Cây công nghiệp

Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sử dụng chế phẩm MF1 xây dựng mô hình trồng rừng gỗ lớn thông Caribe

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> Ng&agrave;y 30/8, Sở Khoa học v&agrave; C&ocirc;ng nghệ đ&atilde; tổ chức hội đồng đ&aacute;nh gi&aacute;, nghiệm thu dự &aacute;n khoa học v&agrave; c&ocirc;ng nghệ cấp tỉnh &ldquo;Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sử dụng chế phẩm MF1 x&acirc;y dựng m&ocirc; h&igrave;nh trồng rừng gỗ lớn th&ocirc;ng Caribe (Pinus caribaea Morelet) tại huyện Y&ecirc;n Dũng, tỉnh Bắc Giang&rdquo;. Đồng ch&iacute; Nguyễn Thanh B&igrave;nh, Gi&aacute;m đốc Sở Khoa học v&agrave; C&ocirc;ng nghệ, Chủ tịch hội đồng điều h&agrave;nh buổi họp.</p>

Đ/c Nguyễn Thanh Bình, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch hội đồng điều hành buổi họp

Dự án do Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng chủ trì, thực hiện từ tháng 6/2021 đến tháng 6/2024 nhằm xây dựng vườn ươm giống quy mô 20.000 cây, mô hình trồng thâm canh 20ha thông Caribe sử dụng chế phẩm vi sinh vật MF1 với yêu cầu cây giống đạt tiêu chuẩn xuất vườn và rừng trồng đạt tỷ lệ sống từ 90% trở lên, sinh trưởng cây tối thiểu tăng 20% so với giống đại trà, không sử dụng chế phẩm vi sinh vật MF1.

Trong 36 tháng thực hiện, dự án đã xây dựng được 180m2 vườn ươm giống thông Caribe tại tổ dân phố Kem, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng. Tại địa điểm triển khai, nhóm đã tiến hành 05 công thức thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, bốn lần lặp lại sử dụng chế phẩm vi sinh vật MF1 bón cho thông Caribe giai đoạn vườn ươm. Đồng thời, theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu về đường kính gốc, chiều cao cây, tỷ lệ lá trưởng thành (lá thật), tình hình bệnh hại... và làm các phân tích chỉ tiêu vi sinh vật. Kết quả, cây giống có đường kính cổ rễ 0,6-0,7cm, chiều cao 45-62cm, tỷ lệ trưởng thành 20-25%.

Nhóm tác giả đã xây dựng mô hình trồng thâm canh thông Caribe, sử dụng chế phẩm vi sinh vật MF1. Trong đó, 01ha thí nghiệm về tuổi cây rừng; 01ha thí nghiệm bón chế phẩm vi sinh MF1; 16ha mô hình rừng thâm canh sử dụng chế phẩm vi sinh MF1, có tỷ lệ sống đạt 91,02%, sinh trưởng chiều cao tăng 20,78%, đường kính tăng 20,22% so với 02ha mô hình đối chứng.

TS. Trần Thanh Trăng, chủ nhiệm dự án báo cáo kết quả

Dự án hoàn thiện 02 quy trình gồm: Quy trình sản xuất cây giống và quy trình trồng thâm canh thông Caribe sử dụng chế phẩm vi sinh vật MF1 phù hợp với điều kiện địa phương. Đồng thời, hoàn thiện báo cáo kết quả thí nghiệm; các mẫu phân tích xác định mật độ, hoạt tính sinh học và tên khoa học của các chủng vi sinh vật phân giải lân (phân giải phốt phát khó tan), vi sinh vật đối kháng nấm gây bệnh ở vườn ươm và rừng trồng. .

Tại hội đồng, các thành viên đánh giá dự án có ý nghĩa khoa học, thực tiễn cao, chứa đựng nhiều giải pháp tốt khắc phục vấn đề đất nghèo dinh dưỡng tại huyện Yên Dũng. Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong dự án cơ bản phù hợp. Các thí nghiệm nhằm hoàn thiện kỹ thuật về nhân giống, trồng rừng được bố trí khoa học, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn đã được công bố, có đối chứng, với dung lượng mẫu đủ lớn và có lặp lại…giúp cho kết quả nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy cần thiết, là cơ sở quan trọng để phát triển thông Caribe trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và các địa phương lân cận.

Thành viên hội đồng góp ý

Hội đồng đề nghị nhóm tác giả bổ sung tổng quan kết quả nghiên cứu về thông Caribe có liên quan đến dự án; bổ sung tiêu chuẩn cây giống; có sự phân tách rõ ràng giữa nội dung và phương pháp nghiên cứu. Rà soát các hướng dẫn kỹ thuật đảm bảo thống nhất với những hướng dẫn hiện hành của Bộ Nông nghiệp & PTNT; các tiêu chuẩn ngành hiện hết hiệu lực pháp lý nên được lược bỏ…

Các thành viên hội đồng đã bỏ phiếu đánh giá đạt yêu cầu đối với Dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sử dụng chế phẩm MF1 xây dựng mô hình trồng rừng gỗ lớn thông Caribe (Pinus caribaea Morelet) tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”./.

LHG
 

QUY TRÌNH KỸ THUẬT CHĂM SÓC CHO CÂY CHÈ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Nương ch&egrave; phải được trồng giặm c&acirc;y con ngay từ năm đầu sau trồng v&agrave;o những chỗ mất khoảng. Bầu c&acirc;y con đem giặm c&oacute; c&ugrave;ng tuổi c&acirc;y trồng tr&ecirc;n nương, đ&atilde; được dự ph&ograve;ng 10%.</div> <div> &nbsp;</div>
1. Kỹ thuật chăm sóc
 
1.1. Giặm cây con
 
Nương chè phải được trồng giặm cây con ngay từ năm đầu sau trồng vào những chỗ mất khoảng. Bầu cây con đem giặm có cùng tuổi cây trồng trên nương, đã được dự phòng 10%.
 
Bón thêm mỗi cây 1,0kg phân chuồng tốt trước trồng giặm.
 
Trồng giặm vào ngày râm mát, mưa nhỏ hoặc sau mưa to.
 
Giặm chè cần được tiến hành liên tục trong thời kỳ nương chè kiến thiết cơ bản (2 - 3 năm), đảm bảo nương chè đông đặc, đồng đều. Trồng giặm tốt nhất vào thời vụ Xuân sớm (tháng 1 - 2), mưa nhỏ, đất vừa ẩm.
 
Đối với nương chè tuổi lớn mất khoảng tiến hành trồng giặm cây con 14 - 16 tháng tuổi, chiều cao 35 -40 cm sau khi bấm ngọn. Kích thước bầu lớn 25 x 12 cm, bầu đất được đóng với tỷ lệ 3 phần đất + 1 phần phân hữu cơ hoai mục đã được ủ với phân lân.
 
Thời vụ giặm từ tháng 8 - 10 (phía Bắc), tháng 9 - 11 (phía Nam) vào cuối mùa mưa khi đất đủ ẩm.
 
1.2. Bón phân
 
1.2.1. Bón cho chè kiến thiết cơ bản:
 
+ Bón lót trước khi trồng: Sau khi đào rãnh hàng xong bón lót phân hữu cơ 20 - 30 tấn/ha và 100 - 150 kg P2O5 kg/ha, trộn phân vào đất trồng.
 
+ Bón thúc sau khi trồng:
 
- Lượng bón: Bón phân cho mỗi ha chè kiến thiết cơ bản (2 - 3 năm sau trồng) theo bảng sau:
 
Loại chè
 
Loại phân
 
Lượng phân
 
(kg)
 
Số lần bón
 
Thời gian bón
 
(vào tháng)
 
(1)
 
(2)
 
(3)
 
(4)
 
(5)
 
Chè tuổi 1
 
N
 
P2O5
 
K2O
 
40
 
30
 
30
 
2
 
1
 
1
 
2 - 3 và 6 -7
 
2 - 3
 
2 - 3
 
Chè tuổi 2
 
 
 
 
 
N
 
P2O5
 
K2O
 
60
 
30
 
40
 
2
 
1
 
1
 
2 - 3 và 6 - 7
 
2 - 3
 
2- -3
 
Đốn tạo hình lần 1 (2 tuổi)
 
Hữu cơ
 
 
 
P2O5
 
15.000 - 20.000
 
100
 
1
 
 
 
1
 
11 - 12
 
 
 
11 - 12
 
Chè tuổi 3
 
N
 
P2O5
 
K2O
 
80
 
40
 
60
 
2
 
1
 
2
 
2 - 3 và 6 - 7
 
2 - 3
 
2 - 3 và 6 - 7
 
 
 
- Phương pháp bón:
 
          * Phân hữu cơ: Bón rạch sâu 15-20cm, lấp kín.
 
          * Phân vô cơ: Hòa tan vào nước thành dung dịch để bón kết hợp với tưới nước thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt bằng công nghệ của Israel.
 
          Cách tính toán lượng phân bón hòa tan trong bồn chứa phân:
 
                             F = C x S/1000
 
Trong đó:    F là lượng phân cần hòa tan trong bồn chứa phân bón
 
                   C là dung tích bồn chứa phân bón
 
                   S là độ hòa tan của phân trong nước, thường là 500g/lít.
 
                   1.000 dùng để chuyển từ g sang kg.
 
Ví dụ: Bồn chứa 200 lít, độ hòa tan phân bón là 500g/lít thì lượng phân bón cần để hòa tan là F = 200 x 500/1000 = 100kg.
 
          Kỹ thuật bón: Mở chế độ hút phân bón sau khi hệ thống tưới đã vận hành được 10 - 15 phút và tắt chế độ hút phân bón trước khi hệ thống tưới ngừng vận hành 10 -15 phút.
 
          Loại phân sử dụng: Sử dụng các loại phân bón có độ hòa tan tốt để bón kết hợp với hệ thống tưới nhỏ giọt. Tốt nhất là sử dụng các loại phân chuyên dụng cho tưới nhỏ giọt bao gồm đầy đủ các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng.
 
