QUẢN LÝ VÀ CHĂM SÓC MÍA GỐC
Submitted by admin on Mon, 04/13/2026 - 10:16KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG MÍA BẰNG HOM
Submitted by admin on Mon, 04/13/2026 - 10:16KỸ THUẬT TƯỚI NƯỚC CHO CHÈ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TƯỚI NHỎ GIỌT
Submitted by admin on Mon, 04/13/2026 - 10:16Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hái chè vụ xuân
Submitted by admin on Sat, 03/14/2026 - 12:03Chè là cây lâu năm, trồng một lần cho thu hoạch 30 - 40 năm. Để có nương chè năng suất cao, đem lại hiệu quả kinh tế lâu dài đòi hỏi người trồng phải tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật.Thời vụ: Trồng tháng 2 - 3 dương lịch.
Đất trồng: Chọn đất có tầng canh tác dày trên 70cm, độ dốc dưới 25 độ, pH 4,5 - 5,5 và tỷ lệ mùn tổng số trên 2%. Có khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt, độ sâu mực nước ngầm trên 1m.
Thiết kế đồi (nương): Các đồi phải nằm trong quy hoạch tổng thể chung của vùng. Đồi chè là căn cứ để bố trí hàng nhằm tận dụng tối đa diện tích, thuận tiện tưới tiêu, chống xói mòn.
Lô: Lô tối thiểu có chiều ngang 20 - 30 hàng, dài 50 - 100m; tối đa chiều ngang 40 - 50 hàng, dài 100 - 150m. Lô quá to sẽ bất tiện cho việc chăm sóc, lô quá nhỏ sẽ mất hàng chè vào đường đi.
Hàng: Hàng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và tuổi thọ nương chè. Nơi có độ dốc bình quân dưới 6 độ thiết kế hàng theo đường bình độ chính. Độ dốc trên 6 độ bố trí hàng theo đường đồng mức.
Thiết kế đường thuận tiện cho đi lại, chăm sóc đồi chè, vận chuyển vật tư và sản phẩm thu hoạch. Đường phải có hệ thống thoát nước (trừ đường lô, đường chăm sóc phụ).
Làm đất: Làm đất vào cuối mùa mưa để đảm bảo độ ẩm và tránh xói mòn, sau đó đánh gốc bốc trà, dọn sạch cỏ dại. Làm đất kịp thời vụ, thực hiện đất chờ cây, sau đó gieo cây phân xanh.
Đất phải được làm sạch cỏ dại, không có đá, gốc cây to, san phẳng thuận tiện cho canh tác. Nên cày sâu 40 - 45cm.
Đào rạch: Miệng rạch rộng 50 - 55cm, đáy rộng 40 - 45cm, sâu 40cm. Gieo cây phân xanh vào giữa 2 hàng chè với lượng hạt 10 -12kg cốt khí/ha, bón bổ sung 100kg supe lân + 30kg urê.
Bón lót: Phân hữu cơ: 20 - 25 tấn/ha, supe lân 500 - 600 kg/ha. Phân hữu cơ + phân lân trộn đều với đất rải mỏng theo rạch, bón trước khi trồng 1 tháng.
Chọn giống: Trồng các giống chè nhập từ Trung Quốc như: Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên, Thuý Ngọc… Cây giống khi xuất vườn phải đủ 8 - 10 tháng tuổi trong vườn ươm, cao 20 - 25cm, có từ 6 lá thật trở lên, đường kính gốc trên 2,5mm, thân hoá nâu 1/2 chiều cao cây trở lên, cứng cây, nguyên bầu đất, không lẫn giống, không bị sâu bệnh.
Mật độ - khoảng cách: Giống có lá nhỏ, thân bụi như Kim Tuyên, Thuý Ngọc... trồng 2,5 - 2,7 vạn cây/ha, hàng cách hàng 1,2 - 1,3cm, cây cách cây 0,3m. Giống lá to, thân gỗ nhỏ như Bát Tiên, Phúc Vân Tiên... trồng 2,0 - 2,2 vạn cây/ha, hàng cách hàng 1,3m, cây cách cây 0,35 - 0,4m.
Cách trồng: Tranh thủ những ngày có mưa, đất đủ ẩm để trồng chè.
Trên rạch đã đào và phân đã được lấp tiến hành bổ hố sâu và trồng theo đúng mật độ, khoảng cách. Dùng dao rạch bầu PE, tránh làm giập nát biến dạng bầu đất. Đặt bầu đứng, chóp lá hướng về phía Tây đối với nương chè có diện tích nhỏ. Nếu độ dốc cao thì đặt bầu đứng, phần thân nghiêng dựa vào sườn đất. Lá mẹ chừa trên mặt đất, lấp toàn bộ cổ rễ và lấp chặt đất xung quanh.
Sau khi trồng xong phải phủ cỏ quanh gốc. Đảm bảo duy trì ẩm độ 80 - 85%. Thường xuyên kiểm tra và trồng dặm. Đảm bảo trên rạch chè luôn sạch cỏ dại.
Chăm sóc và thu hái chè:
Khoảng tháng 3-4 hàng năm là thời gian thích hợp để chăm sóc và thu hái chè vụ xuân. Để chè luôn đạt năng suất, chất lượng cao, bà con nên chú ý những biện pháp kỹ thuật sau:
Làm cỏ: Đối với chè kiến thiết cơ bản (KTCB), thường xuyên làm sạch cỏ.
Với chè kinh doanh, làm cỏ trên toàn bộ nương chè, dùng cuốc hoặc tay móc cỏ ở gốc, xới sạch cỏ giữa 2 hàng chè, sau đó tủ cỏ vào gốc để giữ ẩm. Nếu có điều kiện, cày giữa 2 hàng chè để đất tơi xốp. Phát quang bụi rậm quanh đường lô, đường ven đồi chè nhằm hạn chế sâu bệnh trú ngụ.
Đối với chè trồng cải tạo thay thế, bà con cần đốn 2 bên hàng chè cũ để chè trồng mới không bị ảnh hưởng.
Bón phân: Sau khi làm cỏ xong, tiến hành bón phân cho chè với lượng 20 tấn phân hữu cơ + 300kg supe lân/ha. Cày rạch rộng 20cm, sâu 30cm, bón phân lấp kín đất.
Chè KTCB 2 – 3 năm sau trồng (tính cho 1ha):
- Chè 1 tuổi: 130kg urê + 250kg supe lân + 90kg kali.
- Chè 2 tuổi: 195kg urê + 250kg supe lân + 120kg kali.
- Chè 3 tuổi: 260kg urê + 333kg supe lân + 180kg kali.
Chè kinh doanh: Với nương chè năng suất 4-6 tấn búp/ha, lượng phân bón là 200-240kg urê + 200 – 300kg lân + 120 – 160kg kali. Năng suất chè càng cao thì lượng phân bón càng lớn. Cách bón:
+ Đạm 1 năm bón 4 lần vào các tháng 2 (40%), tháng 5 (30%), tháng 8 (20%), tháng 10 (10%).
+ Kali 1 năm bón 3 lần vào tháng 5 (40%), tháng 8 (40), tháng 10 (20%).
+ Supe lân: 1 năm bón 2 lần vào tháng 2 (50%), tháng 8 (50%). Trộn đều phân, bón sâu 6-8cm, sau đó lấp kín đất.
Trồng cây che bóng: Chè ưa ánh sáng tán sạ vì vậy cần bố trí cây che bóng trên nương chè hợp lý bằng cây muồng, mật độ 120 – 150 cây/ha. Cách 4 hàng chè trồng một hàng cây bóng mát, cây cách cây 10m.
Thu hái:
- Chè 1 tuổi: Chỉ hái những cây cao trên 60cm.
- Chè 2 tuổi: Vẫn để bộ lá nuôi cây, hái nhẹ những cành cao trên 65cm.
- Chè 3 tuổi: Bắt đầu hái nhưng vẫn phải nuôi tán, lần hái đầu rất quan trọng, chỉ được hái những búp cao trên 65cm (hái 1 tôm và 2-3 lá non). Những cành thấp đọt chưa đủ lá, không hái.
