Cây công nghiệp

KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG BẰNG HOM BẠCH ĐÀN LAI URO VÀ PELLITA

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Bạch đ&agrave;n Uro (E. urophylla) nguy&ecirc;n sản từ Indonesia, l&agrave; lo&agrave;i c&oacute; sinh trưởng nhanh, th&iacute;ch nghi tốt với điều kiện lập địa ở miền Bắc, miền Trung v&agrave; khu vực T&acirc;y Nguy&ecirc;n, th&iacute;ch hợp cho trồng rừng kinh doanh gỗ nguy&ecirc;n liệu giấy, v&aacute;n dăm. Bạch đ&agrave;n Uro cũng l&agrave; lo&agrave;i c&oacute; thể lai giống với c&aacute;c lo&agrave;i bạch đ&agrave;n kh&aacute;c như bạch đ&agrave;n Grandis (E. grandis), bạch đ&agrave;n Caman (E. camaldulensis) tạo ra giống lai c&oacute; ưu thế lai rất lớn.</div> <div> &nbsp;</div>
Bạch đàn Uro (E. urophylla) nguyên sản từ Indonesia, là loài có sinh trưởng nhanh, thích nghi tốt với điều kiện lập địa ở miền Bắc, miền Trung và khu vực Tây Nguyên, thích hợp cho trồng rừng kinh doanh gỗ nguyên liệu giấy, ván dăm. Bạch đàn Uro cũng là loài có thể lai giống với các loài bạch đàn khác như bạch đàn Grandis (E. grandis), bạch đàn Caman (E. camaldulensis) tạo ra giống lai có ưu thế lai rất lớn.
 
Bạch đàn Pellita  phân bố ở phía Bắc Australia và Papua New Guinea là loài có sinh trưởng nhanh, dạng thân đẹp, có khả năng chịu hạn và sâu bệnh tốt, tính chất gỗ rất phù hợp cho đóng đồ mộc cao cấp. Bạch đàn Pellita rất phù hợp cho trồng rừng ở các tỉnh miền Nam và miền Trung, ở độ cao dưới 800m và có khí hậu ấm quanh năm.
 
Trong giai đoạn 2006-2010, dựa trên các kết quả nghiên cứu chọn giống riêng rẽ cho 2 loài, Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng đã tiến hành nghiên cứu lai giống giữa bạch đàn Uro với bạch đàn Pellita. Kết quả đã tạo ra hàng chục tổ hợp lai giữa bạch đàn Uro với bạch đàn Pellita. Các tổ hợp lai này có sinh trưởng vưọt trội từ 20 đến 50% so với các giống bố mẹ cũng như các giống đối chứng U6, PN14 trên các lập địa ở Ba Vì (Hà Nội), Nam Đàn (Nghệ An), Đông Hà (Quảng Trị) và Bầu Bàng (Bình Dương).
 
Từ kết quả khảo nghiệm các tổ hợp lai, Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học lâm nghiệp đã tiến hành chọn lọc các cá thể lai tốt nhất trong các khảo nghiệm giống lai và khảo nghiệm dòng vô tính nhằm chọn lọc ra những dòng vô tính có sinh trưởng tốt nhất cho trồng rừng.
 

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY TRÁM ĐEN

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> C&acirc;y tr&aacute;m đen c&oacute; t&ecirc;n kh&aacute;c: B&ugrave;i, Co m&aacute;c b&acirc;y (T&agrave;y, N&ugrave;ng). T&ecirc;n khoa học: Canarium tramdenum Dai &amp; Yakovl. Họ: Tr&aacute;m (Burseraceae). Tr&aacute;m đen l&agrave; c&acirc;y gỗ lớn, cao trung b&igrave;nh từ 25 - 30 m, đường k&iacute;nh ngang ngực c&oacute; thể tới 90cm hoặc hơn.</div> <div> &nbsp;</div>
Quả và lá trám đen
 
Cây trám đen có tên khác: Bùi, Co mác bây (Tày, Nùng). Tên khoa học: Canarium tramdenum Dai & Yakovl. Họ: Trám (Burseraceae). Trám đen là cây gỗ lớn, cao trung bình từ 25 - 30 m, đường kính ngang ngực có thể tới 90cm hoặc hơn.
 
 
 
Thân thẳng, gốc hơi có múi, phân cành khá cao khi mọc trong rừng tự nhiên, nếu mọc ngoài bìa rừng hoặc nơi trống phân cành khá sớm. Quả khi non có màu xanh nhạt, khi chín có màu tím đen, thịt màu hồng thẫm, mỗi quả có một hạt.
 
 
 
Ở nước ta, trám đen thường mọc tự nhiên rải rác trong các khu rừng nhiệt đới, lá rộng thường xanh, từ các tỉnh vùng núi phía Bắc đến miền Trung và Tây Nguyên. Hiện nay trám đen đã được gây trồng khá rộng rãi ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ, kể cả vùng trung du và miền núi, nhất là trồng phân tán trong các vườn rừng, vườn hộ quanh nhà hay quanh vườn để lấy quả.
 
1.     Kỹ thuật trồng
 
a.     Chọn đất và nơi trồng:
 
Trám đen có thể trồng được ở những nơi có độ cao trung bình dưới 800m so với mực nước biển, thích hợp nhất là dưới 400 m. Có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng tầng dày (độ sâu tầng đất > 80 cm), giàu mùn, ẩm thường xuyên, thoát nước. Thích hợp nhất là các loại đất sét hoặc sét pha, đất dốc tụ hoặc đất bồi tụ, đất phù sa ven sông… không nên trồng trên đỉnh đồi, độ dốc không quá 30 độ.
 
b.     Thời vụ trồng:
 
Thời vụ trồng trám đen ở các tỉnh vùng núi phía Bắc thích hợp nhất là vụ xuân – hè (từ tháng 2 – 4) hoặc vụ hè – thu (từ tháng 6 – 8), các tỉnh miền Trung thường trồng vào vụ thu thu – đông ( từ tháng 8 – 12), các tỉnh Tây Nguyên và Nam bộ trồng vào vụ hè – thu (từ tháng 6 – 9), khi đất đủ ẩm và có mưa thường xuyên, chọn những ngày râm mát hoặc mưa nhỏ để trồng.
 
c.      Phương thức và mật độ trồng:
 
Theo kết quả của một số công trình nghiên cứu gần đây cho thấy có thể trồng trám đen theo 3 phương thức chính sau:
 
- Trồng tập trung thuần loài:
 
Đây là phương thức trồng đã áp dụng ở một số địa phương như Hòa Bình, Bắc Giang và Thanh Hóa, có thể trồng thuần loài trên đất trống có cây phù trợ hoặc không có cây phù trợ. Mật độ trồng là 1.600 cây/ha (3 x 2m). Cây giống áp dụng cho phương thức này có thể là cây gieo từ hạt hoặc cây ghép.
 
- Trồng rừng hỗn loài:
 
Đây là phương thức trồng phổ biến ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc, có thể trồng trám đen hỗn loài với các loài cây lá rộng bản địa khác như lim xanh, trám trắng, chẹo, gội nếp, gội trắng… hoặc hỗn loài với các loài cây khác thường lá 1.600 cây/ha (3 x 2 m), tỷ lệ giữa các loài khác với trám đen là như nhau. Ngoài ra, có thể trồng trám đen hỗn loài trong rừng thứ sinh nghèo kiệt, hoặc trảng cây bụi dày sau nương rẫy; mật độ trồng thường là 500 cây/ha (5 x 4 m). Cây giống áp dụng cho phương thức này thường là cây con gieo từ hạt.
 
- Trồng cây phân tán hay nông lâm kết hợp:
 
Đây là phương thức trồng phổ biến ở các tỉnh Trung du vùng núi phía Bắc và Bắc Trung bộ, nhất là trong các chương trình khuyến lâm của Bộ Nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2001 - 2012. Mỗi gia đình có thể trồng một vài chục cây, nhiều nhất không quá 100 cây trên nương rẫy theo phương thức nông lâm kết hợp, hay trồng xen với cây ăn quả trong các vườn hộ hay rừng. Cây con sử dụng để trồng phân tán trước đây đều trồng bằng cây con gieo từ hạt, nhưng trong khoảng những năm gần đây chủ yếu trồng bằng cây ghép. Mật độ trồng cây ghép thường là 500 cây/ha (5 x 4 m).
 
c.      Xử lý thực bì
 
Đối với phương thức trồng phân tán trong các vườn hộ, vườn rừng hay xung quanh nhà thường thực bì rất ít hoặc không có, nên chỉ cần xử lý cục bộ xung quanh vị trí cuốc hố. Đối với các trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt, hoặc trảng cây bụi thực bì khá dày nên cần xử lý theo băng (rạch) chạy song song với đường đồng mức, băng (rạch), chặt rộng 2m, băng chừa rộng 3m, chặt toàn bộ cây bụi thảm tươi trên băng (rạch), chỉ chừa lại những cây gỗ từ 6cm trở lên và những cây tái sinh có giá trị kể cả cây gỗ và cây lâm sản ngoài gỗ. Công việc này phải thực hiện trước khi trồng rừng ít nhất 1 tháng.
 
d.     Làm đất
 
Làm đất theo phương thức cục bộ, dùng dụng cụ chuyên dùng đào hố thủ công, kích thước hố là: 40 x 40 x 40 cm hoặc 60 x 60 x 50 cm tùy theo đặc điểm ở từng nơi trồng rừng, nơi đất tốt, bón lót ít phân hữu cơ cuốc hố kích thước nhỏ; nơi đất xấu, nhiều sỏi đá cần bón nhiều phân hữu cơ thì cuốc hố lớn. Bón lót, nơi đất xấu bón từ 5 – 10 kg phân chuồng hoai (gồm các loại phân: gà, lơn, trâu, bò) kết hợp với 0,3 kg phân NPK (5:10:3)/hố. Nơi đất tốt cũng nên bón từ 2 – 3 kg phân chuồng hoai kết hợp với 0,3 kg NPK (5:10:3)/hố. Lấp đất xuống hố đến đâu đảo phân đều đến đó và lấp đầy miệng hố. Việc cuốc hố phải hoàn thành trước khi trồng ít nhất 1 tuần.
 
e.      Kỹ thuật trồng
 
Sử dụng cuốc hoặc thuổng đào một lỗ nhỏ ở giữa hố đã lấp đất, kích thước hố phải lớn hơn bầu đất của cây giống, xé vỏ bầu, đặt bầu cây ngay ngắn giữa hố và lấp đất, dùng tay ấn nhẹ xung quanh bầu sao cho không làm vỡ bầu đất, vun đất hình mai rùa xung quanh gốc và cao hơn mặt đất xung quanh từ 4 – 5 cm để tránh đọng nước mưa. Sau khi trồng 1 tháng cần kiểm tra để trồng dặm những cây chết hoặc trồng thay thế những cây có nguy cơ bị chết hoặc sinh trưởng kém bằng những cây con đủ tiêu chuẩn dự phòng ở vườn ươm.
 