1.2.2. Bón phân cho mỗi ha chè kinh doanh theo bảng sau:
 
+ Lượng bón: Bón tăng 30% so với quy trình của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn quy định (Theo quyết định của Bộ NN&PTNT số: 18/2001/QĐ-BNN ngày 07 tháng 3 năm 2001 về việc ban hành tiêu chuẩn ngành số 10TCN 446 -2001 Quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch chè).
 
+ Số lần bón: Bón đạm 6 lần vào các tháng 1,3,5,7,9,11 theo tỷ lệ 20%:20%:10%:10%:20%:20%.
 
+ Cách bón cụ thể theo bảng sau:
 
Loại chè
 
Loại phân
 
Lượng phân (kg)
 
Số lần bón
 
(lần)
 
Phương pháp bón và thời điểm bón
 
Các loại hình kinh doanh 3 năm 1 lần
 
Hữu cơ
 
 
 
P2O5
 
25.000 - 30.000
 
100
 
1
 
 
 
1
 
Bón sau đốn kết hợp với ép xanh cành lá chè. Trộn đều, bón rạch sâu 15 - 20 cm, giữa hàng, lấp kín.
 
Năng suất búp tươi từ 60 đến 80 tạ/ha
 
N
 
P2O5
 
K2O
 
130-156
 
52-78
 
78-104
 
6
 
1
 
3
 
 
 
N: Bón 20% sau đốn chậm nhất 1 tháng kết hợp với ép xanh cành lá già, sau đó cứ 2 tháng bón 1 lần theo tỷ lệ 20%:10%:10%:20%:20%. Phương pháp bón: Hòa tan vào nước với tỷ lệ 50kg N/100lít nước rồi bón thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt.
 
- P2O5: Bón 100% sau khi đốn, kết hợp với bón phân chuồng và ép xanh cành lá già. Phương pháp bón: Trộn đều phân bón, bón theo rạch sâu 6 - 8 cm, giữa hàng, lấp kín.
 
- K2O: Bón 60% sau khi đốn kết hợp với ép xanh cành lá già, 30% vào lần bón đạm thứ 3 và 10% vào lần bón đạm thứ 5. Hòa tan vào nước với tỷ lệ 10kg N/200lít nước rồi bón thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt.
 
Năng suất búp tươi từ 80 đến 120 tạ/ha.
 
N
 
P2O5
 
K2O
 
234-390
 
130-208
 
156-260
 
6
 
1
 
3
 
Năng suất búp tươi từ 120 tạ/ha trở lên.
 
N
 
P2O5
 
K2O
 
390-780
 
208-260
 
260-390
 
6
 
1
 
3
 
 
 
2. Phòng trừ cỏ dại.
 
2.1. Đối với chè kiến thiết cơ bản:
 
- Xới cỏ, đảm bảo cỏ sạch quanh năm trên hàng chè.
 
- Riêng chè 1 tuổi cần nhổ cỏ tay ở gốc chè để bảo vệ được cây chè. Giữa hàng trồng xen cây phân xanh, đậu đỗ, hoặc bừa xới sạch cỏ.
 
- Vụ Xuân (tháng 1 - 2) và vụ Thu (tháng 8 - 9) xới sạch toàn bộ diện tích 1 lần/vụ.
 
- Trong năm xới gốc 2 -3 lần, rộng 30 - 40 cm về hai bên hàng chè.
 
2.2. Đối với chè kinh doanh:
 
- Vụ Đông Xuân: Xới sạch cỏ dại, cây giữa hàng hoặc phay sâu 10 cm, lấp phân hữu cơ và cành lá già sau khi đốn, nếu hạn không cày được thì xới sạch toàn bộ.
 
- Vụ Hè Thu: Đào gốc cây dại, phát luổng hoặc xới cỏ gốc giữa hàng, bừa 3 - 4 lần hoặc phay sâu 5cm.
 
Đồi chè được tủ cỏ, rác kín đất trong vụ Đông Xuân thì bớt các khâu làm cỏ trong vụ Hè Thu.
 
3. Phòng trừ sâu, bệnh.
 
- Phòng trừ sâu, bệnh hại chè bằng biện pháp tổng hợp đảm bảo hợp lý về kinh tế và bền vững dựa trên sự phối hợp biện pháp trồng trọt, sinh học, di truyền chọn giống và hoá học, nhằm đạt sản lượng cao nhất với tác hại ít nhất trong môi trường.
 
- Phải kiểm tra thường xuyên, phát hiện sớm để tập trung phòng trừ. Các biện pháp phòng trừ cụ thể:
 
- Biện pháp canh tác:Cày bừa diệt cỏ, vệ sinh nương đồi, lấp đất diệt nhộng, diệt mầm bệnh, bón phân hợp lý, thay đổi thời kỳ đốn, hái chạy non để loại bỏ trứng sâu, mầm bệnh.
 
- Biện pháp sinh học,sinh thái: Trồng cây bóng mát với loại thích hợp và có mật độ đảm bảo độ ẩm trên nương chè. Hạn chế đến mức thấp nhất thuốc hoá học để đảm bảo duy trì tập đoàn thiên địch có ích, cân bằng sinh thái trên nương chè.
 
- Biện pháp hoá học:
 
Không phun thuốc theo định kỳ.
 
Phun thuốc theo điều tra dự tính, dự báo khi có sâu non hoặc khi chè mới bị bệnh.
 
Dùng thuốc đúng chỉ dẫn về loại, liều lượng dùng đối với các đối tượng sâu, bệnh hại. Thời gian cách ly đảm bảo ít nhất 10 - 15 ngày mới được thu hái búp chè.
 
Ngoài ra cần chú ý phòng trừ bệnh phồng lá. Bệnh thường phát sinh gây hại vào thời gian từ tháng 1 đến tháng 3 khi ẩm độ không khí cao. Cần thường xuyên kiểm tra nương chè, khi phát hiện bệnh cần tiến hành hái chạy. Trường hợp bệnh nặng thì sử dụng Booc-đô 1-2% hoặc các loại thuốc có gốc đồng để phun.
 
4. Đốn chè.
 
4.1. Đốn tạo hình:
 
Lần 1: Khi chè 2 tuổi, đốn thân chính cách mặt đất 12 - 15 cm, đốn cành cách mặt đất 30 - 35 cm.
 
Lần 2: Khi chè 3 tuổi, đốn cành chính cách mặt đất 30 - 35 cm, đốn cành tán cách mặt đất 40 - 45 cm.
 
4.2. Đốn phớt:
 
Hai năm đầu, mỗi năm đốn trên vết đốn cũ 5 cm. Sau đó mỗi năm đốn cao thêm 3 cm, khi vết đốn dưới cùng cao 70 cm so với mặt đất thì hàng năm chỉ đốn cao thêm 1 cm so vết đốn cũ.
 
Tuyệt đối không cắt tỉa cành la, đảm bảo độ che phủ, khép tán trên nương.
 
Đối với nương chè sinh trưởng yếu, tán lá thưa mỏng, có thể áp dụng chu kỳ đốn cách năm: 1 năm đốn phớt như trên, 1 năm đốn sửa bằng tán chỉ cắt phần cành xanh.
 
4. 3. Đốn lửng:
 
Những đồi chè đã được đốn phớt nhiều năm, vết đốn cao quá 90 cm so với mặt đất, nhiều cành tăm hương, u bướu, búp nhỏ, năng suất giảm
thì đốn lửng cách mặt đất 60 - 65 cm; hoặc chè năng suất khá nhưng cây cao quá cũng đốn lửng cách mặt đất 70 - 75 cm.

thứ 3 và 10% vào lần

 
4. 4. Đốn đau: Những đồi chè được đốn lửng nhiều năm, cành nhiều mấu, cây sinh trưởng kém, năng suất giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 40 - 45 cm.
 
4.5. Đốn trẻ lại: Những nương chè già, cằn cỗi đã được đốn đau nhiều lần, năng suất giảm nghiêm trọng thì đốn trẻ lại cách mặt đất 10 - 25 cm.
 
4.6. Thời vụ đốn: Đốn tháng 4
 
4.7. Cách đốn và dụng cụ đốn:
 
- Đốn bằng máy. Đốn cao 3- 5cm so với vết đốn cũ.
 
- Vệ sinh, thu dọn cành lá chè trên mặt tán sau khi đốn.
 
- Sau khi đốn dùng máy sửa rìa tán tạo độ thông thoáng cho nương chè.
 
Lưu ý: Ép xanh toàn bộ cành lá già cùng với bón phân chuồng và phân lân sau đốn.
 
4.6. Tưới nước, giữ ẩm cho chè:
 
4.6.1. Tủ gốc giữ ẩm cho chè
 
- Tủ bằng các phế phụ phẩm nông nghiệp, cây phân xanh, vật liệu tủ khác với lượng từ 20-30 tấn/ha. Thời gian tủ tốt nhất là sau bón phân lần 1.
 
- Bón bổ sung hạt polymer giữ ẩm cho chè với lượng 50kg/ha, bón kết hợp với lần bón phân vào tháng 7 để tiết kiệm công lao động đồng thời tích trữ nước mưa cung cấp cho cây chè trong mùa khô.
 
- Trồng cây phân xanh, bóng mát có đốn tỉa hợp lý.
 
4.6.2. Tưới nước cho chè                     
 
+ Vụ Đông Xuân: Bắt đầu từ tháng 10 đến hết tháng 3.
 
Định kỳ 3 ngày tưới 1 lần, mỗi lần tưới trong 1 giờ đồng hồ.
 
Tưới nước kết hợp với bón phân vô cơ theo định kỳ.
 
+ Vụ hè thu:
 
Tưới cho chè nếu sau 5 ngày liên tiếp không có mưa, mỗi lần tưới trong vòng 1 giờ.
 
Tưới nước kết hợp với bón phân vô cơ theo định kỳ.
 
5. Thu hoạch và bảo quản.
 
5.1. Thu hoạch.
 
5.2. Hái tạo hình chè kiến thiết cơ bản:
 
- Đối với chè 1 tuổi:Từ tháng 10, hái bấm ngọn những cây cao 60 cm trở lên.
 