Với chè kinh doanh, bà con cần thực hiện hái san trật khi trên tán có 30% số búp đủ tiêu chuẩn. Vụ xuân (tháng 3-4), hái 1 tôm và 2-3 lá non, để lại trên tán 2 lá chừa. Nếu chè tốt có thể chừa lại 1 lá, chè xấu chừa 3 lá nhằm tạo bộ tán hợp lý nuôi cây, những búp vượt giữa tán, hái sát lá cá hoặc để lại một lá chừa tạo mặt tán phẳng giúp cho các lứa sau sinh trưởng đồng đều. Bà con không được dùng dao, kéo để hái chè vì gây ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và quá trình sinh trưởng của các lứa chè sau.
BBT
Quy trình kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp giâm hom 2 giống bạch đàn UG24, UG54 tại Bắc Giang
Submitted by admin on Sat, 03/14/2026 - 12:03Nhân giống bằng hom (cutting propagation) là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới gọi là cây hom. Nhân giống hom là phương thức nhân giống giữa được các biến dị di truyền của cây mẹ lấy cành cho cây hom, giữ được ưu thế lai của đời F1 và khắc phục được hiện tượng phân ly ở đời F2, rút ngắn chu kỳ sinh sản và thời gian thực hiện chương trình cải thiện giống cây rừng và là phương thức góp phần bảo tồn nguồn gen cây rừng. Nhân giống bằng hom cũng là phương pháp có hệ số nhân giống lớn nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả.
II. KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC VƯỜN VẬT LIỆU
1. Trồng vườnvật liệu
1.1. Chọn lập địa trồng vườn vật liệu
Vườn giống lấy hom được xây dựng gần vườn ươm,chọn gần khu nhân giống;
Đất tương đối tốt, có tầng đất sâu từ 50cmtrở lên, thoát nước tốt;
Làm đấttoàn diện (cày bừa kỹ, đất phải được làm sạch cỏ dại...)
1.2. Trồng vườn vật liệu
Biện pháp kỹ thuật: Tạo luống trồng cây với bề rộng 1m÷1,2m, cao 20-30cm, luống cách luống 0,4m-0,5m. Bón lót 0,1 kg phân NPK(5:10:3)/cây. Trồng cây trên luống với mật độ 20 cm x 20cm, các giống được trồng riêng rẽ, Cây giống lấy hom là cây mô hoặc cây hom cây hom thế hệ đầu nhân từ cây mô của giống gốc.
-Làm cỏ, vun gốc sau khi trồng 1 tháng và lặp lại theo định kỳ 2 tháng 1 lần. Khi cây cao khoảng 40 cm thì có thể cắt tạo chồi lần đầu,cắt ngọn, tạo tán để tạo hom,tạo chồi lần đầu được tiến hành cắt bỏ phần ngọn cây ở độ cao 25-30cm từ vị trí mặt đất, rồi phun Ben lát nồng độ 0,15-0,3% ướt cả cây để khử trùng,sau mỗi đợt cắt hom phải phun Ben lát nồng độ 0,15-0,3%, tiến hành làm cỏ, xới đất, bón phân và vun gốc cho cây.
2. Chăm sóc vườn vật liệu
- Định kỳ làm cỏ cho vườn vật liệu giống
- Tuỳ theo điều kiện của thời tiết khoảng 1 tuần tưới cho cây ở vườn vật liệu một lần, lượng nước tưới 5-6lít/lm2vườn vật liệu;
- Mùa giâm hom kéo dài liên tục từ tháng 4 đến tháng 12trong năm, trước mùa giâm hom 2 tháng bón thúc cho vườn vật liệu với liều lượng 0,1 kg phân NPK(5:10:3)/câyđể cây ra nhiều chồi hữu hiệu;
- Hàng năm trước mùa giâm hom phải đốn tạo chồi và làm trẻ hóacho vườn vật liệu lấy hom (trước mùa giâm hom 2 tháng). Mỗi lần cắt hom phải tạo tán cho từng cây trong vườn vật liệu.Thời gian duy trì cây giống để lấy hom không quá 4 năm kể từ khi trồng, sau đó phải thay bằng cây mô mới hoặc cây hom thế hệ đầu nhân từ cây mô.
III. KỸ THUẬT GIÂM HOM
1. Lựa chọn cành cắt hom
- Lấy từ cành cấp một và/hoặc cấp hai khỏe mạnh, sức sống tốt, không có biểu hiện bị sâu bệnh, cành mọc thẳng hoặc nghiêng không quá 30° so với thân chính, hom nửa hóa gỗ, có ngọn chính và có từ 3 đến 4 lá hoàn chỉnh.
2. Cắt cành hom
- Dùng kéo cắt cành hoặc kéo to cắt các cành chồi vượt đủ tiêu chuẩn (khi cắt phải để lại 1÷2 nách lá của cành lấy hom để tạo chồi cho lần cắt sau). Sau khi cắt xong đem ngay về khu nhà giâm để tiến hành giâm hom.
- Cắt cành hom vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát và cành hom đã cắt không được để trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời và để sang ngày hôm sau.
3. Cắt hom
- Từ cành hom chọn các đoạn hom ngọn (hom đoạn một) dài 6 ÷ 15 cm (tùy mùa sinh trưởng), hoặchom đoạn hai có 2÷3 nách lá.
- Dùng dao sắc hoặc kéo cắt các đoạn hom đã chọn, cắt vát gốc hom 45°, tránh giập hom.
- Cắt bỏ 1 ÷ 2 lá phía dưới để lại 1 ÷ 2 lá phía trên, cắt bỏ 2/3 phiến lá.
4. Khử trùng hom
- Hom đã cắt phải ngâm ngay trong dung dịch Benlat nồng độ 0,3% trong 10-20 phút. Sau đó vớt hom ra khay cho ráo nước.
- Giá thể giâm hom là cát: phải được đảo đều và phơi khô dưới nắng 3 ÷ 4 ngày hoặc là cát mới chưaqua sử dụng, trước khi cấy hom phải tưới đủ ẩm (độ ẩm 70 ÷ 75%) và dùng dung dịch Benlat 0.3% tưới đều lên toàn bộ mặt luống.
- Giá thể là bầu đất: sử dụng Benlat nồng độ 0,3% hoặc bằng thuốc tím (KMnO4) nồng độ 0,1% phun đều lên giá thể với lượng phun 10 lít trên 100 m2.
5. Cấy cây hom
5.1 Kỹ thuật cấy cây hom
- Chấm hom vào thuốc kích thích ra rễ IBA dạng dung dịch nồng độ 1000 ppm hoặc dạng bột nồng độ 1% theo thể tích sao cho thuốc phủ kín mặt cắt hom và cấy ngay vào luống giâm hom.
- Hom cắt lần nào phải cấy ngay trong ngày và không được để qua đêm.
- Độ sâu cấy hom thông thường 2 ÷ 3 cm.
5.2 Bầu cấy cây
- Hỗn hợp ruột bầu phải tơi xốp, không lẫn đá, sỏi cuội, có khả năng giữ ẩm tốt và đủ nguồn dinh dưỡng. Hỗn hợp ruột bầu phải được xử lý không bị nhiễm các loại nấm và vi khuẩn gây hại.
- Các yêu cầu cụ thể đối với hỗn hợp ruột bầu như sau:
- pHH2O: 5,0 đến 6,0.
- Thành phần cơ giới đất theo thể tích:
- Cát: không quá 10%.
- Sét: không quá 30 %.
- Tỷ lệ chất độn thô (phân chuồng hoai, than bùn, than trấu...): tối thiểu 10% theo thể tích.
Túi bầu
- Chất liệu:polyetylen có độ dày 0,2 mm.
- Hình dạng: hình khối trụ tròn.
- Kích thước (đường kính x chiều cao): tối thiểu 6x10cm.
- Lỗ thoát nước được phân bố đều ở xung quanh và đáy của túi bầu, 6÷8 lỗ/bầu với kích thước lỗ 6 ÷8 mm, có thể dùng túi bầu không đáy có cùng chất liệu, hình dạng và kích thước.
6. Chăm sóc cây
6.1. Chăm sóc cây ở nhà giâm hom
- Sau khi cấy xong, phải phun tưới hom giâm cho mặt lá đủ ẩm và phủ kín lều giâm hom bằng nilon trắng để giữ ẩm. Những ngày nắng gắt thì phải tăng độ tàn che của lều giâm để giảm bớt nhiệt độ trong lều giâm hom.
