Cây công nghiệp

KỸ THUẬT TRỒNG ỚT NGỌT (CAPSICUM ANNUM L.) THEO HƯỚNG AN TOÀN

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Ớt ngọt (Capsicum annum L.) l&agrave; c&acirc;y ưa nhiệt, nhiệt độ th&iacute;ch hợp cho c&acirc;y sinh trưởng v&agrave; ph&aacute;t triển của c&acirc;y ớt l&agrave; 25 &ndash; 28 độ C ban ng&agrave;y v&agrave; 18 &ndash; 22 độ C ban đ&ecirc;m. C&acirc;y ớt cần nhiều &aacute;nh s&aacute;ng, nếu thiếu &aacute;nh s&aacute;ng nhất l&agrave; thời kỳ ra hoa th&igrave; sẽ l&agrave;m giảm tỷ lệ đậu quả.</div> <div> &nbsp;</div>
 
 
Ớt ngọt (Capsicum annum L.) là cây ưa nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển của cây ớt là 25 – 28 độ C ban ngày và 18 – 22 độ C ban đêm. Cây ớt cần nhiều ánh sáng, nếu thiếu ánh sáng nhất là thời kỳ ra hoa thì sẽ làm giảm tỷ lệ đậu quả.
 
 
 
Ớt chịu được hạn, tuy nhiên ở thời kỳ ra hoa và đậu quả, độ ẩm (đất và không khí) đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối lượng và chất lượng quả. Độ ẩm đất thấp (dưới 70%) quả hay bị cong và vỏ quả không mịn. Tuy vậy ớt không chịu được úng. Độ ẩm đất quá cao (trên 80%) làm bộ rễ kém phát triển, cây còi cọc.
 
 
 
1. Thời vụ
 
Vụ Đông Xuân: Gieo hạt tháng 10 - 12, trồng tháng 1 - 2, thu hoạch tháng 4 - 5 đến tháng 6 - 7.
 
Vụ Hè Thu: Gieo hạt tháng 6, tháng 7; trồng tháng 8 - 9, thu hoạch tháng 1, tháng 2.
 
 
 
2. Vườn ươm
 
Dùng giống có năng suất, chất lượng và sức chống chịu sâu bệnh cao. Trước khi gieo, xử lý hạt bằng thuốc tím hoặc nước sôi 50 độ C. Làm đất kỹ, bón lót phân chuồng hoai mục 3 - 4 kg/m2, gieo hạt 0,5 - 0,6 g/m2. Sau khi gieo, phủ một lớp rơm rạ băm nhỏ trên mặt luống. Cây con được 1 - 2 lá thật, tiến hành tỉa bỏ cây xấu để mật độ 3 x 4 cm. Cây giống có 5 - 6 lá thật thì đem trồng (khoảng 25 - 30 ngày sau gieo).
 
Tiêu chuẩn cây ớt giống: Thân cứng, mập, khoảng cách các lá ngắn, không bị sâu bệnh.
 
 
 
3. Làm đất, bón phân, trồng
 
Nên trồng ớt trên chân đất phù sa có hàm lượng hữu cơ lớn hơn hoặc bằng 1,5%, độ pH 5,5 - 7,0, tốt nhất là 6,5 - 6,8. Nơi trồng ớt sạch phải xa nguồn nước thải, xa các khu công nghiệp, cách đường quốc lộ ít nhất 100 m. Đất trồng phải đảm bảo tưới tiêu chủ động.
 
Phơi ải đất, làm đất kỹ, lên luống rộng 1m, cao 30 cm, rãnh rộng 20 cm. Trồng hai hàng với khoảng cách 0,6 x 0,4 m.
 
 
 
4. Bón phân
 
Phân bón chỉ sử dụng phân chuồng ủ mục và phân vô cơ, tuyệt đối không dùng phân tươi. Lượng phân bón cho một hecta là: 25 tấn phân chuồng mục (900 - 950 kg/sào Bắc Bộ), 150 N, 90 P2O5, 150 K2O (11 kg ure, 21 kg supe lân, 11 kg kali sulfat/sào Bắc Bộ).
 
- Bón lót: Toàn bộ phân chuồng + lân + 20% đạm + 30% kali.
 
- Bón thúc:
 
+ Lần 1 khi cây hồi xanh: 10% đạm.
 
+ Lần 2 khi cây ra nụ: 20% đạm + 20% kali.
 
+ Lần 3 cây ra quả rộ: 30% đạm + 30% kali.
 
+ Lần 4 sau thu hoạch đợt 1: bón số phân còn lại.
 
Có thể dùng nitrat amôn, sulfat amôn thay cho urê, clorua kali thay cho sulfat kali hoặc các phân hỗn hợp, phức hợp NPK với liều lượng nguyên chất tương đương, hoặc dùng các dung dịch dinh dưỡng phun qua lá theo hướng dẫn của hãng.
 
 
 
5. Tưới nước, chăm sóc
 
Tuyệt đối không được dùng nguồn nước thải, nước ao tù để tưới. Tốt nhất nên dùng nước giếng khoan, nước sông không bị ô nhiễm. Trước khi bón thúc phải làm cỏ, xới xáo, vun luống, vun gốc kết hợp tưới nước. Vào các thời kỳ ra nụ, hoa, quả rộ và quả đang lớn cần đảm bảo đủ nước, nếu có thể thì tưới rãnh. Sau khi mặt luống đã thấm nước đều phải tháo hết nước đọng trong rãnh.
 
 
 
6. Phòng trừ sâu bệnh
 
 
 
- Bệnh thán thư (Collettotricum nigrum El. et stal.): Đây là bệnh nguy hiểm gây thối quả hàng loạt. Do bệnh xuất hiện vào giai đoạn quả chín rộ, vào thời điểm nhiệt độ cao (30 độ C), mưa nhiều nên rất khó khăn cho việc phòng trừ bằng thuốc hoá học. Do nấm tồn tại trên tàn dư cây trồng nên phải thực hiện luân canh nghiêm ngặt. Không trồng liên tục ớt trên một chân ruộng hoặc trồng ớt sau các cây họ cà. Dùng thuốc Zineb 0,3%, Boocdo hoặc Oxyclorua đồng 0,7%.
 
 
 
- Bệnh sương mai (Phytophthora infestant) phá hại tất cả các bộ phận trên cây ớt. Bệnh phát sinh từ mép lá, sau đó lan nhanh ra cả cây, gây thối nhũn, sau đó khô giòn và gẫy. Hoa bị chuyển thành màu nâu và rụng. Phun phòng bằng thuốc Zineb 0,3%, Oxyclorua đồng 0,7%.
 
 
 
- Bệnh héo rũ (Fusarium oxysporum F. lycopensici) xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn cây con đến khi ra hoa. Dùng hỗn hợp Kasuzan 0,2%, Fudazol 0,15 để trừ.
 
 
 
- Nhện trắng (Poliphago tarsonemus Latus) gây hiện tượng xoăn ngọn, xoăn lá. Dùng Applaut 0,2%, Ortus, Kinalux để diệt.
 
 
 
- Rệp (Aphis sp). thường xuất hiện vào cuối tháng 4 đầu tháng 5. Dùng thuốc Actara để trừ.
 
 
 
7. Thu hoạch
 
Thu hoạch ớt khi quả chín cây, tránh để quả giập nát, loại bỏ các quả thối hoặc quả có vết sâu bệnh.
 
 
 
BBT

KỸ THUẬT TRỒNG MỘT SỐ LOẠI CÂY LÀM THỨC ĂN CHO GIA SÚC

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Cỏ voi thuộc họ ho&agrave; thảo, th&acirc;n đứng, l&agrave; giống rất th&iacute;ch hợp cho chăn nu&ocirc;i b&ograve; thịt theo quy m&ocirc; trang trại. Thời gian trồng th&iacute;ch hợp l&agrave; từ th&aacute;ng 2 đến th&aacute;ng 5, thu hoạch từ th&aacute;ng 6 đến th&aacute;ng 11. Nếu m&ugrave;a kh&ocirc; chủ động được nước tưới th&igrave; c&oacute; thể thu hoạch quanh năm. Chu kỳ kinh tế của cỏ voi l&agrave; 3 - 4 năm (tức l&agrave; trồng một lần thu hoạch được 3-4 năm). Nếu chăm s&oacute;c tốt c&oacute; thể cho năng suất cao trong 10 năm liền.</div> <div> &nbsp;</div>
Cỏ voi thuộc họ hoà thảo, thân đứng, là giống rất thích hợp cho chăn nuôi bò thịt theo quy mô trang trại.
 
 
 
1.Kỹ thuật trồng cỏ voi
 
 
 
Cỏ voi thuộc họ hoà thảo, thân đứng, là giống rất thích hợp cho chăn nuôi bò thịt theo quy mô trang trại. Thời gian trồng thích hợp là từ tháng 2 đến tháng 5, thu hoạch từ tháng 6 đến tháng 11. Nếu mùa khô chủ động được nước tưới thì có thể thu hoạch quanh năm. Chu kỳ kinh tế của cỏ voi là 3 - 4 năm (tức là trồng một lần thu hoạch được 3-4 năm). Nếu chăm sóc tốt có thể cho năng suất cao trong 10 năm liền.
 