- Đối với chè 2 tuổi: Hái búp trên những cây to khoẻ và cách mặt đất 50 cm trở lên.
 
5.3. Hái tạo hình sau khi đốn:
 
- Đối với chè đốn lần1: Đợt đầu hái cách mặt đất 40 - 45 cm, tạo thành mặt phẳng nghiêng theo sườn dốc. Đợt 2 hái búp chừa 2 lá và lá cá.
 
- Đối với chè đốn lần 2: Đợt đầu hái cao hơn chè đốn lần 1 từ 25 - 30 cm, các đợt sau hái chừa bình thường như ở chè đốn lần 1.
 
5.4. Hái chè kinh doanh:
 
a) Hái 1 tôm và 2 – 3 lá non (xác định theo tiêu chuẩn Nhà nước TCVN 1053 - 71 - 1054 - 71).
 
Khi trên tán có 30% số búp đủ tiêu chuẩn thì hái, không bỏ sót, không để quá lứa, cứ 7 - 10 ngày hái 1lứa, tận thu búp mù xoè.
 
b) Thời vụ:
 
- Vụ Xuân (tháng 3-4): Trước khi đốn, tháng 3 hái chừa lá cá, tháng 4 hái cả lá cá.
 
- Vụ Hè (tháng 5 - 6): Sau khi đốn, Hái chừa 2 lá và lá cá, tạo tán bằng. Những búp vượt cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá.
 
- Vụ Thu Đông(tháng 8 -2): Hái chừa 1 lá và lá cá, tạo tán bằng. Những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá.
 
c) Đối với các giống chè có phân cành nhiều, mật độ cành mau, sinh trưởng đỉnh đều thì có thể áp dụng hái bằng kéo hay hái chè bằng máy để nâng cao năng suất lao động.
 
5.5. Hái chè trên nương đốn trẻ lại, đốn đau thì tiến hành như đối với chè kiến thiết cơ bản.
 
5.6. Bảo quản:
 
Chè búp tươi thu xong phải để nơi râm mát, bỏ trong sọt không nén chặt, không đựng trong bao kín, không để héo, lẫn bẩn với vật lạ, tạp chất, đưa đến nơi chế biến không quá 10 tiếng.
 
Đỗ Thơm
 
Quy trình Thuộc dự án: Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng vùng chè xuất khẩu tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang1. Kỹ thuật chăm sóc
 
1.1. Giặm cây con
 
Nương chè phải được trồng giặm cây con ngay từ năm đầu sau trồng vào những chỗ mất khoảng. Bầu cây con đem giặm có cùng tuổi cây trồng trên nương, đã được dự phòng 10%.
 
Bón thêm mỗi cây 1,0kg phân chuồng tốt trước trồng giặm.
 
Trồng giặm vào ngày râm mát, mưa nhỏ hoặc sau mưa to.
 
Giặm chè cần được tiến hành liên tục trong thời kỳ nương chè kiến thiết cơ bản (2 - 3 năm), đảm bảo nương chè đông đặc, đồng đều. Trồng giặm tốt nhất vào thời vụ Xuân sớm (tháng 1 - 2), mưa nhỏ, đất vừa ẩm.
 
Đối với nương chè tuổi lớn mất khoảng tiến hành trồng giặm cây con 14 - 16 tháng tuổi, chiều cao 35 -40 cm sau khi bấm ngọn. Kích thước bầu lớn 25 x 12 cm, bầu đất được đóng với tỷ lệ 3 phần đất + 1 phần phân hữu cơ hoai mục đã được ủ với phân lân.
 
Thời vụ giặm từ tháng 8 - 10 (phía Bắc), tháng 9 - 11 (phía Nam) vào cuối mùa mưa khi đất đủ ẩm.
 
1.2. Bón phân
 
1.2.1. Bón cho chè kiến thiết cơ bản:
 
+ Bón lót trước khi trồng: Sau khi đào rãnh hàng xong bón lót phân hữu cơ 20 - 30 tấn/ha và 100 - 150 kg P2O5 kg/ha, trộn phân vào đất trồng.
 
+ Bón thúc sau khi trồng:
 
- Lượng bón: Bón phân cho mỗi ha chè kiến thiết cơ bản (2 - 3 năm sau trồng) theo bảng sau:
 
Loại chè
 
Loại phân
 
Lượng phân
 
(kg)
 
Số lần bón
 
Thời gian bón
 
(vào tháng)
 
(1)
 
(2)
 
(3)
 
(4)
 
(5)
 
Chè tuổi 1
 
N
 
P2O5
 
K2O
 
40
 
30
 
30
 
2
 
1
 
1
 
2 - 3 và 6 -7
 
2 - 3
 
2 - 3
 
Chè tuổi 2
 
 
 
 
 
N
 
P2O5
 
K2O
 
60
 
30
 
40
 
2
 
1
 
1
 
2 - 3 và 6 - 7
 
2 - 3
 
2- -3
 
Đốn tạo hình lần 1 (2 tuổi)
 
Hữu cơ
 
 
 
P2O5
 
15.000 - 20.000
 
100
 
1
 
 
 
1
 
11 - 12
 
 
 
11 - 12
 
Chè tuổi 3
 
N
 
P2O5
 
K2O
 
80
 
40
 
60
 
2
 
1
 
2
 
2 - 3 và 6 - 7
 
2 - 3
 
2 - 3 và 6 - 7
 
 
 
- Phương pháp bón:
 
          * Phân hữu cơ: Bón rạch sâu 15-20cm, lấp kín.
 
          * Phân vô cơ: Hòa tan vào nước thành dung dịch để bón kết hợp với tưới nước thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt bằng công nghệ của Israel.
 
          Cách tính toán lượng phân bón hòa tan trong bồn chứa phân:
 
                             F = C x S/1000
 
Trong đó:    F là lượng phân cần hòa tan trong bồn chứa phân bón
 
                   C là dung tích bồn chứa phân bón
 
                   S là độ hòa tan của phân trong nước, thường là 500g/lít.
 
                   1.000 dùng để chuyển từ g sang kg.
 
Ví dụ: Bồn chứa 200 lít, độ hòa tan phân bón là 500g/lít thì lượng phân bón cần để hòa tan là F = 200 x 500/1000 = 100kg.
 
          Kỹ thuật bón: Mở chế độ hút phân bón sau khi hệ thống tưới đã vận hành được 10 - 15 phút và tắt chế độ hút phân bón trước khi hệ thống tưới ngừng vận hành 10 -15 phút.
 
          Loại phân sử dụng: Sử dụng các loại phân bón có độ hòa tan tốt để bón kết hợp với hệ thống tưới nhỏ giọt. Tốt nhất là sử dụng các loại phân chuyên dụng cho tưới nhỏ giọt bao gồm đầy đủ các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng.
 
1.2.2. Bón phân cho mỗi ha chè kinh doanh theo bảng sau:
 
+ Lượng bón: Bón tăng 30% so với quy trình của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn quy định (Theo quyết định của Bộ NN&PTNT số: 18/2001/QĐ-BNN ngày 07 tháng 3 năm 2001 về việc ban hành tiêu chuẩn ngành số 10TCN 446 -2001 Quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch chè).
 
+ Số lần bón: Bón đạm 6 lần vào các tháng 1,3,5,7,9,11 theo tỷ lệ 20%:20%:10%:10%:20%:20%.
 
+ Cách bón cụ thể theo bảng sau:
 
Loại chè
 
Loại phân
 
Lượng phân (kg)
 
Số lần bón
 
(lần)
 
Phương pháp bón và thời điểm bón
 
Các loại hình kinh doanh 3 năm 1 lần
 
Hữu cơ
 
 
 
P2O5
 
25.000 - 30.000
 
100
 
1
 
 
 
1
 
Bón sau đốn kết hợp với ép xanh cành lá chè. Trộn đều, bón rạch sâu 15 - 20 cm, giữa hàng, lấp kín.
 
Năng suất búp tươi từ 60 đến 80 tạ/ha
 
N
 
P2O5
 
K2O
 
130-156
 
52-78
 
78-104
 
6
 
1
 
3
 
 
 
N: Bón 20% sau đốn chậm nhất 1 tháng kết hợp với ép xanh cành lá già, sau đó cứ 2 tháng bón 1 lần theo tỷ lệ 20%:10%:10%:20%:20%. Phương pháp bón: Hòa tan vào nước với tỷ lệ 50kg N/100lít nước rồi bón thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt.
 
- P2O5: Bón 100% sau khi đốn, kết hợp với bón phân chuồng và ép xanh cành lá già. Phương pháp bón: Trộn đều phân bón, bón theo rạch sâu 6 - 8 cm, giữa hàng, lấp kín.
 
- K2O: Bón 60% sau khi đốn kết hợp với ép xanh cành lá già, 30% vào lần bón đạm

QUY TRÌNH THIẾT KẾ ĐỒI NƯƠNG CHÈ VÀ KỸ THUẬT GIEO TRỒNG

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Quy tr&igrave;nh n&agrave;y &aacute;p dụng cho nương ch&egrave; trồng mới v&agrave; nương ch&egrave; kinh doanh trong điều kiện c&oacute; tưới nước bằng c&ocirc;ng nghệ nhỏ giọt của Israel tr&ecirc;n địa b&agrave;n huyện Y&ecirc;n Thế.</div> <div> &nbsp;</div>
I. Phạm vi áp dụng
 
Quy trình này áp dụng cho nương chè trồng mới và nương chè kinh doanh trong điều kiện có tưới nước bằng công nghệ nhỏ giọt của Israel trên địa bàn huyện Yên Thế.
 
II. Quy trình kỹ thuật
 
2.1. Điều kiện sinh thái
 
1.1. Khí hậu
 
- Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm: 18 - 23o C.
 
- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm: trên 80%.
 
- Lượng mưa hàng năm: trên 1.200 mm.
 
1.2. Đất đai
 
- Đất có tầng dày canh tác 50 cm trở lên, kết cấu tơi xốp.
 
- Mạch nước ngầm ở sâu dưới mặt đất từ 100 cm trở lên.
 