2. Kỹ thuật chăm sóc
 
Chăm sóc 4 năm đầu kể từ khi trồng, mỗi năm có thể chăm sóc từ 2 - 3 lần tùy theo mức độ thực bì ở từng địa điểm cụ thể. Nội dung chăm sóc chủ yếu là cắt bỏ dây leo quấn lên thân cây trám, dãy cỏ và phát dọn cây bụi thảm tươi xung quanh gốc rộng từ 80 – 100 cm, cuốc xới và vun gốc cây rộng từ 60 – 80 cm, phát tỉa cành và điều chỉnh độ tàn che của tán rừng, hoặc tán cây khác sao cho phù hợp với nhu cầu ánh sáng của cây trám ở từng giai đoạn. Ngoài ra có thể bấm ngọn, tỉa cành nhánh để tạo tán cho từng cá thể, sao cho chúng sinh trưởng và phát triển cân đối, nhiều cành nhánh, tán rộng nhằm nâng cao năng suất quả và hạn chế phát triển chiều cao để dễ thu hoạch, nhất là với những cây ghép.
 
Văn Bằng

KỸ THUẬT TRỒNG THẢO QUẢ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb), t&ecirc;n kh&aacute;c: Đ&ograve; ho, Thảo đậu khấu, M&aacute;c hấu. Thuộc họ: Gừng - Zingiberaceae. Hạt thảo quả l&agrave; thuốc chữa đau bụng, đầy chướng, nấc, n&ocirc;n ọe, ti&ecirc;u chảy, sốt r&eacute;t, h&ocirc;i miệng, s&acirc;u răng... B&ecirc;n cạnh c&ocirc;ng dụng l&agrave;m thuốc, thảo quả c&ograve;n được d&ugrave;ng nhiều l&agrave;m gia vị.</div> <div> &nbsp;</div>
Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb), tên khác: Đò ho, Thảo đậu khấu, Mác hấu. Thuộc họ: Gừng - Zingiberaceae. Hạt thảo quả là thuốc chữa đau bụng, đầy chướng, nấc, nôn ọe, tiêu chảy, sốt rét, hôi miệng, sâu răng... Bên cạnh công dụng làm thuốc, thảo quả còn được dùng nhiều làm gia vị.
 
Cây thảo quả sống lâu năm, cao 2 - 3 m, thân rễ to, phân cành, mọc thành cụm. Cụm hoa dạng bông, mọc từ gốc thân, dài 15 - 20 cm. Đài dạng ống, tràng hoa màu vàng. Quả mọc thành chùm, hình trứng, màu đỏ tía. Hạt màu vàng nâu, có áo hạt, vị ngọt, mùi thơm hơi cay.
 
Thảo quả là cây đặc biệt ưa bóng, ưa ẩm nên chỉ có thể trồng được dưới tán rừng, ở độ cao 1.300 - 2.200 m, có khí hậu ẩm mát quanh năm, nhiệt độ trung bình năm 13 - 15,3 độ C, thường xuyên có sương mù, lượng mưa 3.500 - 3.800 mm/năm, độ ẩm không khí trung bình từ 90% đến bão hòa.
 
1. Nhân giống
 
- Nhân giống bằng hạt: Vào tháng 9, tháng 10 khi thu hoạch, chọn những chùm quả già, nhiều quả to, ở cây 5 tuổi trở lên. Bóc vỏ, đãi bỏ phần áo hạt và chỉ lấy hạt chìm. Vườn ươm được chọn kề bên nơi trồng thảo quả, dưới tán rừng, độ che phủ 60%, mặt đất bằng phẳng, đất được làm nhỏ, đánh luống cao.
 
Hạt giống thu được cần gieo ngay. Gieo hạt xong phải phủ cỏ khô. Hạt sẽ nảy mầm sau khi gieo 40 - 45 ngày. Chú ý, tỉa thưa để có cự ly 20 x 20cm/cây. Cây con thừa dặm sang luống khác. Cây thảo quả con ở vườn ươm sau 1 - 2 năm mới nhổ đi trồng.
 
 - Nhân giống bằng nhánh con: Tách một số nhánh non từ các khóm thảo quả trồng, cao khoảng 1m, ở gốc còn một đoạn thân rễ, cắt bỏ lá. Loại cây giống này không tốt bằng cây con gieo từ hạt.
 
- Thời vụ trồng: Từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau.
 
2. Kỹ thuật trồng
 
- Làm đất: Đất dưới tán rừng kín thường ẩm, độ cao 1.500 - 2.200 m, bề mặt tương đối bằng phẳng, hoặc có độ dốc dưới 15 độC. Chặt phá bỏ tất cả các loại cây ở tầng dưới tán. Ở tầng tán chỉ để lại một số cây gỗ, đủ tạo nên tàn che 0,4 - 0,6%. Bổ hố trồng cự ly 3 x 4m/cây. Thảo quả không cần trồng sâu nhưng cần giẫm chặt gốc. Đất rừng mới khai phá còn màu mỡ không cần bón phân.
 
- Chăm sóc: Thảo quả là cây trồng bán tự nhiên nên chăm sóc đơn giản, ngoại trừ việc chặt phá, làm vệ sinh rừng 2 lần/năm.
 
+ Lần thứ nhất trước mùa hoa (tháng 2 - 3);
 
+ Lần thứ hai sau khi thu hoạch quả, lần này cần chặt bỏ những cây thảo quả già.
 
Chú ý, khi vệ sinh rừng phải nhổ bỏ tất cả những cây xâm lấn xung quanh gốc thảo quả. Cây trồng sau 3 năm bắt đầu có hoa quả, càng về sau càng nhiều hơn. Năng suất cao nhất từ năm thứ 6 - 15, trung bình 0,2 - 0,3 tấn quả khô/ha/năm và cây trồng có thể thu hoạch trong vòng hơn 20 năm.
 
3. Thu hoạch, chế biến
 
Vào khoảng tháng 10 đến hết tháng 11, khi thảo quả già thì tiến hành thu hoạch. Dùng dao cắt cả chùm quả đem về phơi hoặc sấy. Hiện nay, hầu hết những rừng trồng thảo quả thường xa nơi ở của các đồng bào, đi lại khó khăn. Để giảm công chuyên chở, vào mùa thu hoạch đồng bào thường làm lều ở tạm và sấy thảo quả luôn trong rừng. Khi sấy nên để cả chùm nhằm tạo độ thông thoáng cho nhanh khô, dễ đảo khi sấy. Khi quả đã khô tách lấy từng quả (bỏ cuống chung), đóng bao vận chuyển về nhà.
 
Thảo quả khô cần để nơi khô ráo, tránh ẩm vì dễ mốc.
 
TTKNQG

KỸ THUẬT TRỒNG TỎI

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> - Tỏi trắng c&oacute; đặc điểm l&aacute; riềm, to bản, củ to. Đường k&iacute;nh củ đạt tới 4 - 4,5 cm. Khi thu hoạch vỏ lụa củ m&agrave;u trắng. Giống tỏi n&agrave;y bảo quản củ hay bị &oacute;p.</div> <div> &nbsp;</div>
I. Giống tỏi
 
Ở các vùng tỏi chuyên canh nông dân thường trồng 2 giống tỏi nhập từ Trung Quốc là tỏi trắng và tỏi tía.
 
- Tỏi trắng có đặc điểm lá riềm, to bản, củ to. Đường kính củ đạt tới 4 - 4,5 cm. Khi thu hoạch vỏ lụa củ màu trắng. Giống tỏi này bảo quản củ hay bị óp.
- Tỏi tía lá cứng, dày, củ chắc và cay hơn tỏi trắng. Dọc thân gần củ có màu tía. Khi thu hoạch củ có màu trắng ngà. Mỗi củ có 10 - 11 nhánh, đường kính củ 3,5 - 4 cm. Giống này được trồng nhiều hơn tỏi trắng.
 
Năng suất của 2 giống tỏi này đạt trung bình 300 - 400 kg củ thô/sào Bắc bộ.
 
II- Kỹ thuật trồng trọt:
 
1- Thời vụ: Trồng tỏi thích hợp nhất từ 25/9 - 5/10.
 
2- Chọn đất, làm đất, bón phân và trồng củ
 
- Đất trồng tỏi phải là đất thịt nhẹ, tơi xốp giàu mùn, chân vàn cao, dễ thoát nước, độ chua thích hợp 6 - 6,5. Đất làm kỹ lên luống ngay để tránh mưa, luống rộng 1,2 - 1,5 m, rãnh rộng 0,3 m.
 
- Phân bón: Tính cho 1 sào Bắc bộ.
 
Phân chuồng hoai : 700 - 750 kg
 
URê : 10 - 12 kg
 
Super lân : 18 - 20 kg
 
Kali : 8 - 10 kg.
 
Đất chua có thể bón thêm vôi bột, lượng vôi bón tuỳ theo độ chua của đất. Trung bình bón 20 kg vôi/sào.
 
Bón lót toàn bộ vôi bột, phân chuồng, 1/3 lượng đạm và kali rải theo hàng hoặc rắc đều trên mặt luống sau đó trộn kỹ. Số đạm và kali còn lại dùng để bón thúc.
 
- Tỏi giống: Chọn những nhánh từ củ chắc. Trọng lượng củ 12 - 15 gr có 10 - 12 nhánh. Mỗi sào cần trung bình 35 kg tỏi giống. Phân loại nhánh trồng riêng để sau này tiện chăm sóc. Trước khi trồng ngâm nhánh tỏi từ 2 - 3 giờ.
 