• Chuẩn bị đất
 
 
 
Có thể trồng cỏ voi theo hướng chuyên canh và thâm canh hoặc trồng cỏ voi vừa làm hàng rào vừa lấy thức ăn cho gia súc. Trong trường hợp trồng chuyên canh và thâm canh, cần chọn loại đất phù hợp với yêu cầu của cây: loại đất có tầng canh tác trên 30cm, nhiều màu, tơi xốp, thoát nước, có độ ẩm trung bình đến hơi khô, pH của đất = 6 -7. Cần cầy sâu, bừa kỹ hai lượt và làm sạch cỏ dại, đồng thời san phẳng đất. Rạch hàng sâu 15-20 cm theo hướng đông tây, hàng cách hàng 60 cm. Cũng có thể trồng theo khóm với mật độ bụi nọ cách bụi kia 40 cm và hàng cách hàng 60cm.
 
* Phân bón
 
 
 
Tuỳ theo chân ruộng tốt hay xấu mà có thể sử dụng lượng phân bón khác nhau. Trung bình cho 1 ha cần bón: 15 - 20 tấn phân chuồng hoai mục; 300 - 400 kg đạm urê; 250 - 300 kg super lân; 150 - 200 kg sulphat kali. Các loại phân hữu cơ, phân lân, phân kali dùng bón lót toàn bộ theo lòng rãnh trồng cỏ. Riêng phân đạm thì chia đều cho các lần thu hoạch và bón thúc sau mỗi lần cắt. Nếu đất chua (pH <5) thì phải bón thêm vôi.
 
 
 
• Cách trồng và chăm sóc
 
 
 
Trồng bằng thân cây (hom), chọn cây mập và hom bánh tẻ (ở độ tuổi 80-100 ngày). Chặt vát hom với độ dài 25 - 30 cm/hom và có 3-5 mắt mầm. Mỗi hecta cần 8 -10 tấn hom. Đặt hom trong lòng rãnh, chếch 450, cách nhau 30-40 cm và lấp đất dầy khoảng 5 cm sao cho hom nhô trên mặt đất khoảng 10 cm và bảo đảm mặt đất bằng phẳng sau khi lấp. Sau khi trồng 10-15 ngày mầm bắt đầu mọc. Tiến hành kiểm tra tỷ lệ mọc mầm và nếu có hom chết, cần trồng dặm lại, đồng thời làm sạch cỏ dại và dùng cuốc xới xáo nhẹ làm cho đất tơi, thoáng (chú ý không chạm vào thân cây giống). Lúc được 30 ngày tiến hành bón thúc bằng100 kg urê cho mỗi hecta. Dùng cuốc làm sạch cỏ dại thêm vài lần, trước khi cỏ lên cao, phủ kín mặt đất.
 
 
 
• Thu hoạch và sử dụng
 
 
 
Sau khi trồng 80-90 ngày thu hoạch đợt đầu (không thu hoạch non đợt đầu). Khoảng cách những lần thu hoạch tiếp theo là 30-45 ngày, khi thảm cỏ có độ cao khoảng 80 - 120 cm. Mỗi lần thu hoạch lưu ý cắt gốc ở độ cao 5 cm trên mặt đất và cắt sạch, không để lại mầm cây, để cho cỏ mọc lại đều. Cứ sau mỗi lần thu hoạch và cỏ ra lá mới lại tiến hành bón thúc bằng đạm urê. Có thể dùng cỏ voi cho gia súc nhai lại ăn tươi hoặc ủ chua để dự trữ cho những thời điểm khan hiếm thức ăn thô xanh.
 
 
 
2. Kỹ thuật trồng cỏ Ghinê
 
 
 
Cỏ Ghinê là loại cây hoà thảo, lâu năm (còn gọi là cỏ sả, một số nơi còn gọi là cỏ Tây Nghệ An hay cỏ sữa). Có hai loại cỏ Ghinê: loại lá lớn và loại lá nhỏ. Loại lá lớn cho năng suất cao, nên trồng để cho bò ăn tươi hoặc ủ chua dự trữ với cỏ voi. Loại lá nhỏ cho năng suất thấp hơn, nhưng có khả năng chịu dẫm đạp, chịu hạn tốt, rất thích hợp cho việc trồng để tạo nên bãi chăn thả và chống xói mòn cho đất. Thời gian trồng từ tháng 2 - 4. Tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa để bảo đảm tỷ lệ sống cao. Thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 11. Chu kỳ kinh tế 4 - 5 năm hoặc dài hơn (6 - 7 năm).
 
 
 
• Chuẩn bị đất
 
 
 
Cỏ Ghinê phù hợp với chân ruộng cao, loại đất cát pha, không bị ngập nước hoặc ẩm nhiều. Cần cày vỡ đất ở độ sâu 20 cm, sau đó bừa và cày đảo (cày 2 lần), làm sạch cỏ dại và san phẳng đất. Trong trường hợp trồng bằng hạt thì đất phải làm tơi nhỏ hơn.
 
                         
 
• Phân bón
 
 
 
Cho mỗi hecta cần: 10-15 tấn phân chuồng hoai mục - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 200-250 kg super lân - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 150-200 kg sulphat kali - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 200-300 kg sulphat đạm - chia đều để bón thúc sau mỗi lần thu hoạch.
 
 
 
• Cách trồng và chăm sóc
 
 
 
Có thể trồng bằng hạt, hoặc dùng khóm thân rễ, trồng theo bụi. Nếu trồng bằng khóm theo bụi thì sau khi làm đất kỹ như nêu trên, dùng cày rạch thành hàng cách nhau 40 - 50 cm, sâu 15 cm. Trong trường hợp gieo bằng hạt thì chỉ cần rạch hàng sâu 10 cm. Mỗi hecta cần lượng khóm 5 - 6 tấn, lượng hạt 5 - 6kg.  Cách chuẩn bị khóm giống như sau: cắt bỏ phần ngọn các khóm cỏ sả giống trên ruộng và để lại chiều cao khóm khoảng 25 - 30 cm. Dùng cuốc đánh gốc cỏ lên, rũ sạch đất, cắt phạt bớt phần rễ già. Sau đó tách thành những khóm nhỏ, mỗi khóm 3 - 4 nhánh đem trồng. Sau khi rạch hàng và bón lót phân, tiến hành trồng bằng cách đặt các khóm vào rãnh, ngả cùng một phía và vuông góc với thành rãnh, cách nhau 35 - 40 cm, lấp đất sâu khoảng 10 - 15 cm (1/2 độ dài của thân cây giống) và lưu ý dậm chặt đất, tạo điều kiện có độ ẩm, cây chóng nảy mầm và có tỷ lệ sống cao.
 
Nếu trồng bằng hạt thì gieo rải đều theo hàng rạch và dùng đất nhỏ mịn lấp dầy 5 cm.
 
Trong trường hợp trồng xen với cây ăn quả, trồng ven đường hoặc xung quanh bờ ao thì đào hốc sâu 15 cm với khoảng cách hàng 40 - 50 cm và hố nọ cách hố kia 15 - 20 cm.
 
Sau khi trồng 15 - 20 ngày kiểm tra khả năng ra mầm chồi và nếu cần thiết thì trồng dặm lại. Đồng thời lúc này xới xáo qua, làm cỏ dại và bón thúc bằng đạm urê. Nếu gieo bằng hạt thì chỉ tiến hành chăm sóc và trồng tỉa bổ sung khi cây mọc và có thể phân biệt rõ để tránh nhầm lẫn với cỏ dại. Sau mỗi lần cắt và khi thảm cỏ nảy mầm xanh lại làm sạch cỏ dại rồi dùng phân đạm bón thúc.
 
 
 
• Thu hoạch và sử dụng
 
 
 
Sau khi trồng được 60 ngày thì thu hoạch lứa đầu, cắt phần trên, cách mặt đất 10 cm. Các lứa thu hoạch sau cách nhau 40 - 45 ngày. Mỗi năm cắt dọn gốc già một lần. Trong trường hợp trồng cỏ Ghinê để chăn thả thì hai lứa đầu tiên vẫn cắt bình thường, bắt đầu từ lứa thứ ba mới đưa gia súc nhai lại vào chăn thả. Tốt nhất là chăn thả khi thảm cỏ có độ cao 35 - 40 cm. Muốn vậy phải bảo đảm chu kỳ chăn thả luân phiên (thời gian nghỉ để cỏ tái sinh) khoảng 25 - 35 ngày vào mùa mưa và 40 - 45 ngày vào mùa khô. Thời gian chăn thả liên tục trên một thửa cỏ không quá 4 ngày. Cỏ Ghinê ăn rất ngon và có giá trị dinh dưỡng cao, không bị giảm chất lượng nhanh như cỏ voi.
 
 
 
3. Kỹ thuật trồng cỏ Stylo
 
 
 
Cỏ Stylo là loại cây bộ đậu, lưu niên, thân đứng hoặc bò. Cỏ Stylo có khả năng thích ứng rộng và dễ nhân giống. Thời gian gieo trồng tuỳ thuộc vào dùng cành giâm hay dùng hạt. Nếu gieo hạt, tốt nhất vào đầu mùa mưa (tháng 3 - tháng 4, đối với miền Bắc và tháng 5 - tháng 6, đối với miền Nam). Nếu dùng cành giâm thì trồng vào giữa mùa mưa (tháng 7 - tháng 8). Thu hoạch từ tháng 6 - tháng 12. Chu kỳ kinh tế 4 - 5 năm.
 