- Độ pHKCLtừ 4,0 - 6,0, tỷ lệ mùn tổng số 2,0% trở lên.
 
- Độ dốc bình quân đồi không quá 25o.
 
2. Thiết kế đồi nương
 
2.1. Thiết kế đồi, hàng chè
 
- Thiết kế từng đồi phải nằm trong thiết kế tổng thể chung toàn vùng.
 
- Thiết kế đồng bộ ngay từ đầu hệ thống đường, các công trình phụ trợ cây phân xanh, che bóng, chắn gió; Những nơi thuận lợi cần làm đập, hồ chứa nước chân đồi, bể chứa nước,hệ thống tưới nước, hố ủ phân trên đồi.
 
- Thiết kế hàng:
 
+ Nơi đồi có độ dốc bình quân 6o trở xuống (cục bộ có thể tới 8o): Thiết kế hàng chè thẳng theo hàng dài nhất, song song với đường bình độ chính, hàng cụt xếp ở bìa lô.
 
+ Nơi đồi có độ dốc bình quân trên 6o: Thiết kế hàng theo đường đồng mức, hàng cụt xếp xen kẽ và tập trung thành nhóm số chẵn.
 
2.2. Hệ thống đường.
 
Loại đường
 
Vị trí
 
Bề rộng mặt đường
 
(m)
 
Độ dốc mặt đường
 
(độ)
 
Độ nghiêng vào trong đồi
 
(độ)
 
Các yêu cầu khác
 
(1)
 
(2)
 
(3)
 
(4)
 
(5)
 
(6)
 
1 - Đường trục chính
 
Xuyên giữa khu chè.
 
5 - 6
 
5
 
-
 
Hai mép trồng cây. Có hệ thống rãnh thoát nước hai bên
 
1- Đường liên đồi
 
Nối đường trục với các đồi hoặc các đồi với nhau
 
4 - 5
 
6
 
6
 
Mép ngoài trồng cây
 
3- Đường lên đồi
 
Nối đường liên đồi với đỉnh và đường vành đồi
 
3 - 4
 
8 - 10
 
5
 
Có rãnh thoát nước phía trong. Có vòng quay xe ở ngã ba. Mép ngoài trồng cây thưa.
 
4- Đường vành đồi
 
Đường vành chân đồi và cách 30 - 50 m theo sườn đồi có một đường.
 
3 - 4
 
1 - 2
 
6 - 7
 
Mép ngoài trồng cây thưa.
 
5- Đường lô
 
Cắt ngang (đồi phẳng) hay cắt chéo hàng chè (đồi dốc), cách nhau 150 - 200 m
 
3 - 4
 
10 - 12
 
-
 
Sửa theo mặt đất tự nhiên, không có rãnh thoát nước.
 
6- Đường chăm sóc
 
Trong lô chè, cách nhau 57 - 70 m, cắt ngang hay chéo hàng chè.
 
1,2 - 1,3
 
10 - 12
 
-
 
Sửa theo mặt đất tự nhiên, không có rãnh thoát nước.
 
 
 
2.3. Thiết kế hệ thống tưới
 
2.3.1. Yêu cầu hệ thống tưới kết hợp với dinh dưỡng
 
Hệ thống tưới cho một lô chè diện tích 1ha được thiết kế bao gồm:
 
- Nguồn nước tưới: Nguồn nước tưới có thể sử dụng nước ao, hồ, sông suối hoặc nước giếng khoan nhưng yêu cầu không được lẫn quá nhiều tạp chất để đảm bảo không bị tắc nghẹn hệ thống khi vận hành và đảm bảo độ bền của thiết bị lọc.
 
- Bể chứa nước: Dung tích tối thiểu là 10m3, có thể xây bể chìm hoặc 2 phần chìm 1 phần nổi.
 
- Thùng hòa tan phân bón, dinh dưỡng: Sử dụng thùng phuy nhựa dẻo dung tích từ 200 - 300 lít.
 
- Nguồn điện: Có thể sử dụng nguồn điện 1 phase hoặc 3 phase tùy điều kiện, tuy nhiên nếu có điện 3 phase thì hệ thống sẽ vận hành ổn định hơn.
 
- Máy bơm cung cấp nước tưới: Sử dụng máy bơm ly tâm công suất 2kw 1 phase hoặc 3 phase tùy theo nguồn điện.
 
- Đồng hồ đo lưu lượng nước: Để đo lượng nước tưới cho nương chè.
 
- Bộ lọc đĩa: Để lọc các tạp chất có trong nước tưới trước khi bơm vào hệ thống tưới tránh hiện tượng tắc nghẹn hệ thống. Sử dụng bộ lọc đĩa 2 inch, công suất lọc 30m3/h của hãng Naandanjain (Israel) hoặc các hãng khác có cùng chức năng, bộ lọc có thể tháo vệ sinh dễ dàng.
 
- Van xả khí: Để xả không khí lẫn trong hệ thống đường ống khi bơm nước nâng cao hiệu quả của hệ thống tưới. Sử dụng van xả khí 3/4 inch của hãng Naandanjain (Israel) hoặc các hãng khác có cùng chức năng.
 
- Thiết bị châm phân bón: Dùng để châm phân bón vào hệ thống tưới để bón cho cây chè. Sử dụng thiết bị châm phân bón Venturi 49 của hãng Naandanjain (Israel) hoặc các hãng khác có cùng chức năng.
 
- Đồng hồ đo áp lực nước: Dùng để đo áp lực dòng chảy của nước trong hệ thống giúp cho người sử dụng điều chỉnh được áp lực phù hợp cho hiệu quả tưới cao nhất. Sử dụng đồng hồ đo áp lực nước 1/2 inch - áp suất làm việc 10bar (kg/cm2).
 
- Van 1 chiều: Để dòng chảy trong hệ thống đi theo 1 chiều, không bị chảy ngược lại máy bơm khi hệ thống ngừng hoạt động.
 
          - Hệ thống ống dẫn: Sử dụng ống PVC đường kính 60, dầy 4mm, áp lực tối đa 16bar của Công ty nhựa thiếu niên tiền phong hoặc các sản phẩm khác cùng chất lượng. Ống được chôn sâu dưới mặt đất 50cm để đảm bảo tuổi thọ của hệ thống.
 
          - Dây tưới nhỏ giọt có bù áp: Sử dụng dây tưới nhỏ giọt có bù áp của Công ty Naandanjain (Israel) đường kính 16mm, 1,6lit/h hoặc các công ty khác có cùng chất lượng. Khoảng cách lỗ nhỏ giọt trên ống là 40cm - 50cm, đầu nhỏ giọt có gắn bù áp để đảm bảo lượng nước tưới ở tất cả các lỗ là bằng nhau.
 
          - Một số phụ kiện khác: Đầu khởi thủy, nối ống nhỏ giọt, đầu bịt cuối, van cầu, phụ kiện PVC khác,...
 
2.3.2. Thiết kế hệ thống tưới kết hợp với dinh dưỡng
 
- Nương chè được chia thành những lô có diện tích từ 0,5-0,6ha.
 
- Đường ống chính được đi từ khu vực lắp đặt máy bơm và hệ thống phối trộn phân bón, đi tới đầu các lô tưới. Mỗi lô tưới được lắp đặt 01 van cầu để có thể tưới từng lô theo nhu cầu.
 
- Dây tưới được dải trên bề mặt đất, dọc theo hàng chè, cách hàng chè 15cm.
 
3. Kỹ thuật gieo trồng
 
3.1. Làm đất
 
Việc làm đất trồng chè phải đạt yêu cầu sâu, sạch, ải, vùi lớp đất mặt có nhiều hạt cỏ xuống dưới, san ủi những điểm dốc cục bộ.
 
a) Làm đất theo cách cày sâu toàn bộ bề mặt sâu 20 - 25 cm, bừa san. Trường hợp không cày toàn bộ bề mặt cũng phải đào rãnh trồng. Đào rãnh hàng trồng chè sâu 40 - 45 cm, rộng 50 - 60 cm. Lấp đất mặt xuống dưới, lấp đất cái lên trên cách mặt đất 5 - 10 cm.
 
b) Thời vụ làm đất: Làm đất vào thời gian ít mưa (dưới 150 mm / tháng) tránh xói mòn.
 
- Tháng 9 - 11 đối với loại đất mới, nhiều mùn, khai hoang xong trồng ngay.
 
- Tháng 11 - 3 đối với loại đất phục hoang, đất xấu, trồng một vụ cây phân xanh cải tạo đất.
 
 3.2. Giống chè
 
3.2.1. Trồng các giống chè đã được khảo nghiệm thích hợp vùng
 
Trồng các giống PH1, LDP1, PH8, Kim Tuyên, PH11,...
 
3.2.2. Trồng chè bầu cây đảm bảo đúng tiêu chuẩn
 
Chè giâm cành: Cây sinh trưởng trong vườn ươm từ 8 - 12 tháng tuổi. Mầm cây cao từ 20 cm trở lên,có 6 - 8 lá thật, đường kính mầm sát gốc từ 4 - 5 mm trở lên, vỏ phía gốc màu đỏ nâu, phía ngọn xanh thẫm. Lá chè to, dày, xanh đậm, bóng láng, không có nụ hoa.
 
3.3. Thời vụ trồng
 
Có thể trồng hai thời vụ trong năm:
 
- Vụ xuân: trồng từ tháng 2 đến tháng 4.
 
- Vụ thu: trồng từ tháng 8 đến tháng 10.
 
Ưu tiên trồng vụ thu hơn vì vụ thu sẽ cho tỷ lệ sống cao hơn.
 
3.4. Trồng cây chè
 
Đất trồng chè phải được cày vùi phân xanh trước khi trồng ít nhất 1 tháng. Khi trồng thì bổ hố hay cày rạch sâu 20 - 25 cm theo rãnh hàng đã được đào để trồng bầu cây.
 
3.4.1. Khoảng cách trồng
 
- Mật độ trồng:  2,2 vạn cây/ ha.
 
- Khoảng cách trồng: Hàng x hàng = 1,3 m, cây x cây= 0,35 m  (rạch trồng chè rộng 30-40 cm).
 