- Tưới ẩm toàn bộ mặt luống. Cắm nhánh tỏi ngập 2/3 xuống đất, khoảng cách hàng từ 15 - 20 cm, các nhánh trên hàng từ 8 - 10 cm. Sau đó phủ rơm rạ băm nhỏ lên trên để giữ ẩm củ hạn chế cỏ mọc (tốt nhất nên dùng rơm rạ cũ).
 
3- Chăm sóc
 
- Tưới nước đều đến khi cây mọc 3 - 4 lá thật thì tưới rãnh để nước thấm dần lên. Khoảng 10 ngày tưới rãnh 1 lần kết hợp với bón thúc phân hoá học và nhặt sạch cỏ dại.
Lượng phân còn lại bón thúc làm 4 - 5 lần, nên ngừng bón phân sau khi trồng 70 - 80 ngày và giữ đủ độ ẩm cần thiết khoảng 60% độ ẩm đất ở giai đoạn này để cho củ phát triển thuận lợi, tránh tỏi phát triển quá mức dẫn đến " nổ cổ ". Trước khi thu hoạch 20 - 25 ngày nên ngừng tưới nước.
 
4- Phòng trừ sâu bệnh
 
Cây tỏi thường bị các bệnh sau:
 
- Bệng Sương mai: Xuất hiện cuối tháng 11 dương lịch khi nhiệt độ thấp, ẩm độ không khí cao. Phòng bệnh tốt nhất nên phun định kỳ trước khi bệnh xuất hiện hoặc phun trừ khi bệnh mới xuất hiện bằng dung dịch Boocđô 1%, Zineb, Ziram, Ridomil ...
 
  Ngoài ra những ngày có sương mù nên tưới rửa sương cho cây.
 
- Bệnh than đen: Xuất hiện trên củ khi sắp thu hoạch và cả trong thời kỳ bảo quản củ.
 
Phòng trừ: Cách ly những củ bị bệnh. Dùng Zineb, Polyram, Topsin-M, Dithane-M ... phun trừ.
 
5- Thu hoạch
 
Củ thương phẩm thu hoạch sau khi trồng 125 - 130 ngày lúc lá đã già, gần khô.
Củ giống phải có thời gian sinh trưởng trên 140 ngày. Chọn củ có đường kính 3,5 - 4 cm có 10 - 12 nhánh, không bị bệnh để riêng, bó thành bó nhỏ treo nơi thoáng mát hoặc trên gác bếp.
 
Văn Hà

KỸ THUẬT TRỒNG – CHĂM SÓC GIỐNG CÂY SƯA ĐỎ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> - C&acirc;y Sưa l&agrave; c&acirc;y gỗ lớn, ưa s&aacute;ng, sinh trưởng trung b&igrave;nh nhưng ở tuổi 1 &ndash; 2 sinh trưởng rất nhanh; c&acirc;y vươn d&agrave;i tới 4-5m v&agrave; uốn cong như cần c&acirc;u, đến cuối tuổi 3 sang tuổi 4 c&acirc;y tự vươn thẳng.</div> <div> &nbsp;</div>
Đặc điểm cây sưa đỏ:
 
- Cây Sưa là cây gỗ lớn, ưa sáng, sinh trưởng trung bình nhưng ở tuổi 1 – 2 sinh trưởng rất nhanh; cây vươn dài tới 4-5m và uốn cong như cần câu, đến cuối tuổi 3 sang tuổi 4 cây tự vươn thẳng.
- Theo kinh nghiệm thì cây nào càng cong thì sinh trưởng càng mạnh.
- Cây sưa rất dẻo và dai, chống chịu bão gió rất tốt, cành sưa không bao giờ bị gẫy do gió bão, gốc sưa bị gió bão xô đổ nghiêng sau lại tự vươn thẳng được.
 
 
 
Kỹ thuật ủ mầm:
 
- Ngâm hạt vào nước ấm theo tỉ lệ 2 sôi 3 lạnh trong vòng 12 giờ sau đó vớt ra rổ cà nhẹ nhiều lần rồi đem ủ trong bọc vải ở nhiệt độ khoảng 35 độ.
- Sau khi ủ 48 giờ, hạt nứt nanh đem ra ươm riêng. Hạt nào nứt cho vào bầu, hạt nào chưa nứt ủ tiếp. Sau 12 giờ hạt nào không nứt thì loại bỏ.
 
Kỹ thuật vườn ươm:
 
- Đảm bảo độ ẩm và ánh sáng cho cây non, bầu ươm đảm bảo đất tơi xốp và thoát nước. Không nên tưới nhiều nhưng tưới đều hàng ngày.
- Khi được 45 ngày cây con được 2-3 lá thì tăng cường ánh sáng kết hợp phân và dưỡng chất đa vi lượng.
 
- Khi cây đạt 15-20 Cm bắt đầu cho cây ra ánh nắng để cây quen dần với môi trường.
- Cây đạt chiều cao từ 25 – 50 – 100 – 150 cm đem trồng ra môi trường ngoài vườn ươm.
 
Biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc giống cây sưa đỏ:
 
Tiêu chuẩn cây con:
 
Cây con đem trồng phải từ 6-12 tháng tuổi.
Đường kính cổ rễ từ 4-5 mm, cao từ 25-50 cm là tốt nhất.
Cây khỏe mạnh, không sâu bệnh…
Khi mua về chưa thể trồng ngay nên tưới ẩm bầu hàng ngày và để nơi có ánh sáng mặt trời.
Quy trình kỹ thuật làm đất:
 
- Làm đất: Trồng rải rác hay tập trung đều phải đào hố. Theo kinh nghiệm kích thước hố 50x50x50cm là phù hợp.
- Bón phân: Bón lót mỗi hố từ 1-3kg phân chuồng hoai mục, phân chuồng ủ vi sinh là tốt nhất.
 
Mật độ và khoảng cách trồng:
Trồng tập trung
- Cây cách cây 3m và hàng cách hàng 3m, 1 ha trồng 1.100 cây.
- Hoặc cây cách cây 2m, hàng cách hàng 3m, 1 ha trồng 1.660 cây.
 
Khoảng cách trồng cây gỗ sưa đỏ [cây cách cây 3 mét]
 
Khoảng cách trên chỉ có tính tương đối có thể tùy theo cách sử dụng đất để bố trí lại cho phù hợp.
 
Trồng hàng rào hoặc trồng rải rác, trồng làm cảnh cây cách cây 1.5 – 2 mét.
Trồng xen với các loại cây khác: Trồng làm cây che mát cafe, trồng làm trụ tiêu, hoặc trồng cây dược liệu, cây ngắn ngày…
 
 Khoảng cách trồng cây gỗ sưa đỏ làm cảnh hoặc làm hàng rào [cây cách cây 1.5 - 2 mét]
 
Trồng theo sở thích riêng hoặc điều kiện ngoại cảnh
- Khi trồng nhẹ nhàng dùng tay xé bao nilon bầu đất, tránh làm vỡ bầu đất, sau đó đặt xuống hố đã đào sẵng.
- Khi trồng đảm bảo mặt bầu dưới mặt đất 5 – 10 cm.
- Tưới nước ẩm cho hố đất đó để cây có thể bén rễ tốt.
 
Kỹ thuật chăm sóc cây sưa non:
 
Chăm sóc
- Sau khi trồng tưới ẩm đều trong 30 ngày cho cây bén rễ hồi xanh. Trồng rừng tập trung nên trồng vào đầu mùa mưa, tiết kiệm chi phí nhân công tưới nước. Trồng ít trong vườn nhà hoặc trồng nơi có thể chủ động được nước tưới ta có thể trồng quanh năm, không cần theo mùa vụ.
 
Tưới nước
- Tưới nước đều ẩm trong 1 – 2 tháng đầu. Sau đó giảm lượng tưới nước, nhưng nếu gặp thời tiết khắc nghiệt, thấy cây có hiện tượng thiếu nước phải kịp thời bổ xung tránh để cây bị hư hại, giảm sức sống.
- Sau khi trồng 1 tháng, cây phát triển bình thường có thể bón các loại phân hóa học để kích thích sự phát triển của cây, Lưu ý chỉ nên bón 1 lượng rất nhỏ (Khoảng 1 thìa cà phê) cách gốc từ 5 cm.
- Trong 3 năm đầu, mỗi năm làm cỏ bón phân 2 – 3 lần. Bón mỗi cây 0,1 – 0,2kg NPK (12:5:10).
 
- Những năm sau làm cỏ 1-2 lần/năm. Bón mỗi cây tăng 0,1-0,2kg NPK/mỗi tuổi.
 
- Cây Sưa đỏ muốn rút ngắn chu kỳ kinh doanh mà cây đạt được gỗ thương phẩm thì phải thường xuyên chăm sóc.
- Trong thời gian 3 năm đầu làm cỏ quanh gốc đảm bảo cây không bị cỏ dại chen lấn tạo nguồn quang hợp cho cây.
- Nên tỉa cành vào cuối mùa khô hàng năm để tạo cho thân cây thẳng. Sau trồng 2 – 3 năm tỉa bỏ cành la, cành võng. Sau trồng 5 – 6 năm tỉa bỏ cành giao nhau.
- Từ khi cây phát triển bình thường có thể bón phân hoặc không cũng được vì sức phát triển của Sưa đỏ mạnh hơn rất nhiều các loại cây gỗ cùng nhóm và cho thu hoạch sớm hơn rất nhiều.
- Sâu hại: Ít thấy loại sâu ăn lá Sưa. các loài sâu bọ, côn trùng, không thích ăn lá sưa, có một số sâu bọ ăn tạp không bỏ qua cây sưa. Sâu, Bọ, bệnh hại cây sưa còn tùy theo khu vực, có nơi có loài này, có nơi có loài khác… Xem thêm cách phòng trừ sâu bệnh.
 
Thời vụ trồng cây sưa:
Khu vực miền Bắc: Khoảng từ tháng 2 – tháng 4.
Khu vực Bắc Trung Bộ: Từ tháng 9 – tháng 11.
Khu vực Duyên hải Miền Trung: Từ tháng 11 – tháng 1.
Khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ: Từ tháng 6 – tháng 9.
 