 
 
• Chuẩn bị đất
 
Yêu cầu làm đất kỹ như trồng cỏ voi (cầy, bừa hai lần), cầy sâu 15 - 20 cm, bảo đảm đất tơi nhỏ, hạt đất có đường kính dưới 1cm chiếm 70 - 80%, hạt đất có đường kính 2 - 5 cm chỉ chiếm 20 - 30%. Làm sạch cỏ dại. Giữa hai lần cày bừa nên cách nhau 10 -15 ngày để diệt được nhiều mầm cỏ dại trước khi gieo trồng.
 
Lượng phân bón trên mỗi hecta là: 10 - 15 tấn phân chuồng hoai mục - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 300 - 350 kg super lân - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 100 - 150 kg clorua kali - bón lót toàn bộ theo hàng rạch; 50 kg urê - bón thúc khi cây đạt độ cao 5 - 10 cm; Nếu đất chua thì bón lót thêm vôi (0,5 tấn vôi/ha khi pH < 5 và 1,0 tấn vôi/ha khi pH = 5,0 - 5,5). Cách bón: rải đều khi cầy bừa.
 
 
 
• Cách trồng và chăm sóc
 
Có thể trồng cỏ theo hai cách:
 
+ Trồng bằng cành giâm: cắt cành dài 30 - 40 cm, có 4 - 5 mắt. Sau khi làm đất kỹ, rạch hàng sâu khoảng 15 cm, hàng cách hàng 45 - 50 cm. Trồng theo khóm, mỗi khóm 5 - 6 cành và các khóm cách nhau 25 cm. Lấp đất dày 5 - 6 cm để cành ngập trong đất 20 cm.
 
+ Gieo bằng hạt: sử dụng 5 - 6 kg hạt giống cho 1ha. Rạch hàng sâu khoảng 10 cm và hàng cách hàng 45 - 50 cm. Gieo hạt theo hàng rạch. Sau đó lấp lớp đất mỏng. Để cho cây chóng mọc, có thể ủ hạt trong nước nóng 60 - 700C, khi hạt nứt nanh thì đem gieo.
 
Cũng có thể gieo hạt trong vườn ươm và khi cây mọc cao 20 - 25 cm thì nhổ ra trồng theo rạch với khoảng cách cây cách cây 15 - 20 cm  .
 
Khi cây mọc cao khoảng 5 - 10 cm thì tiến hành xới xáo cho đất tơi xốp và làm sạch cỏ dại, đồng thời bón thúc bằng urê. Khoảng 2 tháng tuổi xới cỏ một lần nữa, tạo điều kiện cho cỏ phát triển tốt.
 
 
 
• Thu hoạch và sử dụng
 
 
 
Thu hoạch cỏ Stylo lứa đầu khoảng 3 tháng sau khi trồng, tức là lúc cỏ cao khoảng 60 cm và thảm cỏ che phủ kín đất. Khi thu hoạch cắt cách mặt đất 15 - 20 cm. Thu hoạch các lứa tiếp theo cứ sau 2 - 2,5 tháng, lúc cây cao 35 - 40 cm.
 
Cũng như các loại cây bộ đậu khác, cỏ Stylo là nguồn thức ăn tươi xanh giàu protein, là nguồn đạm lá quan trọng để bổ sung và nâng cao chất lượng khẩu phần thức ăn cho gia súc nhai lại. Ngoài ra, có thể dùng phối hợp cỏ Stylo với một số cây hoà thảo như cỏ voi, cỏ Xu đăng, cây ngô... làm nguyên liệu ủ ướp, nhằm nâng cao giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ xanh. Cũng có thể phơi khô thân, lá cỏ Stylo, nghiền thành bột cỏ và sử dụng như nguồn bổ sung protein có giá trị, thay thế một phần thức ăn tinh.
 
Có thể sử dụng làm bãi chăn thả gia súc nhai lại. Tuy nhiên, do khả năng chịu dẫm đạp của cỏ Stylo kém hơn so với các cỏ hoà thảo khác như Pangola, Ghinê... nên thời gian chờ đợi giữa hai chu kỳ chăn thả sẽ dài hơn.                        
 
4. Kỹ thuật trồng cỏ Ruzi
 
Ruzi thuộc họ hoà thảo, là giống cỏ lâu năm, thân bò. Cỏ có khả năng chịu dẫm đạp cao nên có thể trồng để làm bãi chăn thả gia súc. Cũng giống như cỏ Ghinê, cỏ Ruzi có khả năng chịu khô hạn tốt nhưng phát triển mạnh nhất vào mùa mưa. Thời gian trồng cỏ Ruzi là mùa mưa, nhưng tốt nhất là vào đầu mùa mưa (tháng 4 - tháng 5) để bảo đảm tỷ lệ sống cao và cây phát triển tốt.
 
 
 
• Chuẩn bị đất
 
Yêu cầu chuẩn bị đất trồng cẩn thận, cày và bừa hai
lần. Lần đầu cày vỡ với độ sâu 20 cm, rồi bừa vỡ. Lần thứ hai cầy đảo lại và bừa tơi đất, đồng thời vơ sạch cỏ dại và san phẳng đất. Nên kéo dài thời gian chuẩn bị đất nhằm hạn chế cỏ dại. Sau khi đã san phẳng đất, tiến hành rạch hàng cách nhau 40 - 50 cm và sâu 15 cm (nếu trồng bằng thân khóm) hoặc sâu 5 - 10 cm (nếu gieo bằng hạt).
 
• Phân bón
 
Cần sử dụng cả phân vô cơ và phân hữu cơ. Mỗi hecta cần: 10 - 15 tấn phân chuồng hoai mục; 200 - 250 kg supe lân; 100 - 200 kg sulphat kali; 300 - 350 kg đạm urê. Các loại phân chuồng, supe lân, sulphat kali dùng bón lót theo hàng trồng cỏ. Lượng đạm urê được chia đều cho các lần cắt cỏ và dùng để bón thúc sau khi cỏ đã đâm chồi và ra lá.
 
 
 
• Cách trồng và chăm sóc
 
 
 
Có thể trồng bằng thân khóm hoặc trồng bằng hạt. Trường hợp trồng bằng thân khóm: cách chuẩn bị thân khóm như sau: các khóm cỏ Ruzi dùng làm giống được cắt xén bỏ phần trên cách mặt đất khoảng 25 - 30 cm. Dùng cuốc đánh cả khóm cỏ lên, rũ đất và phạt xén bớt rễ, chỉ để lại còn 4 - 5 cm. Sau đó dùng dao chia tách thành những cụm khóm nhỏ, mỗi cụm khóm gồm 4 - 5 thân nhánh. Sau khi đã chuẩn bị đất và bón lót phân như nêu trên, đặt các khóm cỏ giống vuông góc với thành rạch, khóm nọ cách khóm kia 35 - 40 cm. Dùng cuốc lấp kín 1/2 thân cây giống, tiếp theo, dùng chân dậm thật chặt đất để tạo độ ẩm, bảo đảm cỏ chóng ra mầm và đạt tỷ lệ sống cao. Mỗi hecta cần 4 - 6 tấn khóm.
 
Trường hợp trồng bằng hạt: cần xử lý hạt trước khi gieo bằng cách ngâm hạt vào nước nóng 800C trong vòng khoảng 10 - 15 phút. Sau đó vớt hạt ra, rửa sạch bằng nước lã và ngâm thêm khoảng 60 phút, rồi vớt ra và đem gieo.
 
 
 
Gieo rải đều hạt theo hàng rạch. Dùng tay khoả đều và lấp một lớp đất mỏng lên trên. Mỗi hecta cần 4 -5 kg hạt cỏ giống.
 
 
 
Sau khi trồng khoảng hai ba tuần tiến hành kiểm tra tỷ lệ mọc mầm, những cây bị chết thì trồng dặm lại. Trong trường hợp gieo hạt, cần lưu ý phân biệt mầm cỏ Ruzi với mầm cỏ dại. Tiến hành trồng tỉa bổ sung vào những nơi cỏ không nảy mầm. Xới xáo nhẹ cho đất tơi xốp và làm sạch cỏ dại. Khi thảm cỏ nảy mầm xanh và sau khi làm cỏ lần hai thì bón thúc bằng đạm urê.
 
 
 
• Thu hoạch và sử dụng
 
Thu hoạch lứa đầu sau khi trồng được 60 ngày bằng cách cắt trên mặt đất (để lại gốc) 10 cm. Các lứa thu hoạch tiếp theo tiến hành khi thảm cỏ cao khoảng 45 - 60 cm.
 
Nếu trồng cỏ làm bãi chăn thả thì hai lứa đầu vẫn thu cắt bình thường, đến lứa thứ ba mới đưa gia súc vào chăn thả. Hợp lý nhất cho chăn thả là khi thảm cỏ có độ cao 35 - 40 cm. Thời gian chăn thả mỗi đợt trên cùng một thảm cỏ không quá 4 ngày và thời gian nghỉ giữa hai đợt chăn thả khoảng 25 - 35 ngày.
 
Cỏ Ruzi mềm và ròn hơn cỏ Ghinê nên gia súc có khả năng lợi dụng rất tốt. Là loại cây thức ăn cho bò sữa, bò thịt, trâu, dê... Ngoài việc sử dụng cho ăn tươi (cắt cho ăn tại chuồng hoặc chăn thả) có thể phơi khô và làm thức ăn dự trữ trong vụ đông xuân, bởi vì khi phơi khô, cỏ khô đều, nhanh cả lá và cuộng.
 