- Việc tưới phun cho hom giâm phải được tiến hành hàng ngày đặc biệt là 15 ÷ 20 ngày đầu sau khi giâm hom. Lều giâm hom có trang bị hệ thống phun sương tự động hoặc bán tự động thì mỗi lần phun khoảng 10 ÷ 15 giây thời gian cách quãng giữa hai lần phun trong các ngày nắng gắt là 30 ÷ 40 phút, trong các ngày giâm mát là 60 ÷ 70 phút (tùy theo điều kiện thời tiết cụ thể mà có lịch phun cho cụ thể).
- Khi cây đã ra rễ thì dỡ nilon, giảm dần độ che sáng và tưới đủ ẩm. Sau khoảng thời gian 7 ÷ 10 ngày cây đi vào ổn định thì chuyển cây ra vườn ươm.
6.2. Chăm sóc cây hom ờ vườn ươm
- Sau khi cây hom được chuyển ra vườn ươm thì hàng ngày tưới nước cho cây vào sáng sớm và chiều mát.
- Định kỳ 10 ÷ 15 ngày làm cỏ phá váng cho cây. Thỉnh thoảng phun thuốc chống nấm một lần có thể là Benlat hoặc lưu huỳnh vôi.
ĐT
Kỹ thuật chăm sóc chè PH11 phù hợp với điều kiện của huyện Yên Thế
Submitted by admin on Sat, 03/14/2026 - 12:03;height:29px;">
4
2 ; 4 ; 6 ; 8
Năng suất búp từ 80-120 tạ/ha
N
180-300
3-5
2 ; 4 ; 6 ; 8
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín
P2O5
100-160
1
2 ; 8
K2O
120-200
2-3
2 ; 4 ; 6 ; 8
Năng suất búp từ 120 tạ/ha
N
300-600
3-5
2 ; 4 ; 6 ; 8
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín
P2O5
160-200
1
2 ; 8
K2O
200-300
2-3
2 ; 4 ; 6 ; 8
2. Phòng trừ cỏ dại
2.1. Đối với chè kiến thiết cơ bản
- Xới cỏ, đảm bảo cỏ sạch quanh năm trên hàng chè.
- Riêng chè 1 tuổi cần nhổ cỏ tay ở gốc chè để bảo vệ được cây chè. Giữa hàng trồng xen cây phân xanh, đậu đỗ, hoặc bừa xới sạch cỏ.
- Vụ Xuân (tháng 1 – 2) và vụ Thu (tháng 8 – 9) xới sạch toàn bộ diện tích 1 lần/vụ.
- Trong năm xới gốc 2-3 lần, rộng 30 – 40 cm về hai bên hàng chè.
2.2. Đối với chè kinh doanh
- Vụ Đông Xuân: Xới sạch cỏ dại, cây giữa hàng hoặc phay sâu 10cm, lấp phân và cành lá già sau khi đốn, nếu hạn không cày được thì xới sạch toàn bộ.
- Vụ Hè Thu: Đào gốc cây dại, phát luổng hoặc xới cỏ gốc giữa hàng, bừa 3-4 lần hoặc phay sâu 5cm.
- Đồi chè được tủ cỏ, rác kín đất trong vụ Đông Xuân thì bớt các khâu làm cỏ trong vụ Hè Thu. Khi tủ cần tủ lượng dầy 10cm bằng các chất liệu xác thực vật không có khả năng tái sinh.
ĐT t/h
KỸ THUẬT PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH VÀ TẠO TÁN CHO CÂY CHÈ PH11 PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN CỦA HUYỆN YÊN THẾ
Phòng trừ sâu bệnh hại chè bằng biện pháp tổng hợp đảm bảo hợp lý về kinh tế và bền vững dựa trên sự phối hợp biện pháp trồng trọt, sinh học, di truyền chọn giống và hoá học, nhằm đạt sản lượng cao nhất với tác hại ít nhất trong môi trường.
1. Phải kiểm tra thường xuyên, phát hiện sớm để tập trung phòng trừ. Các biện pháp phòng từ cụ thể:
* Biện pháp canh tác: cày bừa diệt cỏ, vệ sinh nương đồi, lấp đất diệt nhộng, diệt mầm bệnh, bón phân hợp lý, thay đổi thời kỳ đốn, hái chạy non để loại trừ bỏ trứng sâu, mầm bệnh.
* Biện pháp sinh học, sinh thái: Trồng cây bóng mát với loại thích hợp và có mật độ đảm bảo độ ẩm trên nương chè. Hạn chế đến mức thấp nhất thuốc hoá học để đảm bảo duy trì tập đoàn thiên địch có ích, cân bằng sinh thái trên nương chè.
* Biện pháp hoá học:
- Không phun theo định kỳ.
- Thực hiện biện pháp phòng chống sâu bệnh hại theo phương pháp điều tra, chỉ thực hiện phun thuốc khi mật độ sâu hại phát sinh gây hại vượt ngưỡng:
+Mật độ Rầy xanh vượt 5 con/khay tỷ lệ rầy non trên 20% số cá thể;
+Mật độ Nhện đỏ trên 5 con/lá;
+Mật độ Bọ trĩ trên 2 con/búp;
+Tỷ lệ búp bị Bọ xít muỗi hại trên 12% (triệu chứng mới bị hại).
- Lượng dung dịch thuốc bảo vệ thực vật cần phun 1 lần cho 1ha tuỳ thuộc vào diện tích tán chè và năng suất nương chè, nương chè có:
+ Năng suất trên 9-15 tấn cần phun 600 - 900 lít/ha;
+ Năng suất 5-9 tấn: 400- 600 phun lít/ha;
Dùng thuốc đúng chỉ dẫn về loại, liều lượng dùng đối với các đối tượng sâu, bệnh hại. Thời gian cách ly đảm bảo ít nhất 10 – 15 ngày mới được thu hái búp chè.
2 Đốn chè
2.1 Đốn tạo hình
- Lần 1: Đốn thân chính cách mặt đất 20- 25 cm, cành bên 35 cm-40 cm.
- Lần 2: Đốn nâng độ cao so vết đốn cũ của thân chính lên 10-20 cm tuỳ theo giống có thân bụi hay thân gỗ. Đốn mặt tán bằng.
2.2. Đốn phớt
- Hai năm đầu, mỗi năm đốn trên vết đốn cũ 5cm. Sau đó mỗi năm đốn cao thêm 3cm, khi vết đốn dưới cùng cao 70cm so với mặt đất thì hàng năm chỉ đốn cao thêm 1cm so vết đốn cũ.
- Tuyệt đối không cắt tỉa cành la, đảm bảo độ che phủ, khép tán trên nương.
Đối với nương chè sinh trưởng yếu, tán lá thưa mỏng, có thể áp dụng chu kỳ đốn cách năm: 1 năm đốn phớt như trên, 1 năm đốn sửa bằng tán chỉ cắt phần cành xanh.
2.3. Đốn lửng
Những đồi chè đã được đốn phớt nhiều năm, vết đốn cao quá 90cm so với mặt đất, nhiều cành tăm hương, u bướu, búp nhỏ, năng suất giảm thì đốn lửng cách mặt đất 60 – 65cm; hoặc chè năng suất giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 70 – 75 cm.
2.4. Đốn đau
Những đồi chè được đốn lửng nhiều năm, cành nhiều mấu, cây sinh trưởng kém, năng suất giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 40 - 45cm.
2.5. Đốn trẻ lại
Những nương chè già, cằn cỗi đã được đốn đau nhiều lần, năng suất giảm nghiêm trọng thì đốn trẻ lại cách mặt đất 10 – 25cm.
2.6. Thời vụ đốn
- Từ tháng 12 đến hết tháng 1.
- Nơi thường bị sương muối đốn muộn hơn, đốn sau đợt sương muối nặng.
- Đốn đau trước, đốn phớt sau.
- Đốn tạo hình, chè con trước, đốn chè trưởng thành sau.
Đối với vùng đảm bảo độ ẩm, hoặc có điều kiện chủ động tưới chè và thu hoạch chè vụ đông có thể đốn một phần diện tích vào tháng 4 - 5 sau đợt chè xuân góp phần rải vụ thu hoạch chè.
2.7. Cách đốn và dụng cụ đốn
- Đốn tạo tán có mặt nghiêng theo sườn dốc, không làm dập cành, sây sát vỏ.