Tuổi thành thục công nghiệp (cây thương phẩm):
 
- Giá trị đích thực cây Sưa đỏ hiện nay chỉ có người buôn gỗ Sưa mới biết được. Thị trường tiêu thụ là xuất khẩu thô hoặc làm đồ thủ công mỹ nghệ đắt tiền.
- Cây Sưa trồng 10 năm, sinh trưởng trung bình có đường kính trung bình 25cm, cao 13m. Như vậy tuổi thành thục cây Sưa từ trên dưới 10 năm trở lên.
- Hiện tại người ta lùng mua đồ gia dụng làm bằng gỗ Sưa như đi mua đồ cổ: Giường, tủ, bàn ghế cũ với giá cao tùy theo tốt xấu.
 
Trồng xen
Khả năng trồng xen là khả năng lớn nhất của cây Sưa.
 
Cây sưa đỏ trồng xen với nhiều loại cây trồng [cây công nghiệp, cây ăn quả, cây cảnh, cây thuốc...]
 
- Cây Sưa phát triển tốt dưới tán vải, keo, bạch đàn… nên không cần chặt bỏ cây trồng hiện tại, có thể trồng cây Sưa hỗn giao với keo tai tượng, cây dược liệu…
- Cây Sưa ít tán nên không cạnh tranh ánh sáng với cây trồng.
- Không cạnh tranh chất dinh dưỡng của các cây khác. Không cần phải có rừng bạn mới trồng cây lâm nghiệp được, bạn có thể tận dụng mọi nơi có đất trống để trồng.
- Trong thời gian chờ thu hoạch, trồng cây bất kỳ xen dưới gốc, ví dụ hồ tiêu, sa nhân… cho thu nhập hàng năm.
- Trồng làm hàng rào, cây cách cây 1.5 – 3 mét.
- Trồng làm cây cảnh, vừa đẹp vừa có thu nhập.
 
BBT

KỸ THUẬT TRỒNG ỚT NGỌT (CAPSICUM ANNUM L.) THEO HƯỚNG AN TOÀN

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Ớt ngọt (Capsicum annum L.) l&agrave; c&acirc;y ưa nhiệt, nhiệt độ th&iacute;ch hợp cho c&acirc;y sinh trưởng v&agrave; ph&aacute;t triển của c&acirc;y ớt l&agrave; 25 &ndash; 28 độ C ban ng&agrave;y v&agrave; 18 &ndash; 22 độ C ban đ&ecirc;m. C&acirc;y ớt cần nhiều &aacute;nh s&aacute;ng, nếu thiếu &aacute;nh s&aacute;ng nhất l&agrave; thời kỳ ra hoa th&igrave; sẽ l&agrave;m giảm tỷ lệ đậu quả.</div> <div> &nbsp;</div>
 
 
Ớt ngọt (Capsicum annum L.) là cây ưa nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển của cây ớt là 25 – 28 độ C ban ngày và 18 – 22 độ C ban đêm. Cây ớt cần nhiều ánh sáng, nếu thiếu ánh sáng nhất là thời kỳ ra hoa thì sẽ làm giảm tỷ lệ đậu quả.
 
 
 
Ớt chịu được hạn, tuy nhiên ở thời kỳ ra hoa và đậu quả, độ ẩm (đất và không khí) đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối lượng và chất lượng quả. Độ ẩm đất thấp (dưới 70%) quả hay bị cong và vỏ quả không mịn. Tuy vậy ớt không chịu được úng. Độ ẩm đất quá cao (trên 80%) làm bộ rễ kém phát triển, cây còi cọc.
 
 
 
1. Thời vụ
 
Vụ Đông Xuân: Gieo hạt tháng 10 - 12, trồng tháng 1 - 2, thu hoạch tháng 4 - 5 đến tháng 6 - 7.
 
Vụ Hè Thu: Gieo hạt tháng 6, tháng 7; trồng tháng 8 - 9, thu hoạch tháng 1, tháng 2.
 
 
 
2. Vườn ươm
 
Dùng giống có năng suất, chất lượng và sức chống chịu sâu bệnh cao. Trước khi gieo, xử lý hạt bằng thuốc tím hoặc nước sôi 50 độ C. Làm đất kỹ, bón lót phân chuồng hoai mục 3 - 4 kg/m2, gieo hạt 0,5 - 0,6 g/m2. Sau khi gieo, phủ một lớp rơm rạ băm nhỏ trên mặt luống. Cây con được 1 - 2 lá thật, tiến hành tỉa bỏ cây xấu để mật độ 3 x 4 cm. Cây giống có 5 - 6 lá thật thì đem trồng (khoảng 25 - 30 ngày sau gieo).
 
Tiêu chuẩn cây ớt giống: Thân cứng, mập, khoảng cách các lá ngắn, không bị sâu bệnh.
 
 
 
3. Làm đất, bón phân, trồng
 
Nên trồng ớt trên chân đất phù sa có hàm lượng hữu cơ lớn hơn hoặc bằng 1,5%, độ pH 5,5 - 7,0, tốt nhất là 6,5 - 6,8. Nơi trồng ớt sạch phải xa nguồn nước thải, xa các khu công nghiệp, cách đường quốc lộ ít nhất 100 m. Đất trồng phải đảm bảo tưới tiêu chủ động.
 
Phơi ải đất, làm đất kỹ, lên luống rộng 1m, cao 30 cm, rãnh rộng 20 cm. Trồng hai hàng với khoảng cách 0,6 x 0,4 m.
 
 
 
4. Bón phân
 
Phân bón chỉ sử dụng phân chuồng ủ mục và phân vô cơ, tuyệt đối không dùng phân tươi. Lượng phân bón cho một hecta là: 25 tấn phân chuồng mục (900 - 950 kg/sào Bắc Bộ), 150 N, 90 P2O5, 150 K2O (11 kg ure, 21 kg supe lân, 11 kg kali sulfat/sào Bắc Bộ).
 
- Bón lót: Toàn bộ phân chuồng + lân + 20% đạm + 30% kali.
 
- Bón thúc:
 
+ Lần 1 khi cây hồi xanh: 10% đạm.
 
+ Lần 2 khi cây ra nụ: 20% đạm + 20% kali.
 
+ Lần 3 cây ra quả rộ: 30% đạm + 30% kali.
 
+ Lần 4 sau thu hoạch đợt 1: bón số phân còn lại.
 
Có thể dùng nitrat amôn, sulfat amôn thay cho urê, clorua kali thay cho sulfat kali hoặc các phân hỗn hợp, phức hợp NPK với liều lượng nguyên chất tương đương, hoặc dùng các dung dịch dinh dưỡng phun qua lá theo hướng dẫn của hãng.
 
 
 
5. Tưới nước, chăm sóc
 
Tuyệt đối không được dùng nguồn nước thải, nước ao tù để tưới. Tốt nhất nên dùng nước giếng khoan, nước sông không bị ô nhiễm. Trước khi bón thúc phải làm cỏ, xới xáo, vun luống, vun gốc kết hợp tưới nước. Vào các thời kỳ ra nụ, hoa, quả rộ và quả đang lớn cần đảm bảo đủ nước, nếu có thể thì tưới rãnh. Sau khi mặt luống đã thấm nước đều phải tháo hết nước đọng trong rãnh.
 
 
 
6. Phòng trừ sâu bệnh
 
 
 
- Bệnh thán thư (Collettotricum nigrum El. et stal.): Đây là bệnh nguy hiểm gây thối quả hàng loạt. Do bệnh xuất hiện vào giai đoạn quả chín rộ, vào thời điểm nhiệt độ cao (30 độ C), mưa nhiều nên rất khó khăn cho việc phòng trừ bằng thuốc hoá học. Do nấm tồn tại trên tàn dư cây trồng nên phải thực hiện luân canh nghiêm ngặt. Không trồng liên tục ớt trên một chân ruộng hoặc trồng ớt sau các cây họ cà. Dùng thuốc Zineb 0,3%, Boocdo hoặc Oxyclorua đồng 0,7%.
 
 
 
- Bệnh sương mai (Phytophthora infestant) phá hại tất cả các bộ phận trên cây ớt. Bệnh phát sinh từ mép lá, sau đó lan nhanh ra cả cây, gây thối nhũn, sau đó khô giòn và gẫy. Hoa bị chuyển thành màu nâu và rụng. Phun phòng bằng thuốc Zineb 0,3%, Oxyclorua đồng 0,7%.
 
 
 
- Bệnh héo rũ (Fusarium oxysporum F. lycopensici) xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn cây con đến khi ra hoa. Dùng hỗn hợp Kasuzan 0,2%, Fudazol 0,15 để trừ.
 
 
 
- Nhện trắng (Poliphago tarsonemus Latus) gây hiện tượng xoăn ngọn, xoăn lá. Dùng Applaut 0,2%, Ortus, Kinalux để diệt.
 
 
 
- Rệp (Aphis sp). thường xuất hiện vào cuối tháng 4 đầu tháng 5. Dùng thuốc Actara để trừ.
 
 
 
7. Thu hoạch
 
Thu hoạch ớt khi quả chín cây, tránh để quả giập nát, loại bỏ các quả thối hoặc quả có vết sâu bệnh.
 
 
 
BBT

KỸ THUẬT TRỒNG MỘT SỐ LOẠI CÂY LÀM THỨC ĂN CHO GIA SÚC

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Cỏ voi thuộc họ ho&agrave; thảo, th&acirc;n đứng, l&agrave; giống rất th&iacute;ch hợp cho chăn nu&ocirc;i b&ograve; thịt theo quy m&ocirc; trang trại. Thời gian trồng th&iacute;ch hợp l&agrave; từ th&aacute;ng 2 đến th&aacute;ng 5, thu hoạch từ th&aacute;ng 6 đến th&aacute;ng 11. Nếu m&ugrave;a kh&ocirc; chủ động được nước tưới th&igrave; c&oacute; thể thu hoạch quanh năm. Chu kỳ kinh tế của cỏ voi l&agrave; 3 - 4 năm (tức l&agrave; trồng một lần thu hoạch được 3-4 năm). Nếu chăm s&oacute;c tốt c&oacute; thể cho năng suất cao trong 10 năm liền.</div> <div> &nbsp;</div>
Cỏ voi thuộc họ hoà thảo, thân đứng, là giống rất thích hợp cho chăn nuôi bò thịt theo quy mô trang trại.
 