3.4.2. Trồng cây sau khi đã bỏ túi bầu. Đặt bầu vào hố hay rạch, lấp đất, nén đất đều xung quanh bầu, lấp phủ lớp đất tơi trên vết cắt hom 1 - 2 cm, đặt mầm cây theo một hướng xuôi chiều gió chính
 
Trồng xong tủ cỏ, rác hai bên hàng chè hay hốc trồng dày 8 - 10 cm, rộng 20 - 30 cm mỗi bên. Loại cỏ, rác dùng để tủ là phần không có khả năng tái sinh.
 
3.4.3. Trồng cây phân xanh, che bóng: Cây phân xanh là các loại cây có khả năng cải tạo đất, làm phân bón tăng chất dinh dưỡng cho cây chè, tốt nhất là các cây họ đậu.
 
Thời vụ gieo: Từ tháng 1 - 4 hàng năm, ngay sau khi làm đất, trồng chè.
 
Cách gieo: Cây hàng năm gieo giữa hàng, mật độ tuỳ theo loại cây, cách gốc chè ít nhất 40 cm về mỗi bên. Cây phân xanh lưu niên 2 - 4 năm (các loại muồng, cốt khí) kiêm che bóng tạm được gieo theo cụm một đường giữa hai hàng chè, khoảng cách tâm cụm 30 - 40cm, mỗi cụm đường kính 3 - 5 cm.
 
Cây bóng mát bộ đậu,thân gỗ, tán thưa, rộng, không tranh chấp nước với cây chè về mùa đông, được trồng cùng hàng hay giữa hai hàng chè, mật độ từ 150 - 250 cây/ha, trồng bằng cây ươm bầu, đảm bảo che bóng 30 - 50 % ánh sáng mặt trời.
 
Đỗ Thơm
 
Quy trình Thuộc dự án: Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng vùng chè xuất khẩu tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
 
 
 

QUY TRÌNH THÂM CANH RỪNG TRỒNG KEO TAI TƯỢNG

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> Nhằm đưa c&aacute;c giống bạch đ&agrave;n, keo tai tượng mới nghi&ecirc;n cứu, chọn tạo c&oacute; năng suất chất lượng tốt v&agrave;o sản xuất để n&acirc;ng cao năng suất chất lượng rừng trồng, Viện Nghi&ecirc;n cứu Giống v&agrave; C&ocirc;ng nghệ sinh học l&acirc;m nghiệp đ&atilde; chọn tạo được bộ giống bạch đ&agrave;n, keo tai tượng c&oacute; năng suất chất lượng tốt v&agrave; đưa v&agrave;o trồng khảo nghiệm ở Ba V&igrave; (H&agrave; Nội), Ph&uacute; Thọ v&agrave; c&aacute;c tỉnh miền Trung. Giống đ&atilde; được Bộ N&ocirc;ng nghiệp v&agrave; PTNT c&ocirc;ng nhận l&agrave; giống tiến bộ kỹ thuật v&agrave; giống quốc gia. Bắc Giang l&agrave; tỉnh miền n&uacute;i c&oacute; điều kiện đất đai, kh&iacute; hậu tương đối giống điều kiện ở c&aacute;c địa phương đ&atilde; trồng khảo nghiệm. V&igrave; vậy, để n&acirc;ng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, cần thao khảo kỹ thuật dưới đ&acirc;y.</p>

Nhằm đưa các giống bạch đàn, keo tai tượng mới nghiên cứu, chọn tạo có năng suất chất lượng tốt vào sản xuất để nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng, Viện Nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học lâm nghiệp đã chọn tạo được bộ giống bạch đàn, keo tai tượng có năng suất chất lượng tốt và đưa vào trồng khảo nghiệm ở Ba Vì (Hà Nội), Phú Thọ và các tỉnh miền Trung. Giống đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia. Bắc Giang là tỉnh miền núi có điều kiện đất đai, khí hậu tương đối giống điều kiện ở các địa phương đã trồng khảo nghiệm. Vì vậy, để nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, cần thao khảo kỹ thuật dưới đây.

QUY TRÌNH THÂM CANH RỪNG TRỒNG BẠCH ĐÀN LAI PELLITA

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> C&aacute;c lo&agrave;i bạch đ&agrave;n được du nhập v&agrave;o Việt Nam từ những năm 1930 v&agrave; đến nay đ&atilde; trở th&agrave;nh nh&oacute;m c&acirc;y trồng chủ lực trong c&aacute;c chương tr&igrave;nh trồng rừng tập trung v&agrave; ph&acirc;n t&aacute;n ở nước ta. Đến năm 2011, tổng diện t&iacute;ch rừng trồng bạch đ&agrave;n ở Việt Nam l&agrave; 353,000ha, chiếm 32% diện t&iacute;ch rừng trồng cả nước. Rừng trồng bạch đ&agrave;n đ&atilde; g&oacute;p phần đ&aacute;ng kể đ&aacute;p ứng nhu cầu gỗ nguy&ecirc;n liệu cho c&ocirc;ng nghiệp giấy, v&aacute;n dăm, gỗ trụ mỏ, gỗ x&acirc;y dựng v&agrave; đồ gỗ nội thất. Do đ&oacute; đ&atilde; cải thiện mức thu nhập v&agrave; mức sống của người n&ocirc;ng th&ocirc;n ở c&aacute;c v&ugrave;ng đất thấp, đặc biệt l&agrave; ở miền Trung v&agrave; miền Bắc Việt Nam.</div> <div> &nbsp;</div>
Các loài bạch đàn được du nhập vào Việt Nam từ những năm 1930 và đến nay đã trở thành nhóm cây trồng chủ lực trong các chương trình trồng rừng tập trung và phân tán ở nước ta. Đến năm 2011, tổng diện tích rừng trồng bạch đàn ở Việt Nam là 353,000ha, chiếm 32% diện tích rừng trồng cả nước. Rừng trồng bạch đàn đã góp phần đáng kể đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu cho công nghiệp giấy, ván dăm, gỗ trụ mỏ, gỗ xây dựng và đồ gỗ nội thất. Do đó đã cải thiện mức thu nhập và mức sống của người nông thôn ở các vùng đất thấp, đặc biệt là ở miền Trung và miền Bắc Việt Nam.
 
Trong những năm gần đây, việc chọn tạo ra các giống lai và sử dụng trong trồng rừng là hướng đi mới có nhiều triển vọng và góp phần nâng cao năng suất rừng trồng. Trên thế giới, một số công trình nghiên cứu chọn tạo giống lai giữa các loài bạch đàn và nhân giống sinh dưỡng kết hợp với thâm canh rừng trồng đã đưa năng suất rừng trồng bạch đàn lên 30-40%. Ở Việt Nam, trong giai đoạn 1995 -2000, công trình nghiên cứu lai giống đã tiến hành cho các loài bạch đàn urô, bạch đàn caman và bạch đàn liễu và đã tạo ra hàng chục tổ hợp lai có ưu thế lai về sinh trưởng cao hơn giống bố mẹ. Trong giai đoạn 2006-2010, tiếp nối chương trình chọn tạo giống các loài bạch đàn, Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng (nay là Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học lâm nghiệp) đã xây dựng các chương trình chọn giống và các quần thể chọn giống thế hệ 2 cho bạch đàn urô và bạch đàn pellita. Bên cạnh đó, một chương trình chọn tạo giống lai giữa bạch đàn urô và bạch đàn pellita đã được thực hiện song song và đã tạo ra nhiều tổ hợp UP rất có triển vọng. Các tổ hợp lai này có sinh truứng vưọt trội từ 20 - 50% so với các giống bố mẹ cũng như các giống đối chứng U6, PNT4 trên các lập địa ở Ba Vì (Hà Nội), Nam Đàn (Nghệ An), Đông Hà (Quảng Trị) và Bầu Bàng (Bình Dương).

KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG BẰNG HOM BẠCH ĐÀN LAI URO VÀ PELLITA

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Bạch đ&agrave;n Uro (E. urophylla) nguy&ecirc;n sản từ Indonesia, l&agrave; lo&agrave;i c&oacute; sinh trưởng nhanh, th&iacute;ch nghi tốt với điều kiện lập địa ở miền Bắc, miền Trung v&agrave; khu vực T&acirc;y Nguy&ecirc;n, th&iacute;ch hợp cho trồng rừng kinh doanh gỗ nguy&ecirc;n liệu giấy, v&aacute;n dăm. Bạch đ&agrave;n Uro cũng l&agrave; lo&agrave;i c&oacute; thể lai giống với c&aacute;c lo&agrave;i bạch đ&agrave;n kh&aacute;c như bạch đ&agrave;n Grandis (E. grandis), bạch đ&agrave;n Caman (E. camaldulensis) tạo ra giống lai c&oacute; ưu thế lai rất lớn.</div> <div> &nbsp;</div>
Bạch đàn Uro (E. urophylla) nguyên sản từ Indonesia, là loài có sinh trưởng nhanh, thích nghi tốt với điều kiện lập địa ở miền Bắc, miền Trung và khu vực Tây Nguyên, thích hợp cho trồng rừng kinh doanh gỗ nguyên liệu giấy, ván dăm. Bạch đàn Uro cũng là loài có thể lai giống với các loài bạch đàn khác như bạch đàn Grandis (E. grandis), bạch đàn Caman (E. camaldulensis) tạo ra giống lai có ưu thế lai rất lớn.
 
Bạch đàn Pellita  phân bố ở phía Bắc Australia và Papua New Guinea là loài có sinh trưởng nhanh, dạng thân đẹp, có khả năng chịu hạn và sâu bệnh tốt, tính chất gỗ rất phù hợp cho đóng đồ mộc cao cấp. Bạch đàn Pellita rất phù hợp cho trồng rừng ở các tỉnh miền Nam và miền Trung, ở độ cao dưới 800m và có khí hậu ấm quanh năm.
 