- Đốn đau, đốn lửng, đốn tạo hình lần đầu thì dùng dao. Đốn phớt, đốn tạo hình lần 2 thì dùng kéo hoặc dao. Đốn trẻ lại, sửa cành lớn chè giống thì dùng cưa.
- Đối với các giống chè có phân cành nhiều, mật độ cành lớn, sinh trưởng đỉnh đều thì có thể áp dụng máy đốn để nâng cao năng suất lao động. Có thể dùng máy đốn chè Nhật Bản E7B-750 để đốn chè hay dùng máy cắt cỏ cải tiến.
3. Tưới chè
- Nơi có điều kiện về nguồn nước, khả năng đầu tư thì có thể tiến hành tưới cho chè khi độ ẩm đất dưới 60% sức chứa ẩm đồng ruộng (vào các tháng hạn, từ tháng 11-4 năm sau và khi vào vụ chè chính 15 ngày không có mưa).
- Tưới theo phương pháp phun mưa bề mặt với vòi tưới di động hoặc cố định cho hiệu quả cao, chỉ tưới nước đủ điều kiện an toàn cho phép.
4. Thu hoạch và bảo quản.
4.1. Thu hoạch
4.1.1. Hái tạo hình chè kiến thiết cơ bản.
- Đối với chè 1 tuổi: hái bấm ngọn những cây cao 60cm trở lên.
- Đối với chè 2 tuổi: hái búp trên những cây to khoẻ và cách mặt đất 55cm trở lên.
4.1.2. Hái tạo hình sau khi đốn
- Đối với chè đốn 1 lần: đợt đầu hái cách mặt đất 40 - 45cm, tạo thành mặt phẳng nghiêng theo sườn dốc. Đợt 2 hái búp chừa lại 2 lá thật và lá cá.
- Đối với đốn lần 2: Đợt đầu hái cao hơn chè đốn lần 1 từ 25-30cm, các đợt sau hái sau để chừa như kỹ thuật để chừa theo thời vụ.
4.1.3. Hái chè kinh doanh
a) Hái kỹ, tạo mặt tán phẳng
Hái 1 tôm 2, 3 lá non tuỳ theo mục đíchchế biến là chè xanh chất lượng cao hay chè đen mà hái búp cho phù hợp. Phần chừa lại cách vết đốn 10-15 cm tuỳ theo giống chè. Tạo mặt tán bằng, lần hái sau chừa theo qui trình hiện hành. Thời gian hái của một lứa phụ thuộc vào yêu cầu nguyên liệu và công nghệ chế biến mặt hàng chè.Thời gian trung bình giữa hai lứa hái tay 10-12 ngày.
b. Thời vụ hái và kỹ thuật để chừa
- Vụ xuân (tháng 3-4) hái chừa 2 lá và lá cá, tạo tán bằng.
- Vụ hè thu (tháng 5-10): hái chừa 1 lá và lá cá, tạo tán bằng.
- Vụ thu đồng (tháng 11-12): tháng 11 hái chừa lá cá, tháng 12 hái cả lá cá.
8.1.4. Hái trên nương chè đốn trẻ lại, đốn đau
Tiến hành hái như đối với chè kiến thiết cơ bản.
4.2. Bảo quản
Chè búp tươi thu xong phải để nơi râm mát, bỏ trong sọt không nén chặt, không đựng trong bao kín, không để héo, lẫn bẩn với vật lạ, tạp chất, đưa đến nơi chế biến không quá 4 tiếng./.
ĐT t/h
1. Kỹ thuật chăm sóc
1.1. Giặm cây con
- Nương chè phải được giặm cây con ngay từ năm đầu sau trồng vào những chỗ mất khoảng. Bầu cây con đem giặm có cùng tuổi cây trồng trên nương, đã được dự phòng 10%.
- Bón thêm mỗi cây 1,0 kg phân chuồng tốt trước trồng giặm.
- Trồng giặm cây vào ngày râm mát, mưa nhỏ hoặc sau mưa to.
- Giặm chè cần được tiến hành liên tục trong thời kỳ nương chè kiến thiết cơ bản (2-3 năm), đảm bảo nương chè đông đặc, đồng đều. Trồng giặm tốt nhất vào thời vụ xuân sớm (tháng 2-3), mưa nhỏ, đất vừa ẩm.
- Đối với nương chè tuổi lớn mất khoảng tiến hành trồng giặm cây con 14-16 tháng tuổi, chiều cao 35- 40cm sau khi bấm ngọn. Kích thước bầu lớn 25x12cm, bầu đất được đóng với tỷ lệ 3 phần đất + 1 phần phân hữu cơ hoai mục đã được ủ với phân lân.
1.2. Bón phân
1.2.1. Bón lót trước khi trồng
Bón lót trước khi trồng 10-15 tấn phân hữu cơ và 800 kg supelân, trộn phân đều vào rãnh, khi cây chè vào tuổi 2 bón tiếp 10-15 tấn phân chuồng.
1.2.2. Bón phân cho 1ha chè kiến thiết cơ bản (2-3 năm sau trồng) theo bảng sau
|
Loại chè |
Loại phân |
Lượng phân (kg) |
Số lần bón |
Thời gian bón (vào tháng) |
Phương pháp bón |
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
|
Chè tuổi 1 |
N |
40 |
2 |
2-3 và 6-7 |
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín |
|
P2O5 |
30 |
1 |
2-3 |
||
|
K2O |
30 |
1 |
2-3 |
||
|
Hữu cơ |
10.000- 15.000 |
1 |
8-9 |
Bón vào rạch chè, lấp đất kín |
|
|
Chè tuổi 2 |
N |
60 |
2 |
2-3 và 6-7 |
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín |
|
P2O5 |
30 |
1 |
2-3 |
||
|
K2O |
40 |
1 |
2-3 |
||
|
Đốn tạo tán lần 1 (2 tuổi) |
Hữu cơ |
10.000- 15.000 |
1 |
10-11 |
Trộn đều, bón rạch sâu 15-20cm, cách gốc 30-40cm, lấp kín |
|
P2O5 |
100 |
1 |
10- 11 |
||
|
Chè tuổi 3 |
N |
80 |
2 |
2-3 và 6-7 |
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 30-40cm, lấp kín |
|
P2O5 |
40 |
1 |
2-3 |
||
|
K2O |
60 |
2 |
2-3 và 6-7 |
1.2.3 Bón phân cho mỗi ha chè kinh doanh theo bảng sau
|
Loại chè |
Loại phân |
Lượng phân (kg) |
Số lần bón |
Thời gian bón (vào tháng) |
Phương pháp bón |
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
|
Các loại hình kinh doanh 3 năm một lần |
Hữu cơ |
25.000-30.000 |
1 |
12-1 |
Bón vào rạch chè, lấp đất kín |
|
P2O5 |
100 |
1 |
12-1 |
||
|
Năng suất búp dưới 60 tạ/ha |
N |
100-120 |
3-4 |
2 ; 4 ; 6 ; 8 |
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín |
|
P2O5 |
40-60 |
1 |
2 |
||
|
K2O |
60-80 |
2 |
2 ; 4 ; 6 ; 8 |
||
|
Năng suất búp từ 60-80 tạ/ha |
N |
150-180 |
3-4 |
2 ; 4 ; 6 ; 8 |
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín |
|
P2O5 |
60-100 |
2 |
2 ; 8 |
||
|
K2O |
60-100 |
Quy trình kỹ thuật trồng chè PH8 và giống chè kim tuyên phù hợp với điều kiện tự nhiên của huyện Yên Thế
Submitted by admin on Sat, 03/14/2026 - 12:03Giống PH8 được chọn lọc từ tổ hợp lai giữa giống chè TRI777 và Kim Tuyên từ năm 1998 tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc.
Giống PH8 đã được Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn họp ngày 12/1/2009 đề nghị công nhận giống tạm thời và cho phép sản xuất thử tại Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang và Sơn La.
1. Điều kiện sinh thái
1.1. Khí hậu
- Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm: 18-230C
- Độ ẩm không khí trung bình hằng năm: >80%.
- Lượng mưa hàng năm: >1.200mm.
1.2. Đất đai
- Lựa chọn vùng sản xuất nguyên liệu phải thuộc vùng quy hoạch sản xuất chè được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Đất có tầng dày canh tác từ 50cm trở lên, kết cấu tơi xốp.