 
 
1.Kỹ thuật trồng cỏ voi
 
 
 
Cỏ voi thuộc họ hoà thảo, thân đứng, là giống rất thích hợp cho chăn nuôi bò thịt theo quy mô trang trại. Thời gian trồng thích hợp là từ tháng 2 đến tháng 5, thu hoạch từ tháng 6 đến tháng 11. Nếu mùa khô chủ động được nước tưới thì có thể thu hoạch quanh năm. Chu kỳ kinh tế của cỏ voi là 3 - 4 năm (tức là trồng một lần thu hoạch được 3-4 năm). Nếu chăm sóc tốt có thể cho năng suất cao trong 10 năm liền.
 
• Chuẩn bị đất
 
 
 
Có thể trồng cỏ voi theo hướng chuyên canh và thâm canh hoặc trồng cỏ voi vừa làm hàng rào vừa lấy thức ăn cho gia súc. Trong trường hợp trồng chuyên canh và thâm canh, cần chọn loại đất phù hợp với yêu cầu của cây: loại đất có tầng canh tác trên 30cm, nhiều màu, tơi xốp, thoát nước, có độ ẩm trung bình đến hơi khô, pH của đất = 6 -7. Cần cầy sâu, bừa kỹ hai lượt và làm sạch cỏ dại, đồng thời san phẳng đất. Rạch hàng sâu 15-20 cm theo hướng đông tây, hàng cách hàng 60 cm. Cũng có thể trồng theo khóm với mật độ bụi nọ cách bụi kia 40 cm và hàng cách hàng 60cm.
 
* Phân bón
 
 
 
Tuỳ theo chân ruộng tốt hay xấu mà có thể sử dụng lượng phân bón khác nhau. Trung bình cho 1 ha cần bón: 15 - 20 tấn phân chuồng hoai mục; 300 - 400 kg đạm urê; 250 - 300 kg super lân; 150 - 200 kg sulphat kali. Các loại phân hữu cơ, phân lân, phân kali dùng bón lót toàn bộ theo lòng rãnh trồng cỏ. Riêng phân đạm thì chia đều cho các lần thu hoạch và bón thúc sau mỗi lần cắt. Nếu đất chua (pH <5) thì phải bón thêm vôi.
 
 
 
• Cách trồng và chăm sóc
 
 
 
Trồng bằng thân cây (hom), chọn cây mập và hom bánh tẻ (ở độ tuổi 80-100 ngày). Chặt vát hom với độ dài 25 - 30 cm/hom và có 3-5 mắt mầm. Mỗi hecta cần 8 -10 tấn hom. Đặt hom trong lòng rãnh, chếch 450, cách nhau 30-40 cm và lấp đất dầy khoảng 5 cm sao cho hom nhô trên mặt đất khoảng 10 cm và bảo đảm mặt đất bằng phẳng sau khi lấp. Sau khi trồng 10-15 ngày mầm bắt đầu mọc. Tiến hành kiểm tra tỷ lệ mọc mầm và nếu có hom chết, cần trồng dặm lại, đồng thời làm sạch cỏ dại và dùng cuốc xới xáo nhẹ làm cho đất tơi, thoáng (chú ý không chạm vào thân cây giống). Lúc được 30 ngày tiến hành bón thúc bằng100 kg urê cho mỗi hecta. Dùng cuốc làm sạch cỏ dại thêm vài lần, trước khi cỏ lên cao, phủ kín mặt đất.
 
 
 
• Thu hoạch và sử dụng
 
 
 
Sau khi trồng 80-90 ngày thu hoạch đợt đầu (không thu hoạch non đợt đầu). Khoảng cách những lần thu hoạch tiếp theo là 30-45 ngày, khi thảm cỏ có độ cao khoảng 80 - 120 cm. Mỗi lần thu hoạch lưu ý cắt gốc ở độ cao 5 cm trên mặt đất và cắt sạch, không để lại mầm cây, để cho cỏ mọc lại đều. Cứ sau mỗi lần thu hoạch và cỏ ra lá mới lại tiến hành bón thúc bằng đạm urê. Có thể dùng cỏ voi cho gia súc nhai lại ăn tươi hoặc ủ chua để dự trữ cho những thời điểm khan hiếm thức ăn thô xanh.
 
 
 
2. Kỹ thuật trồng cỏ Ghinê
 
 
 
Cỏ Ghinê là loại cây hoà thảo, lâu năm (còn gọi là cỏ sả, một số nơi còn gọi là cỏ Tây Nghệ An hay cỏ sữa). Có hai loại cỏ Ghinê: loại lá lớn và loại lá nhỏ. Loại lá lớn cho năng suất cao, nên trồng để cho bò ăn tươi hoặc ủ chua dự trữ với cỏ voi. Loại lá nhỏ cho năng suất thấp hơn, nhưng có khả năng chịu dẫm đạp, chịu hạn tốt, rất thích hợp cho việc trồng để tạo nên bãi chăn thả và chống xói mòn cho đất. Thời gian trồng từ tháng 2 - 4. Tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa để bảo đảm tỷ lệ sống cao. Thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 11. Chu kỳ kinh tế 4 - 5 năm hoặc dài hơn (6 - 7 năm).
 
 
 
• Chuẩn bị đất
 
 
 
Cỏ Ghinê phù hợp với chân ruộng cao, loại đất cát pha, không bị ngập nước hoặc ẩm nhiều. Cần cày vỡ đất ở độ sâu 20 cm, sau đó bừa và cày đảo (cày 2 lần), làm sạch cỏ dại và san phẳng đất. Trong trường hợp trồng bằng hạt thì đất phải làm tơi nhỏ hơn.
 
                         
 
• Phân bón
 
 
 
Cho mỗi hecta cần: 10-15 tấn phân chuồng hoai mục - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 200-250 kg super lân - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 150-200 kg sulphat kali - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 200-300 kg sulphat đạm - chia đều để bón thúc sau mỗi lần thu hoạch.
 
 
 
• Cách trồng và chăm sóc
 
 
 
Có thể trồng bằng hạt, hoặc dùng khóm thân rễ, trồng theo bụi. Nếu trồng bằng khóm theo bụi thì sau khi làm đất kỹ như nêu trên, dùng cày rạch thành hàng cách nhau 40 - 50 cm, sâu 15 cm. Trong trường hợp gieo bằng hạt thì chỉ cần rạch hàng sâu 10 cm. Mỗi hecta cần lượng khóm 5 - 6 tấn, lượng hạt 5 - 6kg.  Cách chuẩn bị khóm giống như sau: cắt bỏ phần ngọn các khóm cỏ sả giống trên ruộng và để lại chiều cao khóm khoảng 25 - 30 cm. Dùng cuốc đánh gốc cỏ lên, rũ sạch đất, cắt phạt bớt phần rễ già. Sau đó tách thành những khóm nhỏ, mỗi khóm 3 - 4 nhánh đem trồng. Sau khi rạch hàng và bón lót phân, tiến hành trồng bằng cách đặt các khóm vào rãnh, ngả cùng một phía và vuông góc với thành rãnh, cách nhau 35 - 40 cm, lấp đất sâu khoảng 10 - 15 cm (1/2 độ dài của thân cây giống) và lưu ý dậm chặt đất, tạo điều kiện có độ ẩm, cây chóng nảy mầm và có tỷ lệ sống cao.
 
Nếu trồng bằng hạt thì gieo rải đều theo hàng rạch và dùng đất nhỏ mịn lấp dầy 5 cm.
 
Trong trường hợp trồng xen với cây ăn quả, trồng ven đường hoặc xung quanh bờ ao thì đào hốc sâu 15 cm với khoảng cách hàng 40 - 50 cm và hố nọ cách hố kia 15 - 20 cm.
 
Sau khi trồng 15 - 20 ngày kiểm tra khả năng ra mầm chồi và nếu cần thiết thì trồng dặm lại. Đồng thời lúc này xới xáo qua, làm cỏ dại và bón thúc bằng đạm urê. Nếu gieo bằng hạt thì chỉ tiến hành chăm sóc và trồng tỉa bổ sung khi cây mọc và có thể phân biệt rõ để tránh nhầm lẫn với cỏ dại. Sau mỗi lần cắt và khi thảm cỏ nảy mầm xanh lại làm sạch cỏ dại rồi dùng phân đạm bón thúc.
 
 
 
• Thu hoạch và sử dụng
 
 
 
Sau khi trồng được 60 ngày thì thu hoạch lứa đầu, cắt phần trên, cách mặt đất 10 cm. Các lứa thu hoạch sau cách nhau 40 - 45 ngày. Mỗi năm cắt dọn gốc già một lần. Trong trường hợp trồng cỏ Ghinê để chăn thả thì hai lứa đầu tiên vẫn cắt bình thường, bắt đầu từ lứa thứ ba mới đưa gia súc nhai lại vào chăn thả. Tốt nhất là chăn thả khi thảm cỏ có độ cao 35 - 40 cm. Muốn vậy phải bảo đảm chu kỳ chăn thả luân phiên (thời gian nghỉ để cỏ tái sinh) khoảng 25 - 35 ngày vào mùa mưa và 40 - 45 ngày vào mùa khô. Thời gian chăn thả liên tục trên một thửa cỏ không quá 4 ngày. Cỏ Ghinê ăn rất ngon và có giá trị dinh dưỡng cao, không bị giảm chất lượng nhanh như cỏ voi.
 
 
 
3. Kỹ thuật trồng cỏ Stylo
 
 
 
Cỏ Stylo là loại cây bộ đậu, lưu niên, thân đứng hoặc bò. Cỏ Stylo có khả năng thích ứng rộng và dễ nhân giống. Thời gian gieo trồng tuỳ thuộc vào dùng cành giâm hay dùng hạt. Nếu gieo hạt, tốt nhất vào đầu mùa mưa (tháng 3 - tháng 4, đối với miền Bắc và tháng 5 - tháng 6, đối với miền Nam). Nếu dùng cành giâm thì trồng vào giữa mùa mưa (tháng 7 - tháng 8). Thu hoạch từ tháng 6 - tháng 12. Chu kỳ kinh tế 4 - 5 năm.
 
