Chăn nuôi-Gia súc

QUY TRÌNH KỸ THUẬT NUÔI LỢN RỪNG LAI

Nhóm thông tin: 
Ngày nay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của nhân dân ngày càng cao, đặc biệt là các loại thịt đặc sản quý hiếm. Một trong những động vật hoang dã được nhiều người Việt Nam ưa chuộng đó là lợn rừng. Thuần hóa lợn rừng, lai tạo với lợn nhà đang được nhiều trang trại và các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nghiên cứu và ứng dụng.
 
I. Kỹ thuật nuôi:
 
1. Giống và đặc điểm giống:
 
Lợn rừng lai là con lai giữa lợn rừng đực với lợn nái là lợn địa phương thả rông của người đồng bào dân tộc thường nuôi (giống lợn gần như hoang dã) tạo ra con lai với ưu thế lai cao của cả bố và mẹ: Có sức đề kháng mạnh, khả năng chịu đựng kham khổ với môi trường sống tự nhiên cao, ít dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt rất thấp…
 
Vóc dáng: Lợn rừng lai cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, hơi gầy, dài đòn, lưng thẳng, bụng thon, chân dài và nhỏ, cổ dài, đầu nhỏ, mõm dài và nhọn, tai nhỏ vểnh và thính, răng nanh phát triển mạnh, da, lông màu hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có 3 ngọn, lông dọc theo sống lưng và cổ dày, dài và cứng hơn, ánh mắt lấm lét trông rất hoang dã… Trọng lượng lúc trưởng thành (con đực thường lớn hơn con cái), con đực nặng 50 - 70kg, con cái nặng 30 - 40kg…
 
Tập tính sinh hoạt và môi trường sống: Lợn rừng lai hơi nhút nhát, thính giác, khứu giác tốt, sinh hoạt bầy đàn và chọn lọc tự nhiên thể hiện tính hoang dã… Thích sống theo bầy đàn nhỏ vài ba con, lợn đực thường thích sống một mình (trừ khi lợn cái động dục).
 
Môi trường sống thích hợp là vườn cây, trảng cỏ gần ao hồ… Thích hoạt động về ban đêm, ban ngày tìm nơi yên tĩnh, kín đáo để ngủ.
 
Chất lượng thịt: Thịt lợn rừng lai màu hơi nhạt, không đỏ như thịt lợn nhà, nhưng nhiều nạc, ít mỡ, da mỏng và dòn, thịt thơm ngon rất đặc trưng, hàm lượng Cholesteron thấp, người tiêu dùng rất ưa chuộng nên bán được giá cao…
 
2. Chọn giống và phối giống:
 
2.1. Chọn giống:
 
Chọn những con đầu thanh, ngực sâu, mình nở, hoạt bát, lưng thẳng, bụng to vừa phải, hông rộng, lông mịn, bốn chân chắc khoẻ, bộ phận sinh dục phát triển và hoạt động tốt. Nếu có điều kiện nên chọn lọc qua đời trước (dòng, giống bố mẹ, ông bà…), qua bản thân (ngoại hình, khả năng thích nghi, khả năng sinh sản …) và qua đời sau.
 
2.2. Ghép đôi giao phối:
 
Tốt nhất, nên cho lợn rừng lai cái phối giống với lợn rừng đực hoặc cho lợn rừng lai cái phối giống với lợn rừng lai đực để tạo ra con lai thương phẩm nuôi thịt…
 
Phối giống và thời điểm phối giống thích hợp: Bỏ qua 1 - 2 lần động dục đầu tiên vì cơ thể chưa hoàn thiện, trứng rụng ít nên khó thụ thai.
 
Chu kỳ động dục của lợn là 21 ngày, thời gian động dục kéo dài 3 - 5 ngày. Thời điểm phối giống thích hợp vào cuối ngày thứ 2 hoặc đầu ngày thứ 3 (tuỳ theo giống, tuổi), cho nên cần theo dõi biểu hiện của lợn lên giống. Khi âm hộ chuyển từ màu hồng tươi sang màu hồng tái, có nếp nhăn và dịch nhờn tiết ra nhiều, tai chĩa về phía trước, có phản xạ đứng im (mê ì) là thời điểm phối giống thích hợp nhất.
 
Khi lợn cái có dấu hiệu động dục ta cho lợn đực vào khu nuôi lợn cái, hoặc lợn cái vào khu nuôi lợn đực. Lợn đực sẽ phối giống đến khi lợn cái không chịu nữa mới thôi. Có thể cho phối kép 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát (hoặc ngược lại). Sau 21 ngày, lợn cái không động dục trở lại, có thể lợn cái đã có thai.
 
3. Chuồng trại:
 
Chuồng trại rất đơn giản, tuy nhiên phải nắm vững một số đặc điểm và tập tính của heo rừng lai để bố trí chuồng trại hợp lý.
 
Nên chọn khu đất cao, thoát nước tốt, có nguồn nước sạch. Nó không những cung cấp đủ nước cho heo uống mà quan trọng hơn là duy trì được hệ thực vật phong phú tại nơi nuôi và giữ được độ ẩm thích hợp.
 