 
 
5. Kỹ thuật trồng cây keo dậu
 
 
 
Keo dậu thuộc họ đậu, thân bụi hoặc thân gỗ lâu năm. Cây có khả năng chịu hạn rất tốt nhưng kém chịu lạnh và sương muối. Thời gian trồng tốt nhất là vào tháng 4
 
 
 
• Chuẩn bị đất
 
Có thể trồng keo dậu ở ruộng tập trung, trên bờ bụi, bờ mương máng hoặc trong vườn, làm hàng rào. Cần chú ý chọn loại đất thoát nước, ít chua. Nếu trồng tại ruộng thì chuẩn bị đất như khi trồng các loại đậu đỗ khác. Sau khi cày bừa và làm đất tiến hành lên luống rộng 3 m, rạch các hàng trên luống cách nhau 70 - 80 cm, sâu khoảng 10 cm.
 
 
 
• Phân bón
 
Mỗi hecta cần 10 tấn phân chuồng, 300 kg phân lân nung chảy và 150 kg clorua kali. Các loại phân này dùng bón lót toàn bộ trước khi bừa lần cuối và mỗi năm bón một lần vào vụ xuân.
 
 
 
• Cách trồng và chăm sóc
 
Trước khi gieo, cần xử lý hạt như sau: làm ướt hạt bằng nước lã, sau đó đổ nước nóng 90 - 1000C vào và ngâm trong vòng 5 phút. Bước tiếp theo là gạn hết nước nóng và đổ nước lã vào cho ngập hạt, ngâm tiếp 5 - 10 giờ, rồi lại gạn hết nước và để hạt thật khô ráo, trước khi đem gieo. Gieo hạt theo hàng rạch, trung bình 1m dài gieo 20 hạt (lượng hạt khô cần cho mỗi hecta khoảng 20 kg), lấp đất sâu khoảng 5 cm. Cũng có thể gieo hạt vào bầu đất hoặc vườn ươm, sau đó, khi cây mọc cao khoảng 45 cm thì mang đi trồng (trong trường hợp trồng làm hàng rào) như các loại cây gỗ khác; trồng cây cách cây 50 cm.
 
Sau khi trồng khoảng 10 ngày, kiểm tra tỷ lệ nảy mầm, nếu cần thiết thì gieo hoặc trồng dặm lại. Dùng cuốc xới xáo nhẹ theo hàng và làm sạch cỏ dại hai đợt: lúc 15 ngày và lúc 40 ngày sau khi trồng.
 
 
 
• Thu hoạch và sử dụng
 
Sau khi trồng khoảng 4 -5 tháng, có thể thu hoạch lứa đầu (tuỳ theo đất đai và điều kiện chăm sóc, lúc đó cây có thể cao tới 1,5 m). Khi thu hoạch lứa đầu, cắt gốc cách mặt đất 70 cm. Các lứa tiếp theo cắt chừa lại cành mới tái sinh 5 cm và cứ sau khoảng 45 ngày cắt một lần. Có thể sử dụng keo dậu như nguồn thức ăn tươi xanh (cắt về cho gia súc ăn tại chuồng hoặc chăn thả trên bãi trồng keo dậu). Cũng có thể phơi sấy khô, nghiền thành bột.
 
 
 
Keo dậu là cây có hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt là protein (protein thô 21 - 25%). Đây thực sự là nguồn thức ăn bổ sung protein có giá trị không những cho gia súc mà cho cả gia cầm. Tuy nhiên, keo dậu có hạn chế là chứa một lượng nhỏ độc tố mimosine (thường tập trung trong các phần non của cây như lá, chồi non). Vì vậy khi sử dụng keo dậu cần có biện pháp làm giảm hàm lượng mimosine (như xử lý nhiệt trên 700C; nhúng trong nước qua đêm; phun dung dịch sulphat sắt II... ) và khống chế lượng keo dậu chỉ chiếm < 30% khẩu phần cho gia súc nhai lại. Với bò sữa, keo dậu cũng là loại thức ăn rất tốt, làm tăng năng suất sữa lên 10 - 15%. Có thể trộn vào thức ăn tinh cho mỗi con bò sữa mỗi ngày 1,0 - 1,5 kg bột keo dậu.
 
 
 
Hoa Thông

KỸ THUẬT GÂY TRỒNG CÂY MÂY NẾP

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> M&acirc;y nếp l&agrave; lo&agrave;i c&acirc;y th&acirc;n leo, mọc cụm. C&acirc;y m&acirc;y nếp (t&ecirc;n kh&aacute;c: M&acirc;y tắt, M&acirc;y trắng, M&acirc;y ruột gi&agrave;, M&acirc;y nh&agrave;) c&oacute; t&ecirc;n khoa học: Calamus tetradactylus Hance, thuộc họ thực vật: họ Cau (Arecaceae)</div> <div> &nbsp;</div>
Mây nếp là loài cây thân leo, mọc cụm. Cây mây nếp (tên khác: Mây tắt, Mây trắng, Mây ruột già, Mây nhà) có tên khoa học: Calamus tetradactylus Hance, thuộc họ thực vật: họ Cau (Arecaceae)
 
Mây nếp là một trong loài Mây có khu phân bố rộng nhất ở Việt Nam, tập trung nhiều ở Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình và Nghệ An. Cây mây có lóng dài, màu trắng đẹp, dẻo bền, dễ chẻ nên rất được ưa chuộng làm đồ đan lát, làm hàng mỹ nghệ. Gần đây, mây được sử dụng nhiều để đan mặt ghế và các đồ thủ công mỹ nghệ để xuất khẩu. Dưới đây xin giới thiệu một số kỹ thuật gây trồng cây mây nếp.
 
 
1. Nguồn giống
 
Chọn cây mẹ trên 7 tuổi mọc ở nơi quang hoặc có ngọn mọc vượt lên khỏi tán rừng hay tán cây gỗ. Hạt thu được hong khô trong nhà và cất giữ nơi khô ráo, thoáng mát để làm giống.
 
2. Tạo cây con
 
+ Đất gieo: Chọn nơi đất bằng, ẩm, thoát nước, có thành phần cơ giới nhẹ. Lên luống rộng 0,8 - 1,0 m, bón 3 - 4 kg phân chuồng hoai/1 m2 mặt luống. Nơi có nhiều kiến cần rắc vôi.
 
+ Gieo ươm: Nếu gieo quả trực tiếp phải 4 tháng hạt mới nảy mầm, còn nếu ngâm nước lạnh trong 24 giờ sau đó đãi sạch vỏ và cùi rồi xử lý bằng nước ấm 40 - 450C (2 sôi 3 lạnh) thì sau 15 - 20 ngày hạt bắt đầu nứt nanh và 30 - 45 ngày lá mầm hình kim xuất hiện.
 
Sau khi gieo hạt, cần làm giàn che bằng phên nứa hoặc thân đay... Tưới nước 2 lần/ngày để đảm bảo độ ẩm cho hạt chóng nảy mầm.
 
+ Cấy cây: Sau khi gieo 2 - 3 tháng, thấy lá mầm dạng kim đâm qua lớp đất che phủ là có thể cấy cây.
 
+ Tiêu chuẩn cây con: Cây ươm 1,5 tuổi trở lên, cao trên 20 - 30 cm với 3 - 4 lá có thể mang trồng. Nếu cây ươm rễ trần trên luống thì đánh bầu đất rộng 5 cm và trồng vào mùa xuân. Muốn vận chuyển cây con đi xa phải hồ rễ và giữ rễ luôn ẩm.
 
3. Gây trồng chăm sóc
 
+ Chuẩn bị đất trồng: Trồng mây quanh nhà, ven hàng rào, dọc mương máng, đất chuẩn bị đòi hỏi không cầu kỳ.
 
+ Mật độ: Cuốc hố trồng cây giá thể 0,5 - 1,0 m, kích thước hố 15x15x15 cm. Hố trồng đào liên tục cách nhau 1 m dọc theo hàng rào. Trường hợp giá thể là tre cần chú ý: Tre là bụi lớn, trồng mây thì mây khó sống, phát triển kém. Kinh nghiệm trong nhân dân là đào mương sâu 1 m, rộng 0,8 m cạnh hàng tre và trồng mây bên kia bờ mương cách 0,5 m, khi mây lớn cho leo lên cây tre.
 
Khi trồng mây dưới tán rừng tự nhiên: phát theo băng rộng 2 m, dọn sạch cây. Băng phát cách nhau 4 m. Kích thước hố 15x15x15 cm. Mỗi hố trồng 2 - 3 cây con.
 
+ Trồng cây: Trồng mây tốt nhất vào mùa xuân thời tiết ẩm và có mưa phùn, hoặc có thể trồng vào đầu mùa mưa. Không đào hố sâu dưới tán rừng, lá khô rụng xuống sẽ che lấp và làm chết cây con. Khi lấp đất phải nén chặt để cây mau bén rễ và lấp đất ngang cổ rễ cây để mây dễ đẻ nhánh sau này.
 
+ Chăm sóc, bảo vệ cây trồng: Trong 2 năm đầu, mỗi năm làm cỏ 2 - 3 lần kết hợp với vun xới. Hàng năm phải luỗng phát dây leo bụi rậm một lần để đảm bảo ánh sáng cho cây phát triển. Khi mây lớn và leo lên giá thể, tiến hành phát cành cây để điều chỉnh ánh sáng giúp cho mây vươn lên sinh trưởng tốt. Cần đề phòng trâu bò và châu chấu ăn lá mây non.
 