 
 
• Chuẩn bị đất
 
Yêu cầu làm đất kỹ như trồng cỏ voi (cầy, bừa hai lần), cầy sâu 15 - 20 cm, bảo đảm đất tơi nhỏ, hạt đất có đường kính dưới 1cm chiếm 70 - 80%, hạt đất có đường kính 2 - 5 cm chỉ chiếm 20 - 30%. Làm sạch cỏ dại. Giữa hai lần cày bừa nên cách nhau 10 -15 ngày để diệt được nhiều mầm cỏ dại trước khi gieo trồng.
 
Lượng phân bón trên mỗi hecta là: 10 - 15 tấn phân chuồng hoai mục - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 300 - 350 kg super lân - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 100 - 150 kg clorua kali - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 50 kg urê - bón thúc khi cây đạt độ cao 5 - 10 cm; Nếu đất chua thì bón lót thêm vôi (0,5 tấn vôi/ha khi pH < 5 và 1,0 tấn vôi/ha khi pH = 5,0 - 5,5). Cách bón: rải đều khi cầy bừa.
 
 
 
• Cách trồng và chăm sóc
 
Có thể trồng cỏ theo hai cách:
 
+ Trồng bằng cành giâm: cắt cành dài 30 - 40 cm, có 4 - 5 mắt. Sau khi làm đất kỹ, rạch hàng sâu khoảng 15 cm, hàng cách hàng 45 - 50 cm. Trồng theo khóm, mỗi khóm 5 - 6 cành và các khóm cách nhau 25 cm. Lấp đất dày 5 - 6 cm để cành ngập trong đất 20 cm.
 
+ Gieo bằng hạt: sử dụng 5 - 6 kg hạt giống cho 1ha. Rạch hàng sâu khoảng 10 cm và hàng cách hàng 45 - 50 cm. Gieo hạt theo hàng rạch. Sau đó lấp lớp đất mỏng. Để cho cây chóng mọc, có thể ủ hạt trong nước nóng 60 - 700C, khi hạt nứt nanh thì đem gieo.
 
Cũng có thể gieo hạt trong vườn ươm và khi cây mọc cao 20 - 25 cm thì nhổ ra trồng theo rạch với khoảng cách cây cách cây 15 - 20 cm  .
 
Khi cây mọc cao khoảng 5 - 10 cm thì tiến hành xới xáo cho đất tơi xốp và làm sạch cỏ dại, đồng thời bón thúc bằng urê. Khoảng 2 tháng tuổi xới cỏ một lần nữa, tạo điều kiện cho cỏ phát triển tốt.
 
 
 
• Thu hoạch và sử dụng
 
 
 
Thu hoạch cỏ Stylo lứa đầu khoảng 3 tháng sau khi trồng, tức là lúc cỏ cao khoảng 60 cm và thảm cỏ che phủ kín đất. Khi thu hoạch cắt cách mặt đất 15 - 20 cm. Thu hoạch các lứa tiếp theo cứ sau 2 - 2,5 tháng, lúc cây cao 35 - 40 cm.
 
Cũng như các loại cây bộ đậu khác, cỏ Stylo là nguồn thức ăn tươi xanh giàu protein, là nguồn đạm lá quan trọng để bổ sung và nâng cao chất lượng khẩu phần thức ăn cho gia súc nhai lại. Ngoài ra, có thể dùng phối hợp cỏ Stylo với một số cây hoà thảo như cỏ voi, cỏ Xu đăng, cây ngô... làm nguyên liệu ủ ướp, nhằm nâng cao giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ xanh. Cũng có thể phơi khô thân, lá cỏ Stylo, nghiền thành bột cỏ và sử dụng như nguồn bổ sung protein có giá trị, thay thế một phần thức ăn tinh.
 
Có thể sử dụng làm bãi chăn thả gia súc nhai lại. Tuy nhiên, do khả năng chịu dẫm đạp của cỏ Stylo kém hơn so với các cỏ hoà thảo khác như Pangola, Ghinê... nên thời gian chờ đợi giữa hai chu kỳ chăn thả sẽ dài hơn.                        
 
4. Kỹ thuật trồng cỏ Ruzi
 
Ruzi thuộc họ hoà thảo, là giống cỏ lâu năm, thân bò. Cỏ có khả năng chịu dẫm đạp cao nên có thể trồng để làm bãi chăn thả gia súc. Cũng giống như cỏ Ghinê, cỏ Ruzi có khả năng chịu khô hạn tốt nhưng phát triển mạnh nhất vào mùa mưa. Thời gian trồng cỏ Ruzi là mùa mưa, nhưng tốt nhất là vào đầu mùa mưa (tháng 4 - tháng 5) để bảo đảm tỷ lệ sống cao và cây phát triển tốt.
 
 
 
• Chuẩn bị đất
 
Yêu cầu chuẩn bị đất trồng cẩn thận, cày và bừa hai
lần. Lần đầu cày vỡ với độ sâu 20 cm, rồi bừa vỡ. Lần thứ hai cầy đảo lại và bừa tơi đất, đồng thời vơ sạch cỏ dại và san phẳng đất. Nên kéo dài thời gian chuẩn bị đất nhằm hạn chế cỏ dại. Sau khi đã san phẳng đất, tiến hành rạch hàng cách nhau 40 - 50 cm và sâu 15 cm (nếu trồng bằng thân khóm) hoặc sâu 5 - 10 cm (nếu gieo bằng hạt).
 
• Phân bón
 
Cần sử dụng cả phân vô cơ và phân hữu cơ. Mỗi hecta cần: 10 - 15 tấn phân chuồng hoai mục; 200 - 250 kg supe lân; 100 - 200 kg sulphat kali; 300 - 350 kg đạm urê. Các loại phân chuồng, supe lân, sulphat kali dùng bón lót theo hàng trồng cỏ. Lượng đạm urê được chia đều cho các lần cắt cỏ và dùng để bón thúc sau khi cỏ đã đâm chồi và ra lá.
 
 
 
• Cách trồng và chăm sóc
 
 
 
Có thể trồng bằng thân khóm hoặc trồng bằng hạt. Trường hợp trồng bằng thân khóm: cách chuẩn bị thân khóm như sau: các khóm cỏ Ruzi dùng làm giống được cắt xén bỏ phần trên cách mặt đất khoảng 25 - 30 cm. Dùng cuốc đánh cả khóm cỏ lên, rũ đất và phạt xén bớt rễ, chỉ để lại còn 4 - 5 cm. Sau đó dùng dao chia tách thành những cụm khóm nhỏ, mỗi cụm khóm gồm 4 - 5 thân nhánh. Sau khi đã chuẩn bị đất và bón lót phân như nêu trên, đặt các khóm cỏ giống vuông góc với thành rạch, khóm nọ cách khóm kia 35 - 40 cm. Dùng cuốc lấp kín 1/2 thân cây giống, tiếp theo, dùng chân dậm thật chặt đất để tạo độ ẩm, bảo đảm cỏ chóng ra mầm và đạt tỷ lệ sống cao. Mỗi hecta cần 4 - 6 tấn khóm.
 
Trường hợp trồng bằng hạt: cần xử lý hạt trước khi gieo bằng cách ngâm hạt vào nước nóng 800C trong vòng khoảng 10 - 15 phút. Sau đó vớt hạt ra, rửa sạch bằng nước lã và ngâm thêm khoảng 60 phút, rồi vớt ra và đem gieo.
 
 
 
Gieo rải đều hạt theo hàng rạch. Dùng tay khoả đều và lấp một lớp đất mỏng lên trên. Mỗi hecta cần 4 -5 kg hạt cỏ giống.
 
 
 
Sau khi trồng khoảng hai ba tuần tiến hành kiểm tra tỷ lệ mọc mầm, những cây bị chết thì trồng dặm lại. Trong trường hợp gieo hạt, cần lưu ý phân biệt mầm cỏ Ruzi với mầm cỏ dại. Tiến hành trồng tỉa bổ sung vào những nơi cỏ không nảy mầm. Xới xáo nhẹ cho đất tơi xốp và làm sạch cỏ dại. Khi thảm cỏ nảy mầm xanh và sau khi làm cỏ lần hai thì bón thúc bằng đạm urê.
 
 
 
• Thu hoạch và sử dụng
 
Thu hoạch lứa đầu sau khi trồng được 60 ngày bằng cách cắt trên mặt đất (để lại gốc) 10 cm. Các lứa thu hoạch tiếp theo tiến hành khi thảm cỏ cao khoảng 45 - 60 cm.
 
Nếu trồng cỏ làm bãi chăn thả thì hai lứa đầu vẫn thu cắt bình thường, đến lứa thứ ba mới đưa gia súc vào chăn thả. Hợp lý nhất cho chăn thả là khi thảm cỏ có độ cao 35 - 40 cm. Thời gian chăn thả mỗi đợt trên cùng một thảm cỏ không quá 4 ngày và thời gian nghỉ giữa hai đợt chăn thả khoảng 25 - 35 ngày.
 
Cỏ Ruzi mềm và ròn hơn cỏ Ghinê nên gia súc có khả năng lợi dụng rất tốt. Là loại cây thức ăn cho bò sữa, bò thịt, trâu, dê... Ngoài việc sử dụng cho ăn tươi (cắt cho ăn tại chuồng hoặc chăn thả) có thể phơi khô và làm thức ăn dự trữ trong vụ đông xuân, bởi vì khi phơi khô, cỏ khô đều, nhanh cả lá và cuộng.
 
 
 
5. Kỹ thuật trồng cây keo dậu
 
 
 
Keo dậu thuộc họ đậu, thân bụi hoặc thân gỗ lâu năm. Cây có khả năng chịu hạn rất tốt nhưng kém chịu lạnh và sương muối. Thời gian trồng tốt nhất là vào tháng 4
 
 
 
• Chuẩn bị đất
 
Có thể trồng keo dậu ở ruộng tập trung, trên bờ bụi, bờ mương máng hoặc trong vườn, làm hàng rào. Cần chú ý chọn loại đất thoát nước, ít chua. Nếu trồng tại ruộng thì chuẩn bị đất như khi trồng các loại đậu đỗ khác. Sau khi cày bừa và làm đất tiến hành lên luống rộng 3 m, rạch các hàng trên luống cách nhau 70 - 80 cm, sâu khoảng 10 cm.
 