- Mạch nước ngầm ở sâu dưới mặt đất từ 100cm trở lên.
- Độ pHKCl từ 4,0-6,0, tỷ lệ mùn tổng số từ 2,0% trở lên.
- Độ dốc bình quân đồi không quá 250.
2. Thiết kế đồi nương
2.1. Thiết nương đồi chè
- Thiết kế từng đồi phải nằm trong thiết kế tổng thể chung toàn vùng.
- Thiết kế đồng bộ ngay từ đầu hệ thống đường, các công trình phụ trợ cây phân xanh, che bóng, chắn gió; Những nơi thuận lợi cần làm đập, hồ chứa nước chân đồi, bể chứa nước, hệ thống tưới nước, hố ủ phân trên đồi.
- Thiết kế hàng:
+ Nơi đồi có độ dốc bình quân 60 trở xuống (cục bộ có thể lên tới 80): Thiết kế hàng chè thẳng theo hàng dài nhất, song song với đường bình độ chính, hàng cụt xếp ở bìa lô.
2.2. Hệ thống đường
|
Loại đường |
Vị trí |
Bề rộng mặt đường (m) |
Độ dốc mặt đường (độ) |
Độ nghiêng vào trong đồi (độ) |
Các yêu cầu khác |
|---|---|---|---|---|---|
|
(1) |
(2) |
(3) |
(4) |
(5) |
(6) |
|
1. Trục đường chính |
Xuyên giữa hai khu chè |
5-6 |
5 |
- |
Hai mép trồng cây, có hệ thống rãnh thoát nước hai bên |
|
2. Đường liên đồi |
Nối đường trục với các đồi hoặc các đồi với nhau |
4-5 |
6 |
6 |
Mép ngoài trồng cây |
|
3. Đường lên đồi |
Nối đường liên đồi với đỉnh và đường vành đồi |
3-4 |
8-10 |
5 |
Có rãnh thoát nước phía trong. Có vòng quay xe ở ngã ba. Mép ngoài trồng cây thưa
|
|
4. Đường vành đồi |
Đường vành chân đồi và cách 30-50m theo sườn đồi có một đường |
3-4 |
1-2 |
6-7 |
Mép ngoài trồng cây thưa |
|
5. Đường lô |
Cắt ngang (đồi phẳng) hay cắt chéo hàng chè (đồi dốc) cách nhau 150-200m. |
3-4 |
10-12 |
- |
Sửa theo mặt đất tự nhiên, không có rãnh thoát nước |
|
6. Đường chăm sóc |
Trong lô chè, cách nhau 57-70m, cắt ngang hay chéo hàng chè. |
1,2-1,3 |
10-12 |
- |
Sửa theo mặt đất tự nhiên, không có rãnh thoát nước |
2.3. Thiết kế hạng mục phụ trợ
- Có đai rừng chắn vuông góc với hướng gió chính, cách 200 - 500m có 1 đai rộng 5-10m, có kết cấu thoáng, nơi thuận lợi thì bố trí thêm đai rừng vành chân và đỉnh đồi.
- Cứ 5 - 10ha có một lán trú mưa, nắng. Cứ 3 - 4 ha có một bể chìm chứa nước 3-5m3, bình quân 1m3 nước/ha cho phun thuốc. Cứ 2 - 3ha có một hố ủ phân hữu cơ tại chỗ, dung tích chứa 8 -10m3 /đợt ủ.
3. Kỹ thuật gieo trồng
3.1. Làm đất
Việc làm đất trồng chè phải đạt yêu cầu sâu, sạch, ải, vùi lớp đất mặt có nhiều hạt cỏ xuống dưới, san ủi những điểm dốc cục bộ.
- Làm đất theo cách cày sâu toàn bộ bề mặt, sâu 20 - 25cm, bừa san. Trường hợp không cày toàn bộ bề mặt cũng phải đào rãnh trồng. Đào rãnh trồng chè sâu 40 - 45cm, rộng 50 - 60cm. Lấp đất mặt xuống dưới, lấp đất cái trên cách mặt đất 5-10cm.
- Thời vụ làm đất: làm đất vào thời gian ít mưa (dưới 150mm/tháng) tránh xói mòn.
3.2. Giống chè
Giống chè đảm bảo tiêu chuẩn: cây sinh trưởng trong vườn ươm từ 8 -12 tháng tuổi. Cây cao từ 20 cm trở lên, có 6 - 8 lá thật, đường kính sát gốc từ 4 - 5mm trở lên, vỏ phía gốc mầu đỏ nâu, phía ngọn xanh thẫm; lá chè to, dày, xanh đậm, bóng láng; không có nụ hoa.
3.3. Thời vụ trồng
Có thể trồng hai thời vụ trong năm:
- Vụ xuân: trồng từ tháng 2 đến tháng 4.
- Vụ thu: trồng từ tháng 8 đến tháng 10.
Ưu tiên trồng vụ thu hơn vì vụ thu sẽ cho tỷ lệ sống cao hơn.
3.4. Trồng cây chè
Có thể trồng hàng đơn hoặc hàng kép.
- Những nơi có điều kiện thâm canh cao có thể trồng hàng kép: với mật độ 2,5 vạn cây/ha. Khoảng cách hàng sông là 1,4m, khoảng cách hàng kép là 0,4m, khoảng cách cây là 0,4m.
- Trồng hàng đơn: Với mật độ 2,2 vạn cây/ ha. Khoảng cách trồng: Hàng x hàng = 1,3 m, cây x cây= 0,35 m (rạch trồng chè rộng 30-40 cm).
3.5. Trồng cây sau khi đã bỏ túi bầu
Đặt bầu vào hố hay rạch, lấp đất, nén đất đều xung quanh bầu, lấp phủ lớp đất tơi trên vết cắt hom 1-2cm, đặt mầm cây theo một hướng xuôi chiều gió chính.
Trồng xong tủ cỏ, rác hai bên hàng chè hay hốc trồng dày 8-10cm, rộng 20-30cm mỗi bên. Loại cỏ, rác dùng để tủ là phần không có khả năng tái sinh.
3.6. Trồng cây phân xanh, che bóng
- Cây phân xanh là các loại cây có khả năng cải tạo đất, làm phân bón tăng chất dinh dưỡng cho cây chè, tốt nhất là các cây họ đậu.
- Thời vụ gieo: từ tháng 1- 4 hàng năm, ngay sau khi làm đất, trồng chè.
- Cách gieo: cây hàng năm gieo giữa hàng, mật độ tùy theo loại cây, cách gốc chè ít nhất 40cm về mỗi bên. Cây phân xanh lưu niên 2 - 4 năm (các loại muồng, cốt khí) kiêm che bóng tạm được gieo theo cụm một đường giữa hai hàng chè, khoảng cách tâm cụm 30-40cm, mỗi cụm đường kính 3-5cm.
- Cây bóng mát bộ đậu, thân gỗ, tán thưa, rộng, không tranh chấp nước với cây chè về mùa đông, được trồng cùng hàng hay giữa hai hàng chè, mật độ từ 150-250 cây/ha, trồng bằng cây ươm bầu, đảm bảo che bóng 30 - 50% ánh sáng mặt trời.
ĐT
Quy trình kỹ thuật chăm sóc chè PH8 và giống chè kim tuyên phừ hợp với điều kiện tự nhiên của huyện Yên Thế
Submitted by admin on Sat, 03/14/2026 - 12:03"width:12.36%;height:24px;">
P2O5
60-100
2
2 ; 8
K2O
60-100
4
2 ; 4 ; 6 ; 8
Năng suất búp từ 80-120 tạ/ha
N
180-300
3-5
2 ; 4 ; 6 ; 8
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín
P2O5
100-160
1
2 ; 8
K2O
120-200
2-3
2 ; 4 ; 6 ; 8
Năng suất búp từ 120 tạ/ha
N
300-600
3-5
2 ; 4 ; 6 ; 8
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín
P2O5
160-200
1
2 ; 8
K2O
200-300
2-3
2 ; 4 ; 6 ; 8
4. Phòng trừ cỏ dại
4.1. Đối với chè kiến thiết cơ bản
- Xới cỏ, đảm bảo cỏ sạch quanh năm trên hàng chè.