Trong giai đoạn 2006-2010, dựa trên các kết quả nghiên cứu chọn giống riêng rẽ cho 2 loài, Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng đã tiến hành nghiên cứu lai giống giữa bạch đàn Uro với bạch đàn Pellita. Kết quả đã tạo ra hàng chục tổ hợp lai giữa bạch đàn Uro với bạch đàn Pellita. Các tổ hợp lai này có sinh trưởng vưọt trội từ 20 đến 50% so với các giống bố mẹ cũng như các giống đối chứng U6, PN14 trên các lập địa ở Ba Vì (Hà Nội), Nam Đàn (Nghệ An), Đông Hà (Quảng Trị) và Bầu Bàng (Bình Dương).
 
Từ kết quả khảo nghiệm các tổ hợp lai, Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học lâm nghiệp đã tiến hành chọn lọc các cá thể lai tốt nhất trong các khảo nghiệm giống lai và khảo nghiệm dòng vô tính nhằm chọn lọc ra những dòng vô tính có sinh trưởng tốt nhất cho trồng rừng.
 

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY TRÁM ĐEN

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> C&acirc;y tr&aacute;m đen c&oacute; t&ecirc;n kh&aacute;c: B&ugrave;i, Co m&aacute;c b&acirc;y (T&agrave;y, N&ugrave;ng). T&ecirc;n khoa học: Canarium tramdenum Dai &amp; Yakovl. Họ: Tr&aacute;m (Burseraceae). Tr&aacute;m đen l&agrave; c&acirc;y gỗ lớn, cao trung b&igrave;nh từ 25 - 30 m, đường k&iacute;nh ngang ngực c&oacute; thể tới 90cm hoặc hơn.</div> <div> &nbsp;</div>
Quả và lá trám đen
 
Cây trám đen có tên khác: Bùi, Co mác bây (Tày, Nùng). Tên khoa học: Canarium tramdenum Dai & Yakovl. Họ: Trám (Burseraceae). Trám đen là cây gỗ lớn, cao trung bình từ 25 - 30 m, đường kính ngang ngực có thể tới 90cm hoặc hơn.
 
 
 
Thân thẳng, gốc hơi có múi, phân cành khá cao khi mọc trong rừng tự nhiên, nếu mọc ngoài bìa rừng hoặc nơi trống phân cành khá sớm. Quả khi non có màu xanh nhạt, khi chín có màu tím đen, thịt màu hồng thẫm, mỗi quả có một hạt.
 
 
 
Ở nước ta, trám đen thường mọc tự nhiên rải rác trong các khu rừng nhiệt đới, lá rộng thường xanh, từ các tỉnh vùng núi phía Bắc đến miền Trung và Tây Nguyên. Hiện nay trám đen đã được gây trồng khá rộng rãi ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ, kể cả vùng trung du và miền núi, nhất là trồng phân tán trong các vườn rừng, vườn hộ quanh nhà hay quanh vườn để lấy quả.
 
1.     Kỹ thuật trồng
 
a.     Chọn đất và nơi trồng:
 
Trám đen có thể trồng được ở những nơi có độ cao trung bình dưới 800m so với mực nước biển, thích hợp nhất là dưới 400 m. Có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng tầng dày (độ sâu tầng đất > 80 cm), giàu mùn, ẩm thường xuyên, thoát nước. Thích hợp nhất là các loại đất sét hoặc sét pha, đất dốc tụ hoặc đất bồi tụ, đất phù sa ven sông… không nên trồng trên đỉnh đồi, độ dốc không quá 30 độ.
 
b.     Thời vụ trồng:
 
Thời vụ trồng trám đen ở các tỉnh vùng núi phía Bắc thích hợp nhất là vụ xuân – hè (từ tháng 2 – 4) hoặc vụ hè – thu (từ tháng 6 – 8), các tỉnh miền Trung thường trồng vào vụ thu thu – đông ( từ tháng 8 – 12), các tỉnh Tây Nguyên và Nam bộ trồng vào vụ hè – thu (từ tháng 6 – 9), khi đất đủ ẩm và có mưa thường xuyên, chọn những ngày râm mát hoặc mưa nhỏ để trồng.
 
c.      Phương thức và mật độ trồng:
 
Theo kết quả của một số công trình nghiên cứu gần đây cho thấy có thể trồng trám đen theo 3 phương thức chính sau:
 
- Trồng tập trung thuần loài:
 
Đây là phương thức trồng đã áp dụng ở một số địa phương như Hòa Bình, Bắc Giang và Thanh Hóa, có thể trồng thuần loài trên đất trống có cây phù trợ hoặc không có cây phù trợ. Mật độ trồng là 1.600 cây/ha (3 x 2m). Cây giống áp dụng cho phương thức này có thể là cây gieo từ hạt hoặc cây ghép.
 
- Trồng rừng hỗn loài:
 
Đây là phương thức trồng phổ biến ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc, có thể trồng trám đen hỗn loài với các loài cây lá rộng bản địa khác như lim xanh, trám trắng, chẹo, gội nếp, gội trắng… hoặc hỗn loài với các loài cây khác thường lá 1.600 cây/ha (3 x 2 m), tỷ lệ giữa các loài khác với trám đen là như nhau. Ngoài ra, có thể trồng trám đen hỗn loài trong rừng thứ sinh nghèo kiệt, hoặc trảng cây bụi dày sau nương rẫy; mật độ trồng thường là 500 cây/ha (5 x 4 m). Cây giống áp dụng cho phương thức này thường là cây con gieo từ hạt.
 
- Trồng cây phân tán hay nông lâm kết hợp:
 
Đây là phương thức trồng phổ biến ở các tỉnh Trung du vùng núi phía Bắc và Bắc Trung bộ, nhất là trong các chương trình khuyến lâm của Bộ Nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2001 - 2012. Mỗi gia đình có thể trồng một vài chục cây, nhiều nhất không quá 100 cây trên nương rẫy theo phương thức nông lâm kết hợp, hay trồng xen với cây ăn quả trong các vườn hộ hay rừng. Cây con sử dụng để trồng phân tán trước đây đều trồng bằng cây con gieo từ hạt, nhưng trong khoảng những năm gần đây chủ yếu trồng bằng cây ghép. Mật độ trồng cây ghép thường là 500 cây/ha (5 x 4 m).
 
c.      Xử lý thực bì
 
Đối với phương thức trồng phân tán trong các vườn hộ, vườn rừng hay xung quanh nhà thường thực bì rất ít hoặc không có, nên chỉ cần xử lý cục bộ xung quanh vị trí cuốc hố. Đối với các trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt, hoặc trảng cây bụi thực bì khá dày nên cần xử lý theo băng (rạch) chạy song song với đường đồng mức, băng (rạch), chặt rộng 2m, băng chừa rộng 3m, chặt toàn bộ cây bụi thảm tươi trên băng (rạch), chỉ chừa lại những cây gỗ từ 6cm trở lên và những cây tái sinh có giá trị kể cả cây gỗ và cây lâm sản ngoài gỗ. Công việc này phải thực hiện trước khi trồng rừng ít nhất 1 tháng.
 
d.     Làm đất
 
Làm đất theo phương thức cục bộ, dùng dụng cụ chuyên dùng đào hố thủ công, kích thước hố là: 40 x 40 x 40 cm hoặc 60 x 60 x 50 cm tùy theo đặc điểm ở từng nơi trồng rừng, nơi đất tốt, bón lót ít phân hữu cơ cuốc hố kích thước nhỏ; nơi đất xấu, nhiều sỏi đá cần bón nhiều phân hữu cơ thì cuốc hố lớn. Bón lót, nơi đất xấu bón từ 5 – 10 kg phân chuồng hoai (gồm các loại phân: gà, lơn, trâu, bò) kết hợp với 0,3 kg phân NPK (5:10:3)/hố. Nơi đất tốt cũng nên bón từ 2 – 3 kg phân chuồng hoai kết hợp với 0,3 kg NPK (5:10:3)/hố. Lấp đất xuống hố đến đâu đảo phân đều đến đó và lấp đầy miệng hố. Việc cuốc hố phải hoàn thành trước khi trồng ít nhất 1 tuần.
 
e.      Kỹ thuật trồng
 
Sử dụng cuốc hoặc thuổng đào một lỗ nhỏ ở giữa hố đã lấp đất, kích thước hố phải lớn hơn bầu đất của cây giống, xé vỏ bầu, đặt bầu cây ngay ngắn giữa hố và lấp đất, dùng tay ấn nhẹ xung quanh bầu sao cho không làm vỡ bầu đất, vun đất hình mai rùa xung quanh gốc và cao hơn mặt đất xung quanh từ 4 – 5 cm để tránh đọng nước mưa. Sau khi trồng 1 tháng cần kiểm tra để trồng dặm những cây chết hoặc trồng thay thế những cây có nguy cơ bị chết hoặc sinh trưởng kém bằng những cây con đủ tiêu chuẩn dự phòng ở vườn ươm.
 
2. Kỹ thuật chăm sóc
 
Chăm sóc 4 năm đầu kể từ khi trồng, mỗi năm có thể chăm sóc từ 2 - 3 lần tùy theo mức độ thực bì ở từng địa điểm cụ thể. Nội dung chăm sóc chủ yếu là cắt bỏ dây leo quấn lên thân cây trám, dãy cỏ và phát dọn cây bụi thảm tươi xung quanh gốc rộng từ 80 – 100 cm, cuốc xới và vun gốc cây rộng từ 60 – 80 cm, phát tỉa cành và điều chỉnh độ tàn che của tán rừng, hoặc tán cây khác sao cho phù hợp với nhu cầu ánh sáng của cây trám ở từng giai đoạn. Ngoài ra có thể bấm ngọn, tỉa cành nhánh để tạo tán cho từng cá thể, sao cho chúng sinh trưởng và phát triển cân đối, nhiều cành nhánh, tán rộng nhằm nâng cao năng suất quả và hạn chế phát triển chiều cao để dễ thu hoạch, nhất là với những cây ghép.
 