 
 
• Phân bón
 
Mỗi hecta cần 10 tấn phân chuồng, 300 kg phân lân nung chảy và 150 kg clorua kali. Các loại phân này dùng bón lót toàn bộ trước khi bừa lần cuối và mỗi năm bón một lần vào vụ xuân.
 
 
 
• Cách trồng và chăm sóc
 
Trước khi gieo, cần xử lý hạt như sau: làm ướt hạt bằng nước lã, sau đó đổ nước nóng 90 - 1000C vào và ngâm trong vòng 5 phút. Bước tiếp theo là gạn hết nước nóng và đổ nước lã vào cho ngập hạt, ngâm tiếp 5 - 10 giờ, rồi lại gạn hết nước và để hạt thật khô ráo, trước khi đem gieo. Gieo hạt theo hàng rạch, trung bình 1m dài gieo 20 hạt (lượng hạt khô cần cho mỗi hecta khoảng 20 kg), lấp đất sâu khoảng 5 cm. Cũng có thể gieo hạt vào bầu đất hoặc vườn ươm, sau đó, khi cây mọc cao khoảng 45 cm thì mang đi trồng (trong trường hợp trồng làm hàng rào) như các loại cây gỗ khác; trồng cây cách cây 50 cm.
 
Sau khi trồng khoảng 10 ngày, kiểm tra tỷ lệ nảy mầm, nếu cần thiết thì gieo hoặc trồng dặm lại. Dùng cuốc xới xáo nhẹ theo hàng và làm sạch cỏ dại hai đợt: lúc 15 ngày và lúc 40 ngày sau khi trồng.
 
 
 
• Thu hoạch và sử dụng
 
Sau khi trồng khoảng 4 -5 tháng, có thể thu hoạch lứa đầu (tuỳ theo đất đai và điều kiện chăm sóc, lúc đó cây có thể cao tới 1,5 m). Khi thu hoạch lứa đầu, cắt gốc cách mặt đất 70 cm. Các lứa tiếp theo cắt chừa lại cành mới tái sinh 5 cm và cứ sau khoảng 45 ngày cắt một lần. Có thể sử dụng keo dậu như nguồn thức ăn tươi xanh (cắt về cho gia súc ăn tại chuồng hoặc chăn thả trên bãi trồng keo dậu). Cũng có thể phơi sấy khô, nghiền thành bột.
 
 
 
Keo dậu là cây có hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt là protein (protein thô 21 - 25%). Đây thực sự là nguồn thức ăn bổ sung protein có giá trị không những cho gia súc mà cho cả gia cầm. Tuy nhiên, keo dậu có hạn chế là chứa một lượng nhỏ độc tố mimosine (thường tập trung trong các phần non của cây như lá, chồi non). Vì vậy khi sử dụng keo dậu cần có biện pháp làm giảm hàm lượng mimosine (như xử lý nhiệt trên 700C; nhúng trong nước qua đêm; phun dung dịch sulphat sắt II... ) và khống chế lượng keo dậu chỉ chiếm < 30% khẩu phần cho gia súc nhai lại. Với bò sữa, keo dậu cũng là loại thức ăn rất tốt, làm tăng năng suất sữa lên 10 - 15%. Có thể trộn vào thức ăn tinh cho mỗi con bò sữa mỗi ngày 1,0 - 1,5 kg bột keo dậu.
 
 
 
Hoa Thông

KỸ THUẬT GÂY TRỒNG CÂY MÂY NẾP

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> M&acirc;y nếp l&agrave; lo&agrave;i c&acirc;y th&acirc;n leo, mọc cụm. C&acirc;y m&acirc;y nếp (t&ecirc;n kh&aacute;c: M&acirc;y tắt, M&acirc;y trắng, M&acirc;y ruột gi&agrave;, M&acirc;y nh&agrave;) c&oacute; t&ecirc;n khoa học: Calamus tetradactylus Hance, thuộc họ thực vật: họ Cau (Arecaceae)</div> <div> &nbsp;</div>
Mây nếp là loài cây thân leo, mọc cụm. Cây mây nếp (tên khác: Mây tắt, Mây trắng, Mây ruột già, Mây nhà) có tên khoa học: Calamus tetradactylus Hance, thuộc họ thực vật: họ Cau (Arecaceae)
 
Mây nếp là một trong loài Mây có khu phân bố rộng nhất ở Việt Nam, tập trung nhiều ở Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình và Nghệ An. Cây mây có lóng dài, màu trắng đẹp, dẻo bền, dễ chẻ nên rất được ưa chuộng làm đồ đan lát, làm hàng mỹ nghệ. Gần đây, mây được sử dụng nhiều để đan mặt ghế và các đồ thủ công mỹ nghệ để xuất khẩu. Dưới đây xin giới thiệu một số kỹ thuật gây trồng cây mây nếp.
 
 
1. Nguồn giống
 
Chọn cây mẹ trên 7 tuổi mọc ở nơi quang hoặc có ngọn mọc vượt lên khỏi tán rừng hay tán cây gỗ. Hạt thu được hong khô trong nhà và cất giữ nơi khô ráo, thoáng mát để làm giống.
 
2. Tạo cây con
 
+ Đất gieo: Chọn nơi đất bằng, ẩm, thoát nước, có thành phần cơ giới nhẹ. Lên luống rộng 0,8 - 1,0 m, bón 3 - 4 kg phân chuồng hoai/1 m2 mặt luống. Nơi có nhiều kiến cần rắc vôi.
 
+ Gieo ươm: Nếu gieo quả trực tiếp phải 4 tháng hạt mới nảy mầm, còn nếu ngâm nước lạnh trong 24 giờ sau đó đãi sạch vỏ và cùi rồi xử lý bằng nước ấm 40 - 450C (2 sôi 3 lạnh) thì sau 15 - 20 ngày hạt bắt đầu nứt nanh và 30 - 45 ngày lá mầm hình kim xuất hiện.
 
Sau khi gieo hạt, cần làm giàn che bằng phên nứa hoặc thân đay... Tưới nước 2 lần/ngày để đảm bảo độ ẩm cho hạt chóng nảy mầm.
 
+ Cấy cây: Sau khi gieo 2 - 3 tháng, thấy lá mầm dạng kim đâm qua lớp đất che phủ là có thể cấy cây.
 
+ Tiêu chuẩn cây con: Cây ươm 1,5 tuổi trở lên, cao trên 20 - 30 cm với 3 - 4 lá có thể mang trồng. Nếu cây ươm rễ trần trên luống thì đánh bầu đất rộng 5 cm và trồng vào mùa xuân. Muốn vận chuyển cây con đi xa phải hồ rễ và giữ rễ luôn ẩm.
 
3. Gây trồng chăm sóc
 
+ Chuẩn bị đất trồng: Trồng mây quanh nhà, ven hàng rào, dọc mương máng, đất chuẩn bị đòi hỏi không cầu kỳ.
 
+ Mật độ: Cuốc hố trồng cây giá thể 0,5 - 1,0 m, kích thước hố 15x15x15 cm. Hố trồng đào liên tục cách nhau 1 m dọc theo hàng rào. Trường hợp giá thể là tre cần chú ý: Tre là bụi lớn, trồng mây thì mây khó sống, phát triển kém. Kinh nghiệm trong nhân dân là đào mương sâu 1 m, rộng 0,8 m cạnh hàng tre và trồng mây bên kia bờ mương cách 0,5 m, khi mây lớn cho leo lên cây tre.
 
Khi trồng mây dưới tán rừng tự nhiên: phát theo băng rộng 2 m, dọn sạch cây. Băng phát cách nhau 4 m. Kích thước hố 15x15x15 cm. Mỗi hố trồng 2 - 3 cây con.
 
+ Trồng cây: Trồng mây tốt nhất vào mùa xuân thời tiết ẩm và có mưa phùn, hoặc có thể trồng vào đầu mùa mưa. Không đào hố sâu dưới tán rừng, lá khô rụng xuống sẽ che lấp và làm chết cây con. Khi lấp đất phải nén chặt để cây mau bén rễ và lấp đất ngang cổ rễ cây để mây dễ đẻ nhánh sau này.
 
+ Chăm sóc, bảo vệ cây trồng: Trong 2 năm đầu, mỗi năm làm cỏ 2 - 3 lần kết hợp với vun xới. Hàng năm phải luỗng phát dây leo bụi rậm một lần để đảm bảo ánh sáng cho cây phát triển. Khi mây lớn và leo lên giá thể, tiến hành phát cành cây để điều chỉnh ánh sáng giúp cho mây vươn lên sinh trưởng tốt. Cần đề phòng trâu bò và châu chấu ăn lá mây non.
 
Nơi đất tốt, gần nhà, mây trồng sau 3 - 4 năm có thể thu hoạch. Mây trồng thành rừng sau 5 - 10 năm khi bẹ lá ở gốc bị chết và rụng đi, để lộ sợi mây trắng có thể thu hoạch. Sau đó 2 năm thu hoạch 1 lần. Khi thu hoạch, chặt gốc cách mặt đất 10 cm rồi lôi ra khỏi khóm mây.
 
Theo Khuyennongvn.org.vn
 

KỸ THUẬT TRỒNG KEO GIÂM

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Keo lai l&agrave; t&ecirc;n gọi của giống lai tự nhi&ecirc;n giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) v&agrave; Keo l&aacute; tr&agrave;m (Acacia aurculiformis). Keo lai c&oacute; sức sinh trưởng nhanh hơn r&otilde; rệt so với lo&agrave;i keo bố mẹ. C&aacute;c d&ograve;ng keo lai đ&atilde; chọn lọc sau 3 năm tuổi cho sản lượng gỗ 50 &ndash; 77 m3/ha, khi được 7 &ndash; 8 tuổi cho 150 &ndash; 200 m3 gỗ/ha &ndash; nhiều hơn 1,5 &ndash; 2 lần rừng keo tai tượng v&agrave; keo l&aacute; tr&agrave;m.</div> <div> &nbsp;</div>
Keo lai là tên gọi của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia aurculiformis). Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn rõ rệt so với loài keo bố mẹ. Các dòng keo lai đã chọn lọc sau 3 năm tuổi cho sản lượng gỗ 50 – 77 m3/ha, khi được 7 – 8 tuổi cho 150 – 200 m3 gỗ/ha – nhiều hơn 1,5 – 2 lần rừng keo tai tượng và keo lá tràm.
 
