏa lớn đối với sự phát triển của một giống lúa bởi tốc độ của nó có thể sẽ bị hạn chế đi rất nhiều. Vậy “dì hai” (tức giống lúa gốc Nhật J02) đã phá vòng cương tỏa ấy như thế nào và được người nông dân đón nhận ra sao? Câu chuyện ghi nhận ở Thanh Lãng (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc).
Anh Nguyễn Huy Lực, Chủ tịch Hội Nông dân thị trấn Thanh Lãng thống kê cho tôi hay, địa phương có 420ha lúa 2 vụ, 180ha lúa 1 vụ mỗi năm cấy dăm bảy giống lúa chính trong đó gồm cả chất lượng và phổ thông như Khang Dân 18. Với Khang Dân 18, giống lúa nhập nội có tuổi đời trên dưới 20 năm thì người dân nơi đây chỉ gặt, phơi se rồi bán luôn trên đồng cho cánh hàng xáo về chế biến mì sợi, bún hay nấu rượu. Với các giống chất lượng thì họ phơi kỹ, cất trữ để dùng dần hay bán nếu thừa.
 
Cách đây mấy năm, địa phương mời 11 chi hội trưởng chi hội nông dân trong thôn đi thăm mô hình J02 (giống lúa gốc Nhật do Cty cổ phần Giống - vật tư nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam sản xuất) ở xã bên Tân Phong, thấy năng suất rất tốt dù chất đất bên đó xấu hơn. Mỗi đại biểu còn được tặng 1kg gạo để dùng thử. Người có nồi cơm điện tốt, nấu vừa nước thì khen ngon, khen đậm, người có nồi cơm điện kém, nấu thừa nước thì lại chưa ưng. Tuy nhiên vụ xuân 2017 thị trấn vẫn quyết định cấy thử 5ha.
 
J02 - giống lúa chất lượng nhưng năng suất lại đứng đầu bảng ở Thanh Lãng, trung bình 2,6 - 2,8 tạ/sào. Vì chất lượng tốt, tỷ lệ thành gạo đạt 70 - 72% nên giá bán thóc đạt 1 triệu/1 tạ, giá bán gạo đạt 15.000đ/kg.
 
Phấn khởi trước kết quả đó nên vụ xuân năm 2018 Thanh Lãng mở rộng quy mô cấy J02 lên 80ha, đạt năng suất trung bình 2,8 tạ/sào. Dù có một số cán bộ kỹ thuật cấp trên còn ngập ngừng khuyên không nên cấy lúa Nhật trong vụ mùa bởi nghĩ nó chỉ ưa lạnh chứ không chịu được nóng nhưng vụ mùa 2018 Thanh Lãng vẫn cho cấy thử ở 5ha. Đợt gặt điểm vừa qua J02 đã đạt năng suất trên 2 tạ/sào trong khi các giống khác chỉ trung bình 1,5 tạ/sào khiến cho một hai hộ đầu vụ đã từng gieo mạ xong rồi bỏ không cấy lại đâm ra tiếc.
 
Bí thư Đảng ủy thị trấn Thanh Lãng, ông Lưu Văn Trọng tâm tư: Khó khăn của một giống lúa khi không đưa vào cơ cấu là không có hướng dẫn, lịch cấy, khuyến cáo của trên mà bên dưới phải tự chỉ đạo, tự chịu trách nhiệm. Đạt kết quả tốt thì không sao, ngược lại thì trách nhiệm rất nặng nề. Bởi thế mà địa phương phải làm từng bước rất thận trọng.
 
“Chúng tôi rất muốn giống lúa Nhật này được đưa vào cơ cấu chương trình lúa chất lượng cao không hẳn vì được hỗ trợ giá giống mà vì muốn thống nhất sự chỉ đạo, lịch khung thời vụ từ cấp tỉnh, cấp huyện xuống cấp xã, thị trấn để cán bộ cũng như nông dân thêm yên tâm mở rộng”.
 
Bà Đỗ Thị Sáu, Chi hội nông dân tổ dân phố Hồng Bàng bảo J02 có đặc điểm mạ phát triển chậm hơn lúa khác nhưng sau đó lớn rất nhanh. Về cách thức chăm sóc, bà khuyên nên bón lót mỗi sào 2 xe bò phân chuồng, khi lúa bén rễ hồi xanh bón thúc đợt 1 bằng 10kg lân Lâm Thao cộng với 8kg NPK Lâm Thao, đợt 2 khi lúa phân hóa đòng bón nốt 7kg NPK Lâm Thao, 3kg kali và 1kg đạm.
 
"Lúc lúa gặt về thôn xóm xôn xao. Hộ không cấy J02 thì bảo không có gì địch nổi chất lượng gạo của lúa nhà tôi, còn hộ cấy J02 thì bảo chẳng gì bằng gạo của lúa Nhật: Trước đây dân quen trộn gạo Khang Dân 18 cùng gạo Hương Thơm số 1 để khi ăn cơm dở khô, dở dẻo nhưng từ hồi có J02 thì không cần phải làm thế”, bà Sáu nói.
 