Văn Bằng

KỸ THUẬT TRỒNG THẢO QUẢ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb), t&ecirc;n kh&aacute;c: Đ&ograve; ho, Thảo đậu khấu, M&aacute;c hấu. Thuộc họ: Gừng - Zingiberaceae. Hạt thảo quả l&agrave; thuốc chữa đau bụng, đầy chướng, nấc, n&ocirc;n ọe, ti&ecirc;u chảy, sốt r&eacute;t, h&ocirc;i miệng, s&acirc;u răng... B&ecirc;n cạnh c&ocirc;ng dụng l&agrave;m thuốc, thảo quả c&ograve;n được d&ugrave;ng nhiều l&agrave;m gia vị.</div> <div> &nbsp;</div>
Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb), tên khác: Đò ho, Thảo đậu khấu, Mác hấu. Thuộc họ: Gừng - Zingiberaceae. Hạt thảo quả là thuốc chữa đau bụng, đầy chướng, nấc, nôn ọe, tiêu chảy, sốt rét, hôi miệng, sâu răng... Bên cạnh công dụng làm thuốc, thảo quả còn được dùng nhiều làm gia vị.
 
Cây thảo quả sống lâu năm, cao 2 - 3 m, thân rễ to, phân cành, mọc thành cụm. Cụm hoa dạng bông, mọc từ gốc thân, dài 15 - 20 cm. Đài dạng ống, tràng hoa màu vàng. Quả mọc thành chùm, hình trứng, màu đỏ tía. Hạt màu vàng nâu, có áo hạt, vị ngọt, mùi thơm hơi cay.
 
Thảo quả là cây đặc biệt ưa bóng, ưa ẩm nên chỉ có thể trồng được dưới tán rừng, ở độ cao 1.300 - 2.200 m, có khí hậu ẩm mát quanh năm, nhiệt độ trung bình năm 13 - 15,3 độ C, thường xuyên có sương mù, lượng mưa 3.500 - 3.800 mm/năm, độ ẩm không khí trung bình từ 90% đến bão hòa.
 
1. Nhân giống
 
- Nhân giống bằng hạt: Vào tháng 9, tháng 10 khi thu hoạch, chọn những chùm quả già, nhiều quả to, ở cây 5 tuổi trở lên. Bóc vỏ, đãi bỏ phần áo hạt và chỉ lấy hạt chìm. Vườn ươm được chọn kề bên nơi trồng thảo quả, dưới tán rừng, độ che phủ 60%, mặt đất bằng phẳng, đất được làm nhỏ, đánh luống cao.
 
Hạt giống thu được cần gieo ngay. Gieo hạt xong phải phủ cỏ khô. Hạt sẽ nảy mầm sau khi gieo 40 - 45 ngày. Chú ý, tỉa thưa để có cự ly 20 x 20cm/cây. Cây con thừa dặm sang luống khác. Cây thảo quả con ở vườn ươm sau 1 - 2 năm mới nhổ đi trồng.
 
 - Nhân giống bằng nhánh con: Tách một số nhánh non từ các khóm thảo quả trồng, cao khoảng 1m, ở gốc còn một đoạn thân rễ, cắt bỏ lá. Loại cây giống này không tốt bằng cây con gieo từ hạt.
 
- Thời vụ trồng: Từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau.
 
2. Kỹ thuật trồng
 
- Làm đất: Đất dưới tán rừng kín thường ẩm, độ cao 1.500 - 2.200 m, bề mặt tương đối bằng phẳng, hoặc có độ dốc dưới 15 độC. Chặt phá bỏ tất cả các loại cây ở tầng dưới tán. Ở tầng tán chỉ để lại một số cây gỗ, đủ tạo nên tàn che 0,4 - 0,6%. Bổ hố trồng cự ly 3 x 4m/cây. Thảo quả không cần trồng sâu nhưng cần giẫm chặt gốc. Đất rừng mới khai phá còn màu mỡ không cần bón phân.
 
- Chăm sóc: Thảo quả là cây trồng bán tự nhiên nên chăm sóc đơn giản, ngoại trừ việc chặt phá, làm vệ sinh rừng 2 lần/năm.
 
+ Lần thứ nhất trước mùa hoa (tháng 2 - 3);
 
+ Lần thứ hai sau khi thu hoạch quả, lần này cần chặt bỏ những cây thảo quả già.
 
Chú ý, khi vệ sinh rừng phải nhổ bỏ tất cả những cây xâm lấn xung quanh gốc thảo quả. Cây trồng sau 3 năm bắt đầu có hoa quả, càng về sau càng nhiều hơn. Năng suất cao nhất từ năm thứ 6 - 15, trung bình 0,2 - 0,3 tấn quả khô/ha/năm và cây trồng có thể thu hoạch trong vòng hơn 20 năm.
 
3. Thu hoạch, chế biến
 
Vào khoảng tháng 10 đến hết tháng 11, khi thảo quả già thì tiến hành thu hoạch. Dùng dao cắt cả chùm quả đem về phơi hoặc sấy. Hiện nay, hầu hết những rừng trồng thảo quả thường xa nơi ở của các đồng bào, đi lại khó khăn. Để giảm công chuyên chở, vào mùa thu hoạch đồng bào thường làm lều ở tạm và sấy thảo quả luôn trong rừng. Khi sấy nên để cả chùm nhằm tạo độ thông thoáng cho nhanh khô, dễ đảo khi sấy. Khi quả đã khô tách lấy từng quả (bỏ cuống chung), đóng bao vận chuyển về nhà.
 
Thảo quả khô cần để nơi khô ráo, tránh ẩm vì dễ mốc.
 
TTKNQG

KỸ THUẬT TRỒNG TỎI

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> - Tỏi trắng c&oacute; đặc điểm l&aacute; riềm, to bản, củ to. Đường k&iacute;nh củ đạt tới 4 - 4,5 cm. Khi thu hoạch vỏ lụa củ m&agrave;u trắng. Giống tỏi n&agrave;y bảo quản củ hay bị &oacute;p.</div> <div> &nbsp;</div>
I. Giống tỏi
 
Ở các vùng tỏi chuyên canh nông dân thường trồng 2 giống tỏi nhập từ Trung Quốc là tỏi trắng và tỏi tía.
 
- Tỏi trắng có đặc điểm lá riềm, to bản, củ to. Đường kính củ đạt tới 4 - 4,5 cm. Khi thu hoạch vỏ lụa củ màu trắng. Giống tỏi này bảo quản củ hay bị óp.
- Tỏi tía lá cứng, dày, củ chắc và cay hơn tỏi trắng. Dọc thân gần củ có màu tía. Khi thu hoạch củ có màu trắng ngà. Mỗi củ có 10 - 11 nhánh, đường kính củ 3,5 - 4 cm. Giống này được trồng nhiều hơn tỏi trắng.
 
Năng suất của 2 giống tỏi này đạt trung bình 300 - 400 kg củ thô/sào Bắc bộ.
 
II- Kỹ thuật trồng trọt:
 
1- Thời vụ: Trồng tỏi thích hợp nhất từ 25/9 - 5/10.
 
2- Chọn đất, làm đất, bón phân và trồng củ
 
- Đất trồng tỏi phải là đất thịt nhẹ, tơi xốp giàu mùn, chân vàn cao, dễ thoát nước, độ chua thích hợp 6 - 6,5. Đất làm kỹ lên luống ngay để tránh mưa, luống rộng 1,2 - 1,5 m, rãnh rộng 0,3 m.
 
- Phân bón: Tính cho 1 sào Bắc bộ.
 
Phân chuồng hoai : 700 - 750 kg
 
URê : 10 - 12 kg
 
Super lân : 18 - 20 kg
 
Kali : 8 - 10 kg.
 
Đất chua có thể bón thêm vôi bột, lượng vôi bón tuỳ theo độ chua của đất. Trung bình bón 20 kg vôi/sào.
 
Bón lót toàn bộ vôi bột, phân chuồng, 1/3 lượng đạm và kali rải theo hàng hoặc rắc đều trên mặt luống sau đó trộn kỹ. Số đạm và kali còn lại dùng để bón thúc.
 
- Tỏi giống: Chọn những nhánh từ củ chắc. Trọng lượng củ 12 - 15 gr có 10 - 12 nhánh. Mỗi sào cần trung bình 35 kg tỏi giống. Phân loại nhánh trồng riêng để sau này tiện chăm sóc. Trước khi trồng ngâm nhánh tỏi từ 2 - 3 giờ.
 
- Tưới ẩm toàn bộ mặt luống. Cắm nhánh tỏi ngập 2/3 xuống đất, khoảng cách hàng từ 15 - 20 cm, các nhánh trên hàng từ 8 - 10 cm. Sau đó phủ rơm rạ băm nhỏ lên trên để giữ ẩm củ hạn chế cỏ mọc (tốt nhất nên dùng rơm rạ cũ).
 
3- Chăm sóc
 
- Tưới nước đều đến khi cây mọc 3 - 4 lá thật thì tưới rãnh để nước thấm dần lên. Khoảng 10 ngày tưới rãnh 1 lần kết hợp với bón thúc phân hoá học và nhặt sạch cỏ dại.
Lượng phân còn lại bón thúc làm 4 - 5 lần, nên ngừng bón phân sau khi trồng 70 - 80 ngày và giữ đủ độ ẩm cần thiết khoảng 60% độ ẩm đất ở giai đoạn này để cho củ phát triển thuận lợi, tránh tỏi phát triển quá mức dẫn đến " nổ cổ ". Trước khi thu hoạch 20 - 25 ngày nên ngừng tưới nước.
 
4- Phòng trừ sâu bệnh
 
Cây tỏi thường bị các bệnh sau:
 
- Bệng Sương mai: Xuất hiện cuối tháng 11 dương lịch khi nhiệt độ thấp, ẩm độ không khí cao. Phòng bệnh tốt nhất nên phun định kỳ trước khi bệnh xuất hiện hoặc phun trừ khi bệnh mới xuất hiện bằng dung dịch Boocđô 1%, Zineb, Ziram, Ridomil ...
 
  Ngoài ra những ngày có sương mù nên tưới rửa sương cho cây.
 
- Bệnh than đen: Xuất hiện trên củ khi sắp thu hoạch và cả trong thời kỳ bảo quản củ.
 
Phòng trừ: Cách ly những củ bị bệnh. Dùng Zineb, Polyram, Topsin-M, Dithane-M ... phun trừ.
 