Nơi đất tốt, gần nhà, mây trồng sau 3 - 4 năm có thể thu hoạch. Mây trồng thành rừng sau 5 - 10 năm khi bẹ lá ở gốc bị chết và rụng đi, để lộ sợi mây trắng có thể thu hoạch. Sau đó 2 năm thu hoạch 1 lần. Khi thu hoạch, chặt gốc cách mặt đất 10 cm rồi lôi ra khỏi khóm mây.
 
Theo Khuyennongvn.org.vn
 

KỸ THUẬT TRỒNG KEO GIÂM

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Keo lai l&agrave; t&ecirc;n gọi của giống lai tự nhi&ecirc;n giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) v&agrave; Keo l&aacute; tr&agrave;m (Acacia aurculiformis). Keo lai c&oacute; sức sinh trưởng nhanh hơn r&otilde; rệt so với lo&agrave;i keo bố mẹ. C&aacute;c d&ograve;ng keo lai đ&atilde; chọn lọc sau 3 năm tuổi cho sản lượng gỗ 50 &ndash; 77 m3/ha, khi được 7 &ndash; 8 tuổi cho 150 &ndash; 200 m3 gỗ/ha &ndash; nhiều hơn 1,5 &ndash; 2 lần rừng keo tai tượng v&agrave; keo l&aacute; tr&agrave;m.</div> <div> &nbsp;</div>
Keo lai là tên gọi của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia aurculiformis). Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn rõ rệt so với loài keo bố mẹ. Các dòng keo lai đã chọn lọc sau 3 năm tuổi cho sản lượng gỗ 50 – 77 m3/ha, khi được 7 – 8 tuổi cho 150 – 200 m3 gỗ/ha – nhiều hơn 1,5 – 2 lần rừng keo tai tượng và keo lá tràm.
 
A- Giống:
 
Chỉ được sử dụng cây giống bằng giâm hom đời F1 của các dòng đã được công nhận để trồng rừng như BV 5, BV 10, TB 05, TB 08, …
 
Cây con trước khi đem trồng được khoảng 3 tháng tuổi có chiều cao 20 – 25 cm, cây khỏe mạnh xanh tốt, một ngọn.
 
B- Kỹ thuật trồng và chăm sóc:
 
1- Xử lý thực bì:
 
- Nơi thực bì thưa, cao dưới 1m, phát toàn diện, dọn tươi xếp theo đường đồng mức hoặc gom đống, đốt cục bộ, đề phòng lửa cháy lan.
 
- Nơi có thực bì dày rậm, cao trên 1m, phát băng rộng 2m theo đường đồng mức.
 
2- Làm đất:
 
- Nơi đất dốc < 150 cày ngầm toàn diện.
 
- Nơi đất dốc > 150 làm đất thủ công, cục bộ, đào hố 40x40x40 trên băng đã phát dọn thực bì theo đường đồng mức.
 
3- Mật độ trồng:
 
1.100 cây/ha (cự ly 3x3m), hoặc 1.660 cây/ha (cự ly 3x2m)
 
4- Bón lót:
 
Kết hợp khi lấp đất bón lót mỗi hố 100 – 150g NPK (5:10:3) hay 200 – 300 g phân vi sinh
 
5- Chăm sóc:
 
- Trồng dặm cây chết sau khi trồng 8 – 10 ngày
 
- Chăm sóc trong 3 năm liền:
 
* Năm đầu, chăm sóc 2 lần
 
lần 1 (sau khi trồng 1 – 2 tháng): cắt dây leo, phát dọn thực bì trên toàn diện tích, dẫy cỏ và vun xới quanh gốc rộng 80cm.
 
lần 2 (tháng 10 – 11): phát thực bì và vun xới quanh gốc rộng 80cm.
 
* Năm thứ hai, chăm sóc 3 lần
 
lần 1 (tháng 3 – 4): chăm sóc như lần 1 năm đầu. Bón thúc mỗi gốc 200g NPK (5:10:3) hoặc 500g phân hữu cơ vi sinh.
 
lần 2 (tháng 7 – 8): phát thực bì toàn diện, dẫy cỏ vun xới quanh gốc 1m, tỉa cành cao đến 1m.
 
lần 3 (tháng 10 – 11): phát thực bì quanh gốc rộng 1m.
 
* Năm thứ ba, chăm sóc 2 lần
 
lần 1 (tháng 3 – 4): phát thực bì toàn diện tích, tỉa cành đến tầm cao 1,5 – 2m. Dẫy cỏ quanh gốc rộng 1m, bón thúc lần hai như bón lần một nhưng rạch bón cách gốc 40 – 50cm.
 
lần 2 (tháng 7 – 8): phát thực bì toàn diện tích, chặt cây sâu bệnh, phát dẫy cỏ quanh gốc cây.
 
C- Bảo vệ rừng:
 
- Phòng chống sâu bệnh: keo lai bị sâu cắn lá và bệnh rộp lá, phấn hồng, phấn trắng gây hại, phòng trừ bằng thuốc hóa học cùng với các biện pháp tổng hợp khác.
 
- Phòng chống cháy rừng và các sự cố khác: làm băng cản lửa, rộng 8 – 10m, trước mùa khô. Đề phòng trâu bò phá hại rừng.
 
D- Khai thác:
 
Với mục đích trồng rừng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy, ván dăm áp dụng khai thác chính là chặt trắng và tiếp tục trồng lại rừng mới bằng cây hom. Sản lượng khai thác gỗ 150 – 200 m3/ha với chu kỳ 7 – 8 năm.
 
Với mục đích trồng để phủ xanh, phòng hộ sau khi chặt có thể cho tái sinh tự nhiên bằng hạt nhưng phải tỉa thưa chỉ để lại cây ưu trội khi rừng khép tán.
 
Nguồn NNVN

KỸ THUẬT GÂY TRỒNG CÂY MÂY NẾP

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> M&acirc;y nếp l&agrave; lo&agrave;i c&acirc;y th&acirc;n leo, mọc cụm. C&acirc;y m&acirc;y nếp (t&ecirc;n kh&aacute;c: M&acirc;y tắt, M&acirc;y trắng, M&acirc;y ruột gi&agrave;, M&acirc;y nh&agrave;) c&oacute; t&ecirc;n khoa học: Calamus tetradactylus Hance, thuộc họ thực vật: họ Cau (Arecaceae)</div> <div> &nbsp;</div>
Mây nếp là loài cây thân leo, mọc cụm. Cây mây nếp (tên khác: Mây tắt, Mây trắng, Mây ruột già, Mây nhà) có tên khoa học: Calamus tetradactylus Hance, thuộc họ thực vật: họ Cau (Arecaceae)
 
Mây nếp là một trong loài Mây có khu phân bố rộng nhất ở Việt Nam, tập trung nhiều ở Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình và Nghệ An. Cây mây có lóng dài, màu trắng đẹp, dẻo bền, dễ chẻ nên rất được ưa chuộng làm đồ đan lát, làm hàng mỹ nghệ. Gần đây, mây được sử dụng nhiều để đan mặt ghế và các đồ thủ công mỹ nghệ để xuất khẩu. Dưới đây xin giới thiệu một số kỹ thuật gây trồng cây mây nếp.
 
1. Nguồn giống
 
Chọn cây mẹ trên 7 tuổi mọc ở nơi quang hoặc có ngọn mọc vượt lên khỏi tán rừng hay tán cây gỗ. Hạt thu được hong khô trong nhà và cất giữ nơi khô ráo, thoáng mát để làm giống.
 
2. Tạo cây con
 
+ Đất gieo: Chọn nơi đất bằng, ẩm, thoát nước, có thành phần cơ giới nhẹ. Lên luống rộng 0,8 - 1,0 m, bón 3 - 4 kg phân chuồng hoai/1 m2 mặt luống. Nơi có nhiều kiến cần rắc vôi.
 
+ Gieo ươm: Nếu gieo quả trực tiếp phải 4 tháng hạt mới nảy mầm, còn nếu ngâm nước lạnh trong 24 giờ sau đó đãi sạch vỏ và cùi rồi xử lý bằng nước ấm 40 - 450C (2 sôi 3 lạnh) thì sau 15 - 20 ngày hạt bắt đầu nứt nanh và 30 - 45 ngày lá mầm hình kim xuất hiện.
 
Sau khi gieo hạt, cần làm giàn che bằng phên nứa hoặc thân đay... Tưới nước 2 lần/ngày để đảm bảo độ ẩm cho hạt chóng nảy mầm.
 
+ Cấy cây: Sau khi gieo 2 - 3 tháng, thấy lá mầm dạng kim đâm qua lớp đất che phủ là có thể cấy cây.
 
+ Tiêu chuẩn cây con: Cây ươm 1,5 tuổi trở lên, cao trên 20 - 30 cm với 3 - 4 lá có thể mang trồng. Nếu cây ươm rễ trần trên luống thì đánh bầu đất rộng 5 cm và trồng vào mùa xuân. Muốn vận chuyển cây con đi xa phải hồ rễ và giữ rễ luôn ẩm.
 
3. Gây trồng chăm sóc
 
+ Chuẩn bị đất trồng: Trồng mây quanh nhà, ven hàng rào, dọc mương máng, đất chuẩn bị đòi hỏi không cầu kỳ.
 