Vợ chồng anh Nguyễn Bá Đào - Nguyễn Thị Nhung cấy 7 sào lúa J02, gặt xong về dùng thử. Bình thường mỗi bữa chưa bao giờ họ ăn nổi 2 bát cơm nhưng bữa đó ăn liền 3 - 4 bát. Hay như anh Nguyễn Bá Trung - chồng chị Nguyễn Thị Hồng vốn thể tạng khiêm tốn nên ít khi ăn quá 1 bát từ hồi cấy J02 ăn được tới 2 bát. Vụ xuân chưa tới mà anh cứ giục vợ đăng ký nhanh kẻo mà hết giống.
 
Bà Nguyễn Thị Phòng, Chi hội trưởng Chi hội nông dân tổ dân phố Độc Lập bổ sung thêm: “Nấu gạo Nhật cứ phải có nồi cơm tốt. Tổ dân phố chúng tôi nhiều nhà sắm toàn nồi cơm điện Cuckoo loại từ 2,5 triệu trở lên để có hơi nhiều giúp cho cơm thêm thơm dẻo, dai, ngọt”.
 
Bà Phòng cấy 3 sào lúa, phần ít để gia đình dùng còn phần nhiều để biếu con cháu, họ hàng ngoài thành phố. “Không có quà gì quý bằng cân gạo quê ngon. Nhiều người ăn quen cứ nhờ tôi đong hộ, mệt quá tôi mới cho họ luôn số điện thoại của đại lý xay xát”, bà Phòng bảo.
 
"Khi phơi lúa Nhật cũng không nên phơi 1 lần dưới nắng gắt trên nền bê tông cho xong mà phải phơi dày 1 nắng rồi cất 2 - 3 ngày cho thóc nghỉ lại đem ra phơi tiếp để có được hạt gạo rộng, sáng trong, không bị nát. Khi xay xát nên nhẹ nhàng để giữ lại dưỡng chất bên trong", bà Nguyễn Thị Phòng.
Theo nongnghiep.vn

CƠ GIỚI HÓA ĐỒNG BỘ YẾU NHẤT KHÂU NÀO?

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Trong xu thế của x&atilde; hội hiện đại, lao động đang bị r&uacute;t ra khỏi n&ocirc;ng th&ocirc;n mỗi l&uacute;c một nhiều th&igrave; việc ứng dụng m&ocirc; h&igrave;nh cơ giới h&oacute;a đồng bộ hứa hẹn sẽ gi&uacute;p tăng năng suất lao động, giảm chi ph&iacute; sản xuất v&agrave; tr&ecirc;n hết l&agrave; k&eacute;o n&ocirc;ng d&acirc;n về với ruộng đồng, tr&aacute;nh bỏ hoang đất đai&hellip;</div> <div> &nbsp;</div>
Trong xu thế của xã hội hiện đại, lao động đang bị rút ra khỏi nông thôn mỗi lúc một nhiều thì việc ứng dụng mô hình cơ giới hóa đồng bộ hứa hẹn sẽ giúp tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và trên hết là kéo nông dân về với ruộng đồng, tránh bỏ hoang đất đai…
Tuy nhiên, cơ giới hóa ở Hà Nội mới chỉ áp dụng chủ yếu trên cây lúa và cũng chưa thực sự đồng bộ bởi mới chỉ tập trung chủ yếu vào khâu làm đất, khâu thu hoạch mà vẫn đang rất yếu ở khâu mạ khay, cấy máy. Khác với khâu làm đất, khâu thu hoạch bỏ tiền đầu tư máy móc là dễ dàng có thể làm dịch vụ để hoàn vốn, kiếm lời còn khâu mạ khay, cấy máy ngoài đầu tư máy móc còn phải cần có nhà xưởng sản xuất, cần kỹ thuật viên đủ chuẩn trong nhiều công đoạn.
 
Thực tế, hàng năm Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đều xây dựng các mô hình hỗ trợ 50% kinh phí mua máy nông nghiệp (không quá 75 triệu đồng/máy). Song song với đó, nhờ vào “đặc sản” là nguồn vốn quỹ khuyến nông thành phố hỗ trợ, đơn vị cũng tổ chức cho vay cơ giới hóa với mức tối đa 100% giá trị sản phẩm và hỗ trợ 100% phí quản lý trong 3 năm cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố.
 
Ngoài ra, Trung tâm còn phối hợp với các doanh nghiệp cung cấp máy móc để có nguồn hàng tốt, có chính sách hỗ trợ và chăm sóc tốt cho nông dân khi mua sắm. Nhờ vậy, đơn vị đã tổ chức thẩm định 27 phương án vay vốn cơ giới hóa, đã giải ngân cho 23 phương án vay với tổng số tiền 8,15 tỷ đồng.
 
Từ đầu năm 2018 tới nay Trung tâm đã triển khai nhiều dạng mô hình cơ giới hóa như 3 máy gặt đập liên hợp, 3 dây chuyền gieo mạ khay tự động, 7 máy cấy lúa, 36 máy làm đất đa năng dưới 10 mã lực...
 
Dồn điền đổi thửa thành công giúp Hà Nội hình thành nhiều vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, là tiền đề để cho cơ giới hóa đồng bộ. Tuy nhiên điều cần thiết ngay lúc này là nghiên cứu ra những cơ chế, chính sách đặc thù để làm sao thúc đẩy khâu khó nhất của nó: mạ khay, máy cấy thì mới mong khép kín lại một chu trình đầy đủ của cơ giới đồng bộ SX lúa.
 
Theo nongnghiep.vn