5- Thu hoạch
 
Củ thương phẩm thu hoạch sau khi trồng 125 - 130 ngày lúc lá đã già, gần khô.
Củ giống phải có thời gian sinh trưởng trên 140 ngày. Chọn củ có đường kính 3,5 - 4 cm có 10 - 12 nhánh, không bị bệnh để riêng, bó thành bó nhỏ treo nơi thoáng mát hoặc trên gác bếp.
 
Văn Hà

KỸ THUẬT TRỒNG – CHĂM SÓC GIỐNG CÂY SƯA ĐỎ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> - C&acirc;y Sưa l&agrave; c&acirc;y gỗ lớn, ưa s&aacute;ng, sinh trưởng trung b&igrave;nh nhưng ở tuổi 1 &ndash; 2 sinh trưởng rất nhanh; c&acirc;y vươn d&agrave;i tới 4-5m v&agrave; uốn cong như cần c&acirc;u, đến cuối tuổi 3 sang tuổi 4 c&acirc;y tự vươn thẳng.</div> <div> &nbsp;</div>
Đặc điểm cây sưa đỏ:
 
- Cây Sưa là cây gỗ lớn, ưa sáng, sinh trưởng trung bình nhưng ở tuổi 1 – 2 sinh trưởng rất nhanh; cây vươn dài tới 4-5m và uốn cong như cần câu, đến cuối tuổi 3 sang tuổi 4 cây tự vươn thẳng.
- Theo kinh nghiệm thì cây nào càng cong thì sinh trưởng càng mạnh.
- Cây sưa rất dẻo và dai, chống chịu bão gió rất tốt, cành sưa không bao giờ bị gẫy do gió bão, gốc sưa bị gió bão xô đổ nghiêng sau lại tự vươn thẳng được.
 
 
 
Kỹ thuật ủ mầm:
 
- Ngâm hạt vào nước ấm theo tỉ lệ 2 sôi 3 lạnh trong vòng 12 giờ sau đó vớt ra rổ cà nhẹ nhiều lần rồi đem ủ trong bọc vải ở nhiệt độ khoảng 35 độ.
- Sau khi ủ 48 giờ, hạt nứt nanh đem ra ươm riêng. Hạt nào nứt cho vào bầu, hạt nào chưa nứt ủ tiếp. Sau 12 giờ hạt nào không nứt thì loại bỏ.
 
Kỹ thuật vườn ươm:
 
- Đảm bảo độ ẩm và ánh sáng cho cây non, bầu ươm đảm bảo đất tơi xốp và thoát nước. Không nên tưới nhiều nhưng tưới đều hàng ngày.
- Khi được 45 ngày cây con được 2-3 lá thì tăng cường ánh sáng kết hợp phân và dưỡng chất đa vi lượng.
 
- Khi cây đạt 15-20 Cm bắt đầu cho cây ra ánh nắng để cây quen dần với môi trường.
- Cây đạt chiều cao từ 25 – 50 – 100 – 150 cm đem trồng ra môi trường ngoài vườn ươm.
 
Biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc giống cây sưa đỏ:
 
Tiêu chuẩn cây con:
 
Cây con đem trồng phải từ 6-12 tháng tuổi.
Đường kính cổ rễ từ 4-5 mm, cao từ 25-50 cm là tốt nhất.
Cây khỏe mạnh, không sâu bệnh…
Khi mua về chưa thể trồng ngay nên tưới ẩm bầu hàng ngày và để nơi có ánh sáng mặt trời.
Quy trình kỹ thuật làm đất:
 
- Làm đất: Trồng rải rác hay tập trung đều phải đào hố. Theo kinh nghiệm kích thước hố 50x50x50cm là phù hợp.
- Bón phân: Bón lót mỗi hố từ 1-3kg phân chuồng hoai mục, phân chuồng ủ vi sinh là tốt nhất.
 
Mật độ và khoảng cách trồng:
Trồng tập trung
- Cây cách cây 3m và hàng cách hàng 3m, 1 ha trồng 1.100 cây.
- Hoặc cây cách cây 2m, hàng cách hàng 3m, 1 ha trồng 1.660 cây.
 
Khoảng cách trồng cây gỗ sưa đỏ [cây cách cây 3 mét]
 
Khoảng cách trên chỉ có tính tương đối có thể tùy theo cách sử dụng đất để bố trí lại cho phù hợp.
 
Trồng hàng rào hoặc trồng rải rác, trồng làm cảnh cây cách cây 1.5 – 2 mét.
Trồng xen với các loại cây khác: Trồng làm cây che mát cafe, trồng làm trụ tiêu, hoặc trồng cây dược liệu, cây ngắn ngày…
 
 Khoảng cách trồng cây gỗ sưa đỏ làm cảnh hoặc làm hàng rào [cây cách cây 1.5 - 2 mét]
 
Trồng theo sở thích riêng hoặc điều kiện ngoại cảnh
- Khi trồng nhẹ nhàng dùng tay xé bao nilon bầu đất, tránh làm vỡ bầu đất, sau đó đặt xuống hố đã đào sẵng.
- Khi trồng đảm bảo mặt bầu dưới mặt đất 5 – 10 cm.
- Tưới nước ẩm cho hố đất đó để cây có thể bén rễ tốt.
 
Kỹ thuật chăm sóc cây sưa non:
 
Chăm sóc
- Sau khi trồng tưới ẩm đều trong 30 ngày cho cây bén rễ hồi xanh. Trồng rừng tập trung nên trồng vào đầu mùa mưa, tiết kiệm chi phí nhân công tưới nước. Trồng ít trong vườn nhà hoặc trồng nơi có thể chủ động được nước tưới ta có thể trồng quanh năm, không cần theo mùa vụ.
 
Tưới nước
- Tưới nước đều ẩm trong 1 – 2 tháng đầu. Sau đó giảm lượng tưới nước, nhưng nếu gặp thời tiết khắc nghiệt, thấy cây có hiện tượng thiếu nước phải kịp thời bổ xung tránh để cây bị hư hại, giảm sức sống.
- Sau khi trồng 1 tháng, cây phát triển bình thường có thể bón các loại phân hóa học để kích thích sự phát triển của cây, Lưu ý chỉ nên bón 1 lượng rất nhỏ (Khoảng 1 thìa cà phê) cách gốc từ 5 cm.
- Trong 3 năm đầu, mỗi năm làm cỏ bón phân 2 – 3 lần. Bón mỗi cây 0,1 – 0,2kg NPK (12:5:10).
 
- Những năm sau làm cỏ 1-2 lần/năm. Bón mỗi cây tăng 0,1-0,2kg NPK/mỗi tuổi.
 
- Cây Sưa đỏ muốn rút ngắn chu kỳ kinh doanh mà cây đạt được gỗ thương phẩm thì phải thường xuyên chăm sóc.
- Trong thời gian 3 năm đầu làm cỏ quanh gốc đảm bảo cây không bị cỏ dại chen lấn tạo nguồn quang hợp cho cây.
- Nên tỉa cành vào cuối mùa khô hàng năm để tạo cho thân cây thẳng. Sau trồng 2 – 3 năm tỉa bỏ cành la, cành võng. Sau trồng 5 – 6 năm tỉa bỏ cành giao nhau.
- Từ khi cây phát triển bình thường có thể bón phân hoặc không cũng được vì sức phát triển của Sưa đỏ mạnh hơn rất nhiều các loại cây gỗ cùng nhóm và cho thu hoạch sớm hơn rất nhiều.
- Sâu hại: Ít thấy loại sâu ăn lá Sưa. các loài sâu bọ, côn trùng, không thích ăn lá sưa, có một số sâu bọ ăn tạp không bỏ qua cây sưa. Sâu, Bọ, bệnh hại cây sưa còn tùy theo khu vực, có nơi có loài này, có nơi có loài khác… Xem thêm cách phòng trừ sâu bệnh.
 
Thời vụ trồng cây sưa:
Khu vực miền Bắc: Khoảng từ tháng 2 – tháng 4.
Khu vực Bắc Trung Bộ: Từ tháng 9 – tháng 11.
Khu vực Duyên hải Miền Trung: Từ tháng 11 – tháng 1.
Khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ: Từ tháng 6 – tháng 9.
 
Tuổi thành thục công nghiệp (cây thương phẩm):
 
- Giá trị đích thực cây Sưa đỏ hiện nay chỉ có người buôn gỗ Sưa mới biết được. Thị trường tiêu thụ là xuất khẩu thô hoặc làm đồ thủ công mỹ nghệ đắt tiền.
- Cây Sưa trồng 10 năm, sinh trưởng trung bình có đường kính trung bình 25cm, cao 13m. Như vậy tuổi thành thục cây Sưa từ trên dưới 10 năm trở lên.
- Hiện tại người ta lùng mua đồ gia dụng làm bằng gỗ Sưa như đi mua đồ cổ: Giường, tủ, bàn ghế cũ với giá cao tùy theo tốt xấu.
 
Trồng xen
Khả năng trồng xen là khả năng lớn nhất của cây Sưa.
 
Cây sưa đỏ trồng xen với nhiều loại cây trồng [cây công nghiệp, cây ăn quả, cây cảnh, cây thuốc...]
 
- Cây Sưa phát triển tốt dưới tán vải, keo, bạch đàn… nên không cần chặt bỏ cây trồng hiện tại, có thể trồng cây Sưa hỗn giao với keo tai tượng, cây dược liệu…
- Cây Sưa ít tán nên không cạnh tranh ánh sáng với cây trồng.
- Không cạnh tranh chất dinh dưỡng của các cây khác. Không cần phải có rừng bạn mới trồng cây lâm nghiệp được, bạn có thể tận dụng mọi nơi có đất trống để trồng.
- Trong thời gian chờ thu hoạch, trồng cây bất kỳ xen dưới gốc, ví dụ hồ tiêu, sa nhân… cho thu nhập hàng năm.
- Trồng làm hàng rào, cây cách cây 1.5 – 3 mét.
- Trồng làm cây cảnh, vừa đẹp vừa có thu nhập.
 
BBT