- Riêng chè 1 tuổi cần nhổ cỏ tay ở gốc chè để bảo vệ được cây chè. Giữa hàng trồng xen cây phân xanh, đậu đỗ, hoặc bừa xới sạch cỏ.
- Vụ Xuân (tháng 1 – 2) và vụ Thu (tháng 8 – 9) xới sạch toàn bộ diện tích 1 lần/vụ.
- Trong năm xới gốc 2-3 lần, rộng 30 – 40 cm về hai bên hàng chè.
4.2. Đối với chè kinh doanh
- Vụ Đông Xuân: Xới sạch cỏ dại, cây giữa hàng hoặc phay sâu 10cm, lấp phân và cành lá già sau khi đốn, nếu hạn không cày được thì xới sạch toàn bộ.
- Vụ Hè Thu: Đào gốc cây dại, phát luổng hoặc xới cỏ gốc giữa hàng, bừa 3-4 lần hoặc phay sâu 5cm.
- Đồi chè được tủ cỏ, rác kín đất trong vụ Đông Xuân thì bớt các khâu làm cỏ trong vụ Hè Thu. Khi tủ cần tủ lượng dầy 10cm bằng các chất liệu xác thực vật không có khả năng tái sinh.
5. Phòng trừ sâu bệnh
- Phòng trừ sâu bệnh hại chè bằng biện pháp tổng hợp đảm bảo hợp lý về kinh tế và bền vững dựa trên sự phối hợp biện pháp trồng trọt, sinh học, di truyền chọn giống và hoá học, nhằm đạt sản lượng cao nhất với tác hại ít nhất trong môi trường.
- Phải kiểm tra thường xuyên, phát hiện sớm để tập trung phòng trừ. Các biện pháp phòng từ cụ thể:
* Biện pháp canh tác: cày bừa diệt cỏ, vệ sinh nương đồi, lấp đất diệt nhộng, diệt mầm bệnh, bón phân hợp lý, thay đổi thời kỳ đốn, hái chạy non để loại trừ bỏ trứng sâu, mầm bệnh.
*Biện pháp sinh học, sinh thái: Trồng cây bóng mát với loại thích hợp và có mật độ đảm bảo độ ẩm trên nương chè. Hạn chế đến mức thấp nhất thuốc hoá học để đảm bảo duy trì tập đoàn thiên địch có ích, cân bằng sinh thái trên nương chè.
* Biện pháp hoá học:
- Không phun theo định kỳ.
- Thực hiện biện pháp phòng chống sâu bệnh hại theo phương pháp điều tra, chỉ thực hiện phun thuốc khi mật độ sâu hại phát sinh gây hại vượt ngưỡng:
+Mật độ Rầy xanh vượt 5 con/khay tỷ lệ rầy non trên 20% số cá thể;
+Mật độ Nhện đỏ trên 5 con/lá;
+Mật độ Bọ trĩ trên 2 con/búp;
+Tỷ lệ búp bị Bọ xít muỗi hại trên 12% (triệu chứng mới bị hại).
- Lượng dung dịch thuốc bảo vệ thực vật cần phun 1 lần cho 1ha tuỳ thuộc vào diện tích tán chè và năng suất nương chè, nương chè có:
+ Năng suất trên 9-15 tấn cần phun 600 - 900 lít/ha;
+ Năng suất 5-9 tấn: 400- 600 phun lít/ha;
Dùng thuốc đúng chỉ dẫn về loại, liều lượng dùng đối với các đối tượng sâu, bệnh hại. Thời gian cách ly đảm bảo ít nhất 10 – 15 ngày mới được thu hái búp chè.
6. Đốn chè
6.1. Đốn tạo hình
- Lần 1: Đốn thân chính cách mặt đất 20- 25 cm, cành bên 35 cm-40 cm.
- Lần 2: Đốn nâng độ cao so vết đốn cũ của thân chính lên 10-20 cm tuỳ theo giống có thân bụi hay thân gỗ. Đốn mặt tán bằng.
6.2. Đốn phớt
- Hai năm đầu, mỗi năm đốn trên vết đốn cũ 5cm. Sau đó mỗi năm đốn cao thêm 3cm, khi vết đốn dưới cùng cao 70cm so với mặt đất thì hàng năm chỉ đốn cao thêm 1cm so vết đốn cũ.
- Tuyệt đối không cắt tỉa cành la, đảm bảo độ che phủ, khép tán trên nương.
Đối với nương chè sinh trưởng yếu, tán lá thưa mỏng, có thể áp dụng chu kỳ đốn cách năm: 1 năm đốn phớt như trên, 1 năm đốn sửa bằng tán chỉ cắt phần cành xanh.
6.3. Đốn lửng
Những đồi chè đã được đốn phớt nhiều năm, vết đốn cao quá 90cm so với mặt đất, nhiều cành tăm hương, u bướu, búp nhỏ, năng suất giảm thì đốn lửng cách mặt đất 60 – 65cm; hoặc chè năng suất giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 70 – 75 cm.
6.4. Đốn đau
Những đồi chè được đốn lửng nhiều năm, cành nhiều mấu, cây sinh trưởng kém, năng suất giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 40 - 45cm.
6.5. Đốn trẻ lại
Những nương chè già, cằn cỗi đã được đốn đau nhiều lần, năng suất giảm nghiêm trọng thì đốn trẻ lại cách mặt đất 10 – 25cm.
6.6. Thời vụ đốn
- Từ tháng 12 đến hết tháng 1.
- Nơi thường bị sương muối đốn muộn hơn, đốn sau đợt sương muối nặng.
- Đốn đau trước, đốn phớt sau.
- Đốn tạo hình, chè con trước, đốn chè trưởng thành sau.
Đối với vùng đảm bảo độ ẩm, hoặc có điều kiện chủ động tưới chè và thu hoạch chè vụ đông có thể đốn một phần diện tích vào tháng 4 - 5 sau đợt chè xuân góp phần rải vụ thu hoạch chè.
6.8. Cách đốn và dụng cụ đốn
- Đốn tạo tán có mặt nghiêng theo sườn dốc, không làm dập cành, sây sát vỏ.
- Đốn đau, đốn lửng, đốn tạo hình lần đầu thì dùng dao. Đốn phớt, đốn tạo hình lần 2 thì dùng kéo hoặc dao. Đốn trẻ lại, sửa cành lớn chè giống thì dùng cưa.
- Đối với các giống chè có phân cành nhiều, mật độ cành lớn, sinh trưởng đỉnh đều thì có thể áp dụng máy đốn để nâng cao năng suất lao động. Có thể dùng máy đốn chè Nhật Bản E7B-750 để đốn chè hay dùng máy cắt cỏ cải tiến.
7. Tưới chè
- Nơi có điều kiện về nguồn nước, khả năng đầu tư thì có thể tiến hành tưới cho chè khi độ ẩm đất dưới 60% sức chứa ẩm đồng ruộng (vào các tháng hạn, từ tháng 11-4 năm sau và khi vào vụ chè chính 15 ngày không có mưa).
- Tưới theo phương pháp phun mưa bề mặt với vòi tưới di động hoặc cố định cho hiệu quả cao, chỉ tưới nước đủ điều kiện an toàn cho phép.
ĐT
Giống PH8 được chọn lọc từ tổ hợp lai giữa giống chè TRI 777 và Kim Tuyên từ năm 1998 tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc.
Giống PH8 đã được Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn họp ngày 12/1/2009 đề nghị công nhận giống tạm thời và cho phép sản xuất thử tại Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang và Sơn La.
4. Kỹ thuật chăm sóc
4.1. Giặm cây con
- Nương chè phải được giặm cây con ngay từ năm đầu sau trồng vào những chỗ mất khoảng. Bầu cây con đem giặm có cùng tuổi cây trồng trên nương, đã được dự phòng 10%.
- Bón thêm mỗi cây 1,0 kg phân chuồng tốt trước trồng giặm.
- Trồng giặm cây vào ngày râm mát, mưa nhỏ hoặc sau mưa to.
- Giặm chè cần được tiến hành liên tục trong thời kỳ nương chè kiến thiết cơ bản (2-3 năm), đảm bảo nương chè đông đặc, đồng đều. Trồng giặm tốt nhất vào thời vụ xuân sớm (tháng 2-3), mưa nhỏ, đất vừa ẩm.