A- Giống:
 
Chỉ được sử dụng cây giống bằng giâm hom đời F1 của các dòng đã được công nhận để trồng rừng như BV 5, BV 10, TB 05, TB 08, …
 
Cây con trước khi đem trồng được khoảng 3 tháng tuổi có chiều cao 20 – 25 cm, cây khỏe mạnh xanh tốt, một ngọn.
 
B- Kỹ thuật trồng và chăm sóc:
 
1- Xử lý thực bì:
 
- Nơi thực bì thưa, cao dưới 1m, phát toàn diện, dọn tươi xếp theo đường đồng mức hoặc gom đống, đốt cục bộ, đề phòng lửa cháy lan.
 
- Nơi có thực bì dày rậm, cao trên 1m, phát băng rộng 2m theo đường đồng mức.
 
2- Làm đất:
 
- Nơi đất dốc < 150 cày ngầm toàn diện.
 
- Nơi đất dốc > 150 làm đất thủ công, cục bộ, đào hố 40x40x40 trên băng đã phát dọn thực bì theo đường đồng mức.
 
3- Mật độ trồng:
 
1.100 cây/ha (cự ly 3x3m), hoặc 1.660 cây/ha (cự ly 3x2m)
 
4- Bón lót:
 
Kết hợp khi lấp đất bón lót mỗi hố 100 – 150g NPK (5:10:3) hay 200 – 300 g phân vi sinh
 
5- Chăm sóc:
 
- Trồng dặm cây chết sau khi trồng 8 – 10 ngày
 
- Chăm sóc trong 3 năm liền:
 
* Năm đầu, chăm sóc 2 lần
 
lần 1 (sau khi trồng 1 – 2 tháng): cắt dây leo, phát dọn thực bì trên toàn diện tích, dẫy cỏ và vun xới quanh gốc rộng 80cm.
 
lần 2 (tháng 10 – 11): phát thực bì và vun xới quanh gốc rộng 80cm.
 
* Năm thứ hai, chăm sóc 3 lần
 
lần 1 (tháng 3 – 4): chăm sóc như lần 1 năm đầu. Bón thúc mỗi gốc 200g NPK (5:10:3) hoặc 500g phân hữu cơ vi sinh.
 
lần 2 (tháng 7 – 8): phát thực bì toàn diện, dẫy cỏ vun xới quanh gốc 1m, tỉa cành cao đến 1m.
 
lần 3 (tháng 10 – 11): phát thực bì quanh gốc rộng 1m.
 
* Năm thứ ba, chăm sóc 2 lần
 
lần 1 (tháng 3 – 4): phát thực bì toàn diện tích, tỉa cành đến tầm cao 1,5 – 2m. Dẫy cỏ quanh gốc rộng 1m, bón thúc lần hai như bón lần một nhưng rạch bón cách gốc 40 – 50cm.
 
lần 2 (tháng 7 – 8): phát thực bì toàn diện tích, chặt cây sâu bệnh, phát dẫy cỏ quanh gốc cây.
 
C- Bảo vệ rừng:
 
- Phòng chống sâu bệnh: keo lai bị sâu cắn lá và bệnh rộp lá, phấn hồng, phấn trắng gây hại, phòng trừ bằng thuốc hóa học cùng với các biện pháp tổng hợp khác.
 
- Phòng chống cháy rừng và các sự cố khác: làm băng cản lửa, rộng 8 – 10m, trước mùa khô. Đề phòng trâu bò phá hại rừng.
 
D- Khai thác:
 
Với mục đích trồng rừng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy, ván dăm áp dụng khai thác chính là chặt trắng và tiếp tục trồng lại rừng mới bằng cây hom. Sản lượng khai thác gỗ 150 – 200 m3/ha với chu kỳ 7 – 8 năm.
 
Với mục đích trồng để phủ xanh, phòng hộ sau khi chặt có thể cho tái sinh tự nhiên bằng hạt nhưng phải tỉa thưa chỉ để lại cây ưu trội khi rừng khép tán.
 
Nguồn NNVN

KỸ THUẬT GÂY TRỒNG CÂY MÂY NẾP

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> M&acirc;y nếp l&agrave; lo&agrave;i c&acirc;y th&acirc;n leo, mọc cụm. C&acirc;y m&acirc;y nếp (t&ecirc;n kh&aacute;c: M&acirc;y tắt, M&acirc;y trắng, M&acirc;y ruột gi&agrave;, M&acirc;y nh&agrave;) c&oacute; t&ecirc;n khoa học: Calamus tetradactylus Hance, thuộc họ thực vật: họ Cau (Arecaceae)</div> <div> &nbsp;</div>
Mây nếp là loài cây thân leo, mọc cụm. Cây mây nếp (tên khác: Mây tắt, Mây trắng, Mây ruột già, Mây nhà) có tên khoa học: Calamus tetradactylus Hance, thuộc họ thực vật: họ Cau (Arecaceae)
 
Mây nếp là một trong loài Mây có khu phân bố rộng nhất ở Việt Nam, tập trung nhiều ở Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình và Nghệ An. Cây mây có lóng dài, màu trắng đẹp, dẻo bền, dễ chẻ nên rất được ưa chuộng làm đồ đan lát, làm hàng mỹ nghệ. Gần đây, mây được sử dụng nhiều để đan mặt ghế và các đồ thủ công mỹ nghệ để xuất khẩu. Dưới đây xin giới thiệu một số kỹ thuật gây trồng cây mây nếp.
 
1. Nguồn giống
 
Chọn cây mẹ trên 7 tuổi mọc ở nơi quang hoặc có ngọn mọc vượt lên khỏi tán rừng hay tán cây gỗ. Hạt thu được hong khô trong nhà và cất giữ nơi khô ráo, thoáng mát để làm giống.
 
2. Tạo cây con
 
+ Đất gieo: Chọn nơi đất bằng, ẩm, thoát nước, có thành phần cơ giới nhẹ. Lên luống rộng 0,8 - 1,0 m, bón 3 - 4 kg phân chuồng hoai/1 m2 mặt luống. Nơi có nhiều kiến cần rắc vôi.
 
+ Gieo ươm: Nếu gieo quả trực tiếp phải 4 tháng hạt mới nảy mầm, còn nếu ngâm nước lạnh trong 24 giờ sau đó đãi sạch vỏ và cùi rồi xử lý bằng nước ấm 40 - 450C (2 sôi 3 lạnh) thì sau 15 - 20 ngày hạt bắt đầu nứt nanh và 30 - 45 ngày lá mầm hình kim xuất hiện.
 
Sau khi gieo hạt, cần làm giàn che bằng phên nứa hoặc thân đay... Tưới nước 2 lần/ngày để đảm bảo độ ẩm cho hạt chóng nảy mầm.
 
+ Cấy cây: Sau khi gieo 2 - 3 tháng, thấy lá mầm dạng kim đâm qua lớp đất che phủ là có thể cấy cây.
 
+ Tiêu chuẩn cây con: Cây ươm 1,5 tuổi trở lên, cao trên 20 - 30 cm với 3 - 4 lá có thể mang trồng. Nếu cây ươm rễ trần trên luống thì đánh bầu đất rộng 5 cm và trồng vào mùa xuân. Muốn vận chuyển cây con đi xa phải hồ rễ và giữ rễ luôn ẩm.
 
3. Gây trồng chăm sóc
 
+ Chuẩn bị đất trồng: Trồng mây quanh nhà, ven hàng rào, dọc mương máng, đất chuẩn bị đòi hỏi không cầu kỳ.
 
+ Mật độ: Cuốc hố trồng cây giá thể 0,5 - 1,0 m, kích thước hố 15x15x15 cm. Hố trồng đào liên tục cách nhau 1 m dọc theo hàng rào. Trường hợp giá thể là tre cần chú ý: Tre là bụi lớn, trồng mây thì mây khó sống, phát triển kém. Kinh nghiệm trong nhân dân là đào mương sâu 1 m, rộng 0,8 m cạnh hàng tre và trồng mây bên kia bờ mương cách 0,5 m, khi mây lớn cho leo lên cây tre.
 
Khi trồng mây dưới tán rừng tự nhiên: phát theo băng rộng 2 m, dọn sạch cây. Băng phát cách nhau 4 m. Kích thước hố 15x15x15 cm. Mỗi hố trồng 2 - 3 cây con.
 
+ Trồng cây: Trồng mây tốt nhất vào mùa xuân thời tiết ẩm và có mưa phùn, hoặc có thể trồng vào đầu mùa mưa. Không đào hố sâu dưới tán rừng, lá khô rụng xuống sẽ che lấp và làm chết cây con. Khi lấp đất phải nén chặt để cây mau bén rễ và lấp đất ngang cổ rễ cây để mây dễ đẻ nhánh sau này.
 
+ Chăm sóc, bảo vệ cây trồng: Trong 2 năm đầu, mỗi năm làm cỏ 2 - 3 lần kết hợp với vun xới. Hàng năm phải luỗng phát dây leo bụi rậm một lần để đảm bảo ánh sáng cho cây phát triển. Khi mây lớn và leo lên giá thể, tiến hành phát cành cây để điều chỉnh ánh sáng giúp cho mây vươn lên sinh trưởng tốt. Cần đề phòng trâu bò và châu chấu ăn lá mây non.
 
Nơi đất tốt, gần nhà, mây trồng sau 3 - 4 năm có thể thu hoạch. Mây trồng thành rừng sau 5 - 10 năm khi bẹ lá ở gốc bị chết và rụng đi, để lộ sợi mây trắng có thể thu hoạch. Sau đó 2 năm thu hoạch 1 lần. Khi thu hoạch, chặt gốc cách mặt đất 10 cm rồi lôi ra khỏi khóm mây.
 
Theo Khuyennongvn.org.vn