+ Mật độ: Cuốc hố trồng cây giá thể 0,5 - 1,0 m, kích thước hố 15x15x15 cm. Hố trồng đào liên tục cách nhau 1 m dọc theo hàng rào. Trường hợp giá thể là tre cần chú ý: Tre là bụi lớn, trồng mây thì mây khó sống, phát triển kém. Kinh nghiệm trong nhân dân là đào mương sâu 1 m, rộng 0,8 m cạnh hàng tre và trồng mây bên kia bờ mương cách 0,5 m, khi mây lớn cho leo lên cây tre.
 
Khi trồng mây dưới tán rừng tự nhiên: phát theo băng rộng 2 m, dọn sạch cây. Băng phát cách nhau 4 m. Kích thước hố 15x15x15 cm. Mỗi hố trồng 2 - 3 cây con.
 
+ Trồng cây: Trồng mây tốt nhất vào mùa xuân thời tiết ẩm và có mưa phùn, hoặc có thể trồng vào đầu mùa mưa. Không đào hố sâu dưới tán rừng, lá khô rụng xuống sẽ che lấp và làm chết cây con. Khi lấp đất phải nén chặt để cây mau bén rễ và lấp đất ngang cổ rễ cây để mây dễ đẻ nhánh sau này.
 
+ Chăm sóc, bảo vệ cây trồng: Trong 2 năm đầu, mỗi năm làm cỏ 2 - 3 lần kết hợp với vun xới. Hàng năm phải luỗng phát dây leo bụi rậm một lần để đảm bảo ánh sáng cho cây phát triển. Khi mây lớn và leo lên giá thể, tiến hành phát cành cây để điều chỉnh ánh sáng giúp cho mây vươn lên sinh trưởng tốt. Cần đề phòng trâu bò và châu chấu ăn lá mây non.
 
Nơi đất tốt, gần nhà, mây trồng sau 3 - 4 năm có thể thu hoạch. Mây trồng thành rừng sau 5 - 10 năm khi bẹ lá ở gốc bị chết và rụng đi, để lộ sợi mây trắng có thể thu hoạch. Sau đó 2 năm thu hoạch 1 lần. Khi thu hoạch, chặt gốc cách mặt đất 10 cm rồi lôi ra khỏi khóm mây.
 
Theo Khuyennongvn.org.vn
 

QUẢN LÝ VÀ CHĂM SÓC MÍA GỐC

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Lợi &iacute;ch của m&iacute;a gốc: M&iacute;a gốc ch&iacute;n sớm hơn m&iacute;a tơ c&ugrave;ng thời vụ 15-30 ng&agrave;y, do đ&oacute; c&oacute; thể cung cấp nguy&ecirc;n liệu cho nh&agrave; m&aacute;y đường hoạt động sớm, n&acirc;ng cao tỷ lệ đường đầu vụ &eacute;p.</div> <div> &nbsp;</div>
Lợi ích của mía gốc: Mía gốc chín sớm hơn mía tơ cùng thời vụ 15-30 ngày, do đó có thể cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường hoạt động sớm, nâng cao tỷ lệ đường đầu vụ ép.
 
- Mía gốc giảm 30% chi phí sản xuất so với trồng mới (công đào gốc, làm đất, đánh rãnh, chặt hom trồng, tiết kiệm được 5-6 tấn giống/ha).
 
- Mầm mía gốc mọc sớm và nhanh hơn mía tơ, rễ của mía gốc cũng mọc nhanh và dày đặc, chịu ngập chịu hạn tốt hơn mía tơ.
 
- Mía gốc có nhiều mầm (1 khóm khoảng 60 mầm), do đó khả năng tăng số cây hữu hiệu trên một đơn vị diện tích rất lớn, các mầm nằm sâu trong đất có sức sống cao; mầm mía gốc to hơn mầm mía tơ nhiều lần.
 
Một số biện pháp kỹ thuật trong canh tác, quản lý vụ mía lưu gốc:
 
- Ruộng mía tơ để gốc vụ sau cần bón thúc vào cuối vụ trước khi thu hoạch 2-3 tháng (kinh nghiệm Trung Quốc: cuối vụ bón 170kg sunfat đạm/ha sẽ tăng năng suất vụ mía gốc lên 12% so với đối chứng).
 
- Bảo đảm đủ ẩm.
 
- Khi thu hoạch mía tơ nên giữ lại những mầm Thu và Đông (những cây vô hiệu) cho tới khi xử lý gốc.
 
- Các ruộng mía tơ bị mất khoảng nhiều (20%), bị sâu bệnh hại thì không nên để lưu gốc. Ruộng để gốc nên chọn đất thịt pha cát hoặc sét, tốt hơn đất cát.
 
- Thu hoạch đúng lúc và đúng kỹ thuật.
 
Thời vụ để gốc thích hợp là vào tháng 2 đến tháng 3.
 
- Khi thu hoạch chặt thấp, để lại gốc mía 10-15cm là thích hợp. Vết chặt cần phẳng, không làm dập vỡ gốc mía.
 
Công việc xử lý
 
+ Dọn sạch ruộng, phá vồng, cuốc bón phân, vun trải luống. Dùng dao sắc bạt thấp những gốc mía còn cao, những cây chết và những mầm măng còn để lại.
 
+ Phá vồng bằng cách cày xả 2 bên luống làm đứt các rễ mía già, cách gốc 20-30cm. Sau khi đất ải thì bón phân lót và vun trả gốc. Nếu đất ẩm có thể đợi mầm mọc đều mới bón phân và vun gốc. Trường hợp khô hạn hoặc rét cần bón phân vun gốc ngay và tưới cho đất đủ ẩm.
 
+ Các công việc chăm sóc khác làm đủ như đối với mía tơ, song cần sớm hơn vì mía gốc sinh trưởng nhanh hơn. Cần dặm sớm, chỗ mất khoảng.
 
+ Lượng phân bón cho mía gốc phải nhiều hơn mía tơ 15-20%. Bón phân sớm và càng sâu càng tốt. Nếu có điều kiện cày sâu thì bón 50%, bón thúc lúc mía có 4-5 lá 50% còn lại.
 
+ Vun gốc cao để chống đổ là biện pháp quan trọng trong kỹ thuật thâm canh mía gốc. Phải vun cao vồng, tròn đỉnh, kín cổ khi mía vừa bước vào thời kỳ vươn lóng.
 
Theo NNVN

KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG MÍA BẰNG HOM

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Kỹ thuật nh&acirc;n giống m&iacute;a bằng đoạn than cho hiệu quả cao, gi&uacute;p giải quyết t&igrave;nh trạng khan hiếm hom giống, đặc biệt l&agrave; với c&aacute;c giống m&iacute;a mới, cao sản, chất lượng cao.</div> <div> &nbsp;</div>
Kỹ thuật nhân giống mía bằng đoạn than cho hiệu quả cao, giúp giải quyết tình trạng khan hiếm hom giống, đặc biệt là với các giống mía mới, cao sản, chất lượng cao.
 
Chuẩn bị:
 
- Dung dịch thuốc sát trùng và kích thích ra rễ, nảy mầm. Có thể sử dụng Carbenzim 50WP, Daconil 40WP, NAA nồng độ 100ppm hoặc Zineb 80WP nồng độ 0,3% + Atonic nồng độ 0,3%.
 
- Bầu nilông có hai lỗ thủng ở đáy (kích thước 10 x 15 x 20cm), với giá thể gồm 70-80% đất bùn ao hoặc đất phù sa phơi ải + 20-30% phân chuồng hoai mục.
 
- Vườn ươm thoát nước tốt, khuất gió, có giàn che 50-70% ánh sáng trực tiếp bằng lưới nilông tản nhiệt mầu đen của Trung Quốc.
 
Cách tiến hành:
 
Chọn những cây giống bánh tẻ 6-8 tháng tuổi, dùng dao bén chặt vát hai đầu đoạn thân dài 5-7cm, có một đốt mắt ở giữa, chú ý đánh dấu đầu phía gốc, đầu phía ngọn. Nhúng ướt hai đầu vào dung dịch thuốc sát trùng và kích thích sau đó để khô trong bóng dâm khoảng 1 giờ. Cắm đầu phía gốc hom mía vào bầu. Tưới đủ ẩm khoảng 70-80% và đặt bầu trong vườn ươm.
 
Nhờ có chất kích thích sinh trưởng, hom mía nảy mầm sớm, tỷ lệ nảy mầm cao và đồng loạt. Sau khi giâm 2 tháng, cây cao 50-60cm và có thể đem trồng.
 
Theo NNVN

KỸ THUẬT TƯỚI NƯỚC CHO CHÈ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TƯỚI NHỎ GIỌT

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Nguồn nước tưới:&nbsp; Nguồn nước tưới c&oacute; thể sử dụng nước ao, hồ, s&ocirc;ng suối hoặc giếng khoan nhưng y&ecirc;u cầu kh&ocirc;ng được lẫn qu&aacute; nhiều tạp chất để đảm bảo kh&ocirc;ng bị tắc nghẽn hệ thống khi vận h&agrave;nh v&agrave; đảm bảo độ bền của thiết bị lọc.</div> <div> &nbsp;</div>
1. Thiết kế hệ thống tưới
 
1.1. Yêu cầu hệ thống tưới kết hợp với dinh dưỡng
 
Hệ thống tưới cho một lô chè diện tích 1ha được thiết kế bao gồm:
 
Nguồn nước tưới:  Nguồn nước tưới có thể sử dụng nước ao, hồ, sông suối hoặc giếng khoan nhưng yêu cầu không được lẫn quá nhiều tạp chất để đảm bảo không bị tắc nghẽn hệ thống khi vận hành và đảm bảo độ bền của thiết bị lọc.
 