- Đối với nương chè tuổi lớn mất khoảng tiến hành trồng giặm cây con 14-16 tháng tuổi, chiều cao 35- 40cm sau khi bấm ngọn. Kích thước bầu lớn 25x12cm, bầu đất được đóng với tỷ lệ 3 phần đất + 1 phần phân hữu cơ hoai mục đã được ủ với phân lân.
4.2. Bón phân
4.2.1. Bón lót trước khi trồng
Bón lót trước khi trồng 10-15 tấn phân hữu cơ và 800 kg supelân, trộn phân đều vào rãnh, khi cây chè vào tuổi 2 bón tiếp 10-15 tấn phân chuồng.
4.2.2. Bón phân cho 1ha chè kiến thiết cơ bản (2-3 năm sau trồng) theo bảng sau
|
Loại chè |
Loại phân |
Lượng phân (kg) |
Số lần bón |
Thời gian bón (vào tháng) |
Phương pháp bón |
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
|
Chè tuổi 1 |
N |
40 |
2 |
2-3 và 6-7 |
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín |
|
P2O5 |
30 |
1 |
2-3 |
||
|
K2O |
30 |
1 |
2-3 |
||
|
Hữu cơ |
10.000- 15.000 |
1 |
8-9 |
Bón vào rạch chè, lấp đất kín |
|
|
Chè tuổi 2 |
N |
60 |
2 |
2-3 và 6-7 |
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín |
|
P2O5 |
30 |
1 |
2-3 |
||
|
K2O |
40 |
1 |
2-3 |
||
|
Đốn tạo tán lần 1 (2 tuổi) |
Hữu cơ |
10.000- 15.000 |
1 |
10-11 |
Trộn đều, bón rạch sâu 15-20cm, cách gốc 30-40cm, lấp kín |
|
P2O5 |
100 |
1 |
10- 11 |
||
|
Chè tuổi 3 |
N |
80 |
2 |
2-3 và 6-7 |
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 30-40cm, lấp kín |
|
P2O5 |
40 |
1 |
2-3 |
||
|
K2O |
60 |
2 |
2-3 và 6-7 |
4.2.3 Bón phân cho mỗi ha chè kinh doanh theo bảng sau
|
Loại chè |
Loại phân |
Lượng phân (kg) |
Số lần bón |
Thời gian bón (vào tháng) |
Phương pháp bón |
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
|
Các loại hình kinh doanh 3 năm một lần |
Hữu cơ |
25.000-30.000 |
1 |
12-1 |
Bón vào rạch chè, lấp đất kín |
|
P2O5 |
100 |
1 |
12-1 |
||
|
Năng suất búp dưới 60 tạ/ha |
N |
100-120 |
3-4 |
2 ; 4 ; 6 ; 8 |
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín |
|
P2O5 |
40-60 |
1 |
2 |
||
|
K2O |
60-80 |
2 |
2 ; 4 ; 6 ; 8 |
||
|
Năng suất búp từ 60-80 tạ/ha |
N |
150-180 |
3-4 |
2 ; 4 ; 6 ; 8 |
Trộn đều, bón sâu 6-8cm, cách gốc 15-30cm, lấp kín |
Nghiên cứu cải tiến nhà giâm hom cây lâm nghiệp
Submitted by admin on Sat, 03/14/2026 - 12:03Nhân giống cây rừng bằng hom (giâm hom) là một giải pháp cho chất lượng giống tốt với hệ số nhân cao, rút ngắn được thời gian cải thiện giống, không cần công nghệ cao như nuôi cấy mô tế bào nên đã và đang được sử dụng rông rãi trên thế giới.
Giống là yếu tố hàng đầu quyết định năng suất, chất lượng rừng trồng. Hiện nay, nhu cầu cây giống cho trồng rừng nguyên liệu, phòng hộ và bảo tồn nguồn gen ngày càng cao về số lượng và chất lượng. Nhân giống truyền thống bằng hạt không thể đáp ứng được yêu cầu trên. Nhân giống bằng mô đáp ứng về chất lượng nhưng cần công nghệ cao, làm tăng cao giá thành sản xuất nên hiện nay mới áp dụng trong nghiên cứu và sản xuất thử ở mức rất hạn chế cho một số loài cây rừng, chủ yếu tạo nguồn giống gốc để trồng vườn vật liệu cho giâm hom. Giâm hom đảm bảo di truyền đầy đủ các đặc tính tốt từ cây mẹ, dễ sản xuất với số lượng lớn, không cần công nghệ cao nên rất phù hợp với điều kiện sản xuất lâm nghiệp ở nước ta. Công nghệ giâm hom phụ thuộc rất nhiều vào MTGH, gồm: cường độ ánh sáng, nhiệt độ và độ ẩm của không khí và giá thể giâm. Thời gian qua, nhiều nhà kính chuyên dụng của Hà Lan, Ixrael, Trung Quốc,.. đã được nhập nội để sản xuất hoa và rau quả sạch và nhân giống cây lâm nghiệp. Nhưng các thiết bị này chỉ sử dụng có hiệu quả vào mùa đông. Vào mùa hè, do khí hậu nhiệt đới, đặc biệt do ảnh hưởng của đới không khí nóng, khô từ lục địa phía Tây và Tây Bắc tràn xuống các vùng Bắc Trung Bộ và Tây Bắc làm không khí trong nhà kính rất khô và nóng. Mặc dù hệ thống điều hòa nhiệt, ẩm của nhà kính hoạt động tối đa nhưng không thể tạo được môi trường khí hậu trong nhà theo yêu cầu sinh học của cây trồng. Trong nước đã có nhiều NGH được nghiên cứu song kết cấu đơn giản, gồm: - Hệ thống mái che mưa, nắng và vách che gió xung quanh bằng các tấm lợp nhựa hoặc composite được gắn cố định vào khung thép. - Hệ thống luống giâm hom được xây bằng gạch với nền đất hoặc nền xi măng, có vòm nilon trong suốt để làm tán xạ ánh sáng và giữ ẩm cho không khí trong vòm che và đất bầu nhằm chống mất nước cho hom giâm. - Hệ thống tưới nước phun sương tạo ẩm bằng máy bơm điện và vòi phun. Chế độ tưới được tự động hẹn giờ bằng loại công tắc tự ngắt điện theo mức nước cải tiến nên rất khó điều chỉnh các chế độ tưới tùy thuộc yêu cầu của cây, điều kiện thời tiết và giai đoạn sinh trưởng . 385 Ở các tỉnh phía Nam, hệ thống mái che bằng tấm nhựa được thay bằng mái che phẳng với 1 lớp lưới che sáng chuyên dụng (hệ số che 50 – 60%), lưới được cố định vào mạng dây đỡ, không điều chỉnh được mức độ che sáng. Vòm nilon trong suốt thường được tháo bỏ khi giâm hom các loài cây thông dụng keo lai, bạch đàn. Nhược điểm nổi bật của các NGH này: - Tấm nhựa che mái và vách rất nhanh bị lão hoá và rêu mốc, khó tẩy rửa, gây nên sự thiếu sáng trầm trọng cho hom giâm khi trời mưa hoặc nhiều mây mù. Lưới che sáng cố định không điều chỉnh được mức che sáng tùy thuộc yêu cầu sinh học và giai đoạn sinh trưởng của loài cây, điều kiện thời tiết. - Hệ số sử dụng diện tích nhà cho giâm hom rất thấp (dưới 50%) - Khi nắng nóng, nhiệt độ không khí MTGH rất cao (hơn nhiệt độ ngoài trời trên 3 - 40C); khi lạnh thì giảm thấp gần bằng nhiệt độ ngoài trời - Chất lượng tưới phun thấp: không tạo sương mù, lượng tưới không đều và lượng nước phun ra ngoài rãnh luống quá nhiều, bầu ươm thường bị úng nước - Chỉ giâm hom đạt tỷ lệ ra rễ cao cho một số loài cây đã thuần, dễ ra rễ (Keo lai, bạch đàn,..) khi khí hậu, thời tiết thuận lợi. Khi khí hậu khắc nghiệt, thời tiết biến động mạnh do gió mùa Đông Bắc hoặc gió phơn,.. thì các NGH này phải ngừng hoạt động, thậm chí hom đã bắt đầu ra rễ và vẫn bị chết hàng loạt Chu kỳ sản xuất cây giống bằng hom kéo dài 3 – 3,5 tháng (đối với các loài mọc nhanh (Keo, bạch đàn). Ở Bắc Bộ, do gió mùa Đông Bắc lạnh nên chỉ giâm hom được ở các NGH hiện có từ tháng 3 trong khi thời gian có mưa để có thể trồng từ giữa tháng 4 đến hết tháng 8. Ở Bắc Trung Bộ, do gió Lào, chỉ giâm hom được từ cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 trong khi trồng rừng được từ cuối tháng 8 đến hết tháng 10. Do vậy, thời gian hoạt động của các NGH ở 2 vùng này rất ngắn: 4 – 6 tháng/năm. Bởi vậy việc nghiên cứu cải tiến các NGH phù hợp với điều kiện kinh tế, trình độ sản xuất lâm nghiệp trong nước, khắc phục được sự khắc nghiệt và biến động của thời tiết khí hậu để có thể giâm hom được nhiều loài cây nhất là cây bản địa khó ra rễ, tăng được thời gian sử hoạt động của các NGH trong năm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Các nội dung nghiên cứu này thuộc đề tài cơ sở: “Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật nhằm cải thiện môi trường nhân giống cây rừng bằng hom cành trong vùng chịu ảnh hưởng của gió Lào và gió mùa Đông bắc”, được tiến hành từ 2005 - 2008 tại Trạm Nghiên cứu Giống cây rừng Ba Vì (thuộc Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng) và Trung tâm KHSX Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ (Đông Hà - Quảng Trị) - hai nơi có khí hậu khắc nghiệt do ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc và gió Lào.