Bể chứa nước: Dung tích tối thiểu là 10m3, có thể xây bể chìm hoặc 2 phần chìm 1 phần nổi.
 
Thùng hòa tan phân bón, dinh dưỡng: Sử dụng thùng phy nhựa dẻo dung tích từ 200-300 lít.
 
Nguồn điện: Có thể sử dụng nguồn điện 1 pha hoặc 3 pha tùy điều kiện, tuy nhiên nếu dùng điện 3 pha thì hệ thống vận hành sẽ ổn định hơn.
 
Máy bơm cung cấp nước tưới: Sử dụng máy bơm ly tâm công suất 2kW 1 pha hoặc 3 pha tùy theo nguồn điện.
 
Đồng hồ đo lưu lượng nước: Để đo lưu lượng nước tưới cho chè.
 
Bộ lọc đĩa:  Để lọc các tạp chất có trong nước tưới trước khi bơm vào hệ thống tưới tránh hiện tượng tắc nghẽn hệ thống. Sử dụng bộ lọc đĩa 2 inch, công suất lọc 30m3/h của hãng Naadanjain (Israel) hoặc các hãng khác có cùng chức năng, bộ lọc có thể tháo vệ sinh dễ dàng.
 
Van xả khí: Để xả không khí lẫn trong hệ thống đường ống khi bơm nước nâng cao hiệu quả của hệ thống tưới. Sử dụng van xả khí ¾ inch của hãng Naadanjiain (Israel) hoặc các hãng khác có cùng chức năng.
 
Thiết bị châm phân bón vào hệ thống tưới để bón cho cây chè. Sử dụng thiết bị châm phân bón Venturi 49 của hang Naadabjain (Israel) hoặc các hãng khác có cùng chức năng.
 
Đồng hồ đo áp lực nước: Dùng để đo áp lực dòng chảy của nước trong hệ thống giúp cho người sử dụng điều chỉnh được áp lực phù hợp cho hiệu quả tưới cao nhất. Sử dụng đồng hồ đo áp lực nước ½ inch – áp suất làm việc 10 bar (kg/cm2).
 
Van 1 chiều: Để dòng chảy trong hệ thống đi theo 1 chiều, không bị chảy ngược lại máy bơm khi hệ thống ngừng hoạt động.
 
Hệ thống ống dẫn: Sử dụng ống PVC đường kính 60, dầy 4mm, áp lực tối đa 16 bar của Công ty Nhựa thiếu niên tiền phong hoặc các sản phẩm khác cùng chất lượng. Ống được chon sâu dưới mặt đất 50cm để đảm bảo tuổi thọ của hệ thống.
 
Dây tưới nhỏ giọt có bù áp: Sử dụng dây tưới nhỏ giọt có bù áp của Công ty Naandanjain (Israel) đường kính 16 mm, 1,6 lít/h hoặc các công ty kahcs có cùng chất lượng. Khoảng cách lỗ nhỏ giọt trên ống là 40-50cm, đầu nhỏ giọt có gắn bù áp để đảm bảo lượng nước tưới ở tất cả các lỗ bằng nhau.
 
Một số phụ kiện khác: Đầu khởi thủy, nối ống nhỏ giọt, đầu bịt cuối, van đầu, phụ kiện PVC khác…
 
1.2. Thiết kế hệ thống tưới kết hợp với dinh dưỡng
 
Nương chè được chia thành những lô có diện tích từ 0,5-0,6ha.
 
Đường ống chính được đi từ khu vực lắp đặt máy bơm và hệ thống phối trộn phân bón, đi tới các đầu các lô tưới. Mỗi lô tưới được lắp 1 van cầu để có thể tưới từng lô theo nhu cầu.
 
Dây tưới được dải trên bề mặt đất, dọc theo hàng chè, cách hành chè 15cm.
 
2. Bón phân qua hệ thống tưới
 
Lượng bón:
 
Loại chè
 
Loại phân
 
Lượng phân
 
Phương pháp bón và thời điểm bón
 
Các loại hình kinh doanh 3 năm 1 lần
 
Hữu cơ P2O5
 
25000-30000
 
Bón sau đốn kết hợp với ép xanh lá chè. Trộn đều, bón rạch sâu 15-20cm, giữa hàng, lấp kín.
 
Năng suất búp tươi từ 60-80 tạ/ha
 
N
 
 P205
 
 K20
 
 
 
130-156
 
52-78
 
78-104
 
N: Bón 20% sau đốn chậm nhất 1 tháng kết hợp với ép xanh cành lá già, sau đó cứ 2 tháng bón 1 lần theo tỷ lệ 20:10:10:20:20
 
Phương pháp bón: Hòa tan vào nước tỷ lệ 10kg N/100 lít nước
 
 
 
Đỗ Thị Thơm
 
 
 

Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sử dụng chế phẩm MF1 xây dựng mô hình trồng rừng gỗ lớn thông Caribe

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> Ng&agrave;y 30/8, Sở Khoa học v&agrave; C&ocirc;ng nghệ đ&atilde; tổ chức hội đồng đ&aacute;nh gi&aacute;, nghiệm thu dự &aacute;n khoa học v&agrave; c&ocirc;ng nghệ cấp tỉnh &ldquo;Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sử dụng chế phẩm MF1 x&acirc;y dựng m&ocirc; h&igrave;nh trồng rừng gỗ lớn th&ocirc;ng Caribe (Pinus caribaea Morelet) tại huyện Y&ecirc;n Dũng, tỉnh Bắc Giang&rdquo;. Đồng ch&iacute; Nguyễn Thanh B&igrave;nh, Gi&aacute;m đốc Sở Khoa học v&agrave; C&ocirc;ng nghệ, Chủ tịch hội đồng điều h&agrave;nh buổi họp.</p>

Đ/c Nguyễn Thanh Bình, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch hội đồng điều hành buổi họp

Dự án do Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng chủ trì, thực hiện từ tháng 6/2021 đến tháng 6/2024 nhằm xây dựng vườn ươm giống quy mô 20.000 cây, mô hình trồng thâm canh 20ha thông Caribe sử dụng chế phẩm vi sinh vật MF1 với yêu cầu cây giống đạt tiêu chuẩn xuất vườn và rừng trồng đạt tỷ lệ sống từ 90% trở lên, sinh trưởng cây tối thiểu tăng 20% so với giống đại trà, không sử dụng chế phẩm vi sinh vật MF1.

Trong 36 tháng thực hiện, dự án đã xây dựng được 180m2 vườn ươm giống thông Caribe tại tổ dân phố Kem, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng. Tại địa điểm triển khai, nhóm đã tiến hành 05 công thức thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, bốn lần lặp lại sử dụng chế phẩm vi sinh vật MF1 bón cho thông Caribe giai đoạn vườn ươm. Đồng thời, theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu về đường kính gốc, chiều cao cây, tỷ lệ lá trưởng thành (lá thật), tình hình bệnh hại... và làm các phân tích chỉ tiêu vi sinh vật. Kết quả, cây giống có đường kính cổ rễ 0,6-0,7cm, chiều cao 45-62cm, tỷ lệ trưởng thành 20-25%.

Nhóm tác giả đã xây dựng mô hình trồng thâm canh thông Caribe, sử dụng chế phẩm vi sinh vật MF1. Trong đó, 01ha thí nghiệm về tuổi cây rừng; 01ha thí nghiệm bón chế phẩm vi sinh MF1; 16ha mô hình rừng thâm canh sử dụng chế phẩm vi sinh MF1, có tỷ lệ sống đạt 91,02%, sinh trưởng chiều cao tăng 20,78%, đường kính tăng 20,22% so với 02ha mô hình đối chứng.

TS. Trần Thanh Trăng, chủ nhiệm dự án báo cáo kết quả

Dự án hoàn thiện 02 quy trình gồm: Quy trình sản xuất cây giống và quy trình trồng thâm canh thông Caribe sử dụng chế phẩm vi sinh vật MF1 phù hợp với điều kiện địa phương. Đồng thời, hoàn thiện báo cáo kết quả thí nghiệm; các mẫu phân tích xác định mật độ, hoạt tính sinh học và tên khoa học của các chủng vi sinh vật phân giải lân (phân giải phốt phát khó tan), vi sinh vật đối kháng nấm gây bệnh ở vườn ươm và rừng trồng. .

Tại hội đồng, các thành viên đánh giá dự án có ý nghĩa khoa học, thực tiễn cao, chứa đựng nhiều giải pháp tốt khắc phục vấn đề đất nghèo dinh dưỡng tại huyện Yên Dũng. Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong dự án cơ bản phù hợp. Các thí nghiệm nhằm hoàn thiện kỹ thuật về nhân giống, trồng rừng được bố trí khoa học, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn đã được công bố, có đối chứng, với dung lượng mẫu đủ lớn và có lặp lại…giúp cho kết quả nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy cần thiết, là cơ sở quan trọng để phát triển thông Caribe trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và các địa phương lân cận.