1.Vật liệu, thiết bị
- Vật liệu che sáng chuyên dụng đang phổ biến ở thị trường ngoài nước và trong nước (lưới che cây chuyên dụng, nilon, tấm nhựa composite) - Vòi phun nước dạng sương mù, ống dẫn và phụ kiện nhựa uPVC, thép mạ kẽm, vật liệu xây dựng và sắt thép thông dụng - Hom Keo lai, Bách xanh, Chiêu liêu , Bạch đàn U6, thuốc kích thích ra rễ Thiết bị nghiên cứu: Máy bơm nước dân dụng, thiết bị điều khiển tự động bán dẫn, thiết bị đo áp suất thủy lực cơ học, đo ánh sáng, nhiệt độ và độ ẩm kỹ thuật số,.. 2. Phương pháp nghiên cứu * Kế thừa một số kết quả nghiên cứu: yêu cầu môi trường giâm hom của cây rừng, tư liệu khí hậu, thuỷ văn, kết cấu hệ thống che, luống giâm hom, hệ thống tưới phun, .. * Nghiên cứu tính toán lý thuyết một số thông số kỹ thuật của các hệ thống NGH * Nghiên cứu thực nghiệm: - Xác định một số đặc tính kỹ thuật của vật liệu và thiết bị che sáng, tưới phun 386 - Xác định các chế độ che sáng thích hợp - Hiệu chỉnh kết quả tính toán lý thuyết - Xây dựng mô hình thí nghiệm (NGH cải tiến) - So sánh khả năng điều tiết các thông số MTGH, khả năng giâm hom một số loài cây
1. Mô hình nhà giâm hom cây lâm nghiệp cải tiến
1.1. Hệ thống luống giâm hom
- Luống giâm hom thông dụng: Thành luống được xây bằng gạch, rộng 1,2 – 1,3m, chiều dài luống tùy thuộc tính toán hợp lý hệ thống tưới phun (thường từ 7 – 8m). Nền luống, nền nhà được láng vữa bê tông, tạo độ dốc 3% từ tâm giữa luống sang hai bên thành. Có thể giữ được nước trong luống (nhưng không làm úng bầu ươm) để làm mát và điều hòa độ ẩm MTGH khi nóng và xả sạch nước ra ngoài khi cần. Khung vòm nilon che sáng và giữ ẩm gồm các thanh thép tròn D8 được uốn hình vòm và cắm vào các lỗ khoan D10 trên thành luống. Liên kết các thanh khung bằng các dây cáp nilon D3 và thanh định bằng thép hôp 14 ở đỉnh. Kết cấu này dễ tháo lắp và xếp gọn khung vòm khi tác nghiệp, giá thành thấp, tăng được tuổi thọ của nilon. - Luống giâm hom nhiều tầng (thêm 1 - 2 tầng đặt trên luống giâm thông dụng): kết cấu môđun, lắp ghép bằng bulông với khung thép hình và vách kính, đảm bảo các yêu cầu công nghệ giâm hom, rất thuận tiện khi giâm hom trong bầu khay, tăng được diện tích giâm và dễ lắp đặt các hệ thống điều tiết nhiệt độ, độ ẩm MTGH.
1.2. Hệ thống tưới phun tạo ẩm cho MTGH Ống dẫn chìm bằng nhựa uPVC Tiền phong chịu áp, trụ phun bằng ống thép mạ kẽm, máy bơm dân dụng áp trung (Hmax < 35mH2O), vòi phun sương mù bằng đồng kiểu dòng tia nước tốc độ cao bắn vuông góc vào đĩa chặn (đường kính lỗ phun 0,8mm, đường kính đĩa chặn 5mm), áp suất phun 1,8 – 2,0kg/cm2 . Chênh lệch áp suất phun giữa các vòi phun trong toàn hệ thống ≤0,2kg/cm2 , chênh lệch lượng tưới trên diện bề mặt các luống giâm ≤10%. Khoảng cách vòi phun trong luống 0,9 – 1,0m, số vòi phun tối đa trong 1 nhánh: 9 vòi (nếu ống trục nhánh phun là D21 uPVC), 14 vòi (nếu ống trục nhánh phun là D27 uPVC), số nhánh phun tối đa xuất phát từ trục chính: 4 nhánh (nếu trục chính là uPVC D27), 6 nhánh (nếu trục chính là ống uPVC D34)
1.3. Hệ thống che sáng phía trên bằng lưới che cây chuyên dụng (Việt Nam/Trung Quốc/ Thái lan,..). Kết cấu gồm 2 tầng che di động, được kéo dãn ra hoặc dồn lại độc lập bằng cơ cấu dây kéo thủ công, điều chỉnh được 3 mức che sáng cho cây tùy thuộc yêu cầu sinh học của loài cây, thời tiết, thời điểm trong ngày. Hệ thống che sáng xung quanh cũng bằng lưới che chuyên dụng gồm 1 lớp, có thể thả xuống để che nắng hoặc cuộn lên được bằng ống cuộn PVC để tăng ánh sáng cho cây khi trời mưa hoặc mây mù.
1.4. Hệ thống vách che gió xung quanh bằng cửa kính đẩy (cửa lùa) hoặc các tấm nhựa hình sóng màu trắng đục (composite) đặt trong khe của hộp khung vách. Các tấm che vách được dồn lại hoặc rút ra khỏi hộp vách dễ dàng để giảm sự che sáng khi trời mây mù hoặc tăng thông gió tự nhiên để giảm nhiệt độ trong nhà khi nóng.
1.5. Hệ thống phun hơi ẩm làm mát không khí trong NGH khi trời nóng: Sử dụng loại vòi Coolnet (Ixraen) phun nước với áp cao tạo thành hơi mù. Có thể dùng loại vòi phun sương bằng đồng nêu trên. Ống dẫn bằng nhựa uPVC D21 – 27 chịu áp và bơm nước áp cao (Hmax > 35mH2O). Khoảng cách vòi phun 2 – 2,5m.
1.6. Hệ thống thông gió làm mát hoặc hâm nóng không khí MTGH . Hệ thống được lắp đặt riêng cho từng tầng luông giâm hoặc chung cho nhiều tầng, hoạt động theo 2 chế độ: - Thông gió giảm nhiệt độ khi nóng và trao đổi ôxi - cácbonic giữa không khí trong MTGH với bên ngoài vòm che. Hệ thống gồm quạt điện áp cao, ống uPVC phân phối khí, hoạt động tự động theo thời gian hoặc theo yêu cầu nhiệt độ không khí MTGH - Hâm nóng MTGH bằng không khí nóng (thêm bộ phận phát nhiệt bằng điện trở nhiệt sau quạt gió), tự động theo yêu cầu nhiệt độ khi trời lạnh giá./.
ĐT T/H