Thành viên hội đồng góp ý

Hội đồng đề nghị nhóm tác giả bổ sung tổng quan kết quả nghiên cứu về thông Caribe có liên quan đến dự án; bổ sung tiêu chuẩn cây giống; có sự phân tách rõ ràng giữa nội dung và phương pháp nghiên cứu. Rà soát các hướng dẫn kỹ thuật đảm bảo thống nhất với những hướng dẫn hiện hành của Bộ Nông nghiệp & PTNT; các tiêu chuẩn ngành hiện hết hiệu lực pháp lý nên được lược bỏ…

Các thành viên hội đồng đã bỏ phiếu đánh giá đạt yêu cầu đối với Dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sử dụng chế phẩm MF1 xây dựng mô hình trồng rừng gỗ lớn thông Caribe (Pinus caribaea Morelet) tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”./.

LHG
 

Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hái chè vụ xuân

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <em style="text-align: justify;">Ch&egrave; l&agrave; c&acirc;y l&acirc;u năm, trồng một lần cho thu hoạch 30 - 40 năm. Để c&oacute; nương ch&egrave; năng suất cao, đem lại hiệu quả kinh tế l&acirc;u d&agrave;i đ&ograve;i hỏi người trồng phải tu&acirc;n thủ đ&uacute;ng quy tr&igrave;nh kỹ thuật.</em></p>

Chè là cây lâu năm, trồng một lần cho thu hoạch 30 - 40 năm. Để có nương chè năng suất cao, đem lại hiệu quả kinh tế lâu dài đòi hỏi người trồng phải tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật.Thời vụ: Trồng tháng 2 - 3 dương lịch.

Đất trồng: Chọn đất có tầng canh tác dày trên 70cm, độ dốc dưới 25 độ, pH 4,5 - 5,5 và tỷ lệ mùn tổng số trên 2%. Có khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt, độ sâu mực nước ngầm trên 1m.

Thiết kế đồi (nương): Các đồi phải nằm trong quy hoạch tổng thể chung của vùng. Đồi chè là căn cứ để bố trí hàng nhằm tận dụng tối đa diện tích, thuận tiện tưới tiêu, chống xói mòn.

Lô: Lô tối thiểu có chiều ngang 20 - 30 hàng, dài 50 - 100m; tối đa chiều ngang 40 - 50 hàng, dài 100 - 150m. Lô quá to sẽ bất tiện cho việc chăm sóc, lô quá nhỏ sẽ mất hàng chè vào đường đi.

Hàng: Hàng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và tuổi thọ nương chè. Nơi có độ dốc bình quân dưới 6 độ thiết kế hàng theo đường bình độ chính. Độ dốc trên 6 độ bố trí hàng theo đường đồng mức.

Thiết kế đường thuận tiện cho đi lại, chăm sóc đồi chè, vận chuyển vật tư và sản phẩm thu hoạch. Đường phải có hệ thống thoát nước (trừ đường lô, đường chăm sóc phụ).

Làm đất: Làm đất vào cuối mùa mưa để đảm bảo độ ẩm và tránh xói mòn, sau đó đánh gốc bốc trà, dọn sạch cỏ dại. Làm đất kịp thời vụ, thực hiện đất chờ cây, sau đó gieo cây phân xanh.

Đất phải được làm sạch cỏ dại, không có đá, gốc cây to, san phẳng thuận tiện cho canh tác. Nên cày sâu 40 - 45cm.

Đào rạch: Miệng rạch rộng 50 - 55cm, đáy rộng 40 - 45cm, sâu 40cm. Gieo cây phân xanh vào giữa 2 hàng chè với lượng hạt 10 -12kg cốt khí/ha, bón bổ sung 100kg supe lân + 30kg urê.

Bón lót: Phân hữu cơ: 20 - 25 tấn/ha, supe lân 500 - 600 kg/ha. Phân hữu cơ + phân lân trộn đều với đất rải mỏng theo rạch, bón trước khi trồng 1 tháng.

Chọn giốngTrồng các giống chè nhập từ Trung Quốc như: Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên, Thuý Ngọc… Cây giống khi xuất vườn phải đủ 8 - 10 tháng tuổi trong vườn ươm, cao 20 - 25cm, có từ 6 lá thật trở lên, đường kính gốc trên 2,5mm, thân hoá nâu 1/2 chiều cao cây trở lên, cứng cây, nguyên bầu đất, không lẫn giống, không bị sâu bệnh.

Mật độ - khoảng cách: Giống có lá nhỏ, thân bụi như Kim Tuyên, Thuý Ngọc... trồng 2,5 - 2,7 vạn cây/ha, hàng cách hàng 1,2 - 1,3cm, cây cách cây 0,3m. Giống lá to, thân gỗ nhỏ như Bát Tiên, Phúc Vân Tiên... trồng 2,0 - 2,2 vạn cây/ha, hàng cách hàng 1,3m, cây cách cây 0,35 - 0,4m.

Cách trồngTranh thủ những ngày có mưa, đất đủ ẩm để trồng chè.

Trên rạch đã đào và phân đã được lấp tiến hành bổ hố sâu và trồng theo đúng mật độ, khoảng cách. Dùng dao rạch bầu PE, tránh làm giập nát biến dạng bầu đất. Đặt bầu đứng, chóp lá hướng về phía Tây đối với nương chè có diện tích nhỏ. Nếu độ dốc cao thì đặt bầu đứng, phần thân nghiêng dựa vào sườn đất. Lá mẹ chừa trên mặt đất, lấp toàn bộ cổ rễ và lấp chặt đất xung quanh.

Sau khi trồng xong phải phủ cỏ quanh gốc. Đảm bảo duy trì ẩm độ 80 - 85%. Thường xuyên kiểm tra và trồng dặm. Đảm bảo trên rạch chè luôn sạch cỏ dại. 

Chăm sóc và thu hái chè:

Khoảng tháng 3-4 hàng năm là thời gian thích hợp để chăm sóc và thu hái chè vụ xuân. Để chè luôn đạt năng suất, chất lượng cao, bà con nên chú ý những biện pháp kỹ thuật sau:

Làm cỏ: Đối với chè kiến thiết cơ bản (KTCB), thường xuyên làm sạch cỏ.

Với chè kinh doanh, làm cỏ trên toàn bộ nương chè, dùng cuốc hoặc tay móc cỏ ở gốc, xới sạch cỏ giữa 2 hàng chè, sau đó tủ cỏ vào gốc để giữ ẩm. Nếu có điều kiện, cày giữa 2 hàng chè để đất tơi xốp. Phát quang bụi rậm quanh đường lô, đường ven đồi chè nhằm hạn chế sâu bệnh trú ngụ.

Đối với chè trồng cải tạo thay thế, bà con cần đốn 2 bên hàng chè cũ để chè trồng mới không bị ảnh hưởng.

Bón phân: Sau khi làm cỏ xong, tiến hành bón phân cho chè với lượng 20 tấn phân hữu cơ + 300kg supe lân/ha. Cày rạch rộng 20cm, sâu 30cm, bón phân lấp kín đất.

Chè KTCB 2 – 3 năm sau trồng (tính cho 1ha):

- Chè 1 tuổi: 130kg urê + 250kg supe lân + 90kg kali.

- Chè 2 tuổi: 195kg urê + 250kg supe lân + 120kg kali.

- Chè 3 tuổi: 260kg urê + 333kg supe lân + 180kg kali.

Chè kinh doanh: Với nương chè năng suất 4-6 tấn búp/ha, lượng phân bón là 200-240kg urê + 200 – 300kg lân + 120 – 160kg kali. Năng suất chè càng cao thì lượng phân bón càng lớn. Cách bón:

+ Đạm 1 năm bón 4 lần vào các tháng 2 (40%), tháng 5 (30%), tháng 8 (20%), tháng 10 (10%).

+ Kali 1 năm bón 3 lần vào tháng 5 (40%), tháng 8 (40), tháng 10 (20%).

+ Supe lân: 1 năm bón 2 lần vào tháng 2 (50%), tháng 8 (50%). Trộn đều phân, bón sâu 6-8cm, sau đó lấp kín đất.

Trồng cây che bóng: Chè ưa ánh sáng tán sạ vì vậy cần bố trí cây che bóng trên nương chè hợp lý bằng cây muồng, mật độ 120 – 150 cây/ha. Cách 4 hàng chè trồng một hàng cây bóng mát, cây cách cây 10m.

Thu hái:

- Chè 1 tuổi: Chỉ hái những cây cao trên 60cm.

- Chè 2 tuổi: Vẫn để bộ lá nuôi cây, hái nhẹ những cành cao trên 65cm.

- Chè 3 tuổi: Bắt đầu hái nhưng vẫn phải nuôi tán, lần hái đầu rất quan trọng, chỉ được hái những búp cao trên 65cm (hái 1 tôm và 2-3 lá non). Những cành thấp đọt chưa đủ lá, không hái.

Với chè kinh doanh, bà con cần thực hiện hái san trật khi trên tán có 30% số búp đủ tiêu chuẩn. Vụ xuân (tháng 3-4), hái 1 tôm và 2-3 lá non, để lại trên tán 2 lá chừa. Nếu chè tốt có thể chừa lại 1 lá, chè xấu chừa 3 lá nhằm tạo bộ tán hợp lý nuôi cây, những búp vượt giữa tán, hái sát lá cá hoặc để lại một lá chừa tạo mặt tán phẳng giúp cho các lứa sau sinh trưởng đồng đều. Bà con không được dùng dao, kéo để hái chè vì gây ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và quá trình sinh trưởng của các lứa chè sau.

BBT