Chuồng trại càng cách xa khu dân cư và đường sá càng tốt. Bản năng hoang dã đã đưa chúng vào tình trạng cảnh giác và luôn hoảng hốt bỏ chạy khi nghe có tiếng động.
 
Ta có thể nuôi heo rừng lai theo kiểu nhốt trong chuồng hoặc nuôi theo kiểu thả rông trong những khu vực có cây xanh, có rào che chắn xung quanh, hàng rào phải chắc chắn. Có thể vây lưới B40 thành các chuồng nuôi tự nhiên, có móng kiên cố (vì heo rừng lai hay đào hang). Chuồng nuôi có thể rộng 50 - 100m2 (tuỳ theo khả năng đất đai). Riêng đối với heo đực giống phải nuôi riêng, mỗi con một chuồng rộng 5-10m2 (tùy theo điều kiện đất đai có thể làm chuồng rộng hơn). Chuồng nuôi phải có mái che mưa, che nắng, cao trên 2,5m, nền đất tự nhiên, có độ dốc 2 - 3%… đảm bảo độ thông thoáng, sạch sẽ, mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông, tránh mưa tạt, gió lùa.
 
Với quy mô ban đầu nuôi 10 con (1 đực, 9 cái) cần có 3 chuồng nuôi. Hai chuồng nuôi heo cái sinh sản, một chuồng nuôi heo đực giống.
 
4. Thức ăn và khẩu phần thức ăn:
 
Bao gồm thức ăn xanh (cỏ, cây các loại), thức ăn tinh (ngũ cốc, củ quả, mầm cây, rễ cây các loại), muối khoáng (tro bếp, đất sét, hỗn hợp đá liếm...). Thực tế cho thấy, heo rừng thường tìm đến nương rẫy mới đốt kiếm tro, đất sét để ăn.
 
Khẩu phần thức ăn cho heo rừng lai thông thường: 50% rau, củ, quả các loại (có thể sản xuất tại trang trại), 50% cám, gạo, ngũ cốc các loại, hèm bia, bã đậu… Mỗi ngày cho ăn 2 lần (sáng, chiều), một con heo lai trưởng thành tiêu thụ hết khoảng 2,0 - 3,0kg thức ăn các loại.
 
Thức ăn cho heo rừng lai do con người cung cấp có thể thiếu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng và sinh tố…do đó ngoài việc bổ sung thức ăn tinh giàu đạm, sinh tố, cần thiết phải bổ sung thêm đá liếm cho heo. Hỗn hợp đá liếm bổ sung khoáng có thể mua hay tự trộn theo tỷ lệ (muối ăn 100g; sắt sunphát 100g; đồng sunphát 50g; diêm sinh 100g; vôi tôi 1.000g…đất sét vừa đủ 3kg) cho heo liếm tự do cũng chỉ hết khoảng 20 - 25 gam/con/ngày.
 
Thức ăn của heo rừng lai chủ yếu là thực vật. Không nên lạm dụng thức ăn giàu dinh dưỡng để nuôi heo rừng lai vì nó sẽ làm cho phẩm chất thịt của heo rừng lai bị biến đổi và nhiều khi làm cho heo bị bệnh tiêu chảy...
 
Heo ăn thức ăn xanh tươi nên ít uống nước, tuy nhiên cũng cần có đủ nước sạch và mát cho heo uống tự do. Nước không có ý nghĩa về mặt dinh dưỡng, nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của heo, nhất là khi thời tiết nắng nóng…
 
Hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, dọn bỏ thức ăn dư thừa, rửa sạch máng ăn, máng uống…
 
5. Chăm sóc nuôi dưỡng:
 
Heo đực giống: Quản lý và chăm sóc tốt, 1 heo đực có thể phối 5 - 10 heo cái. Heo đực giống phải nuôi riêng và có chế độ bồi dưỡng, nhất là thức ăn tinh giàu đạm. Ngày phối giống bổ sung thêm thức ăn tinh: 1 - 2 quả trứng, muối khoáng, sinh tố cho ăn tự do..
 
Heo cái giống: Heo rừng lai mắn đẻ, đẻ nhiều con, mỗi năm có thể đẻ 2 lứa, mỗi lứa 6 - 7 con, cá biệt có lứa đẻ 9 - 10 con và khéo nuôi con. Trong tự nhiên, khi đẻ heo mẹ tự chăm sóc, nuôi dưỡng con cái và tự tách bầy khi con lớn…
 
Heo rừng lai sinh sản tự nhiên quanh năm. Vấn đề cơ bản là theo dõi biểu hiện lên giống và xác định thời điểm phối giống thích hợp. Thời gian mang thai 3 tháng, 3 tuần, 3 ngày (114 - 115 ngày) thì đẻ.
 
Đối với heo nái mang thai: Heo mang thai nên nuôi riêng để tiện chăm sóc nuôi dưỡng, 2 tháng đầu mang thai cho ăn khẩu phần thức ăn bình thường: rau, củ, quả, hạt ngũ cốc các loại…có thể bổ sung thêm thức ăn tinh hỗn hợp, 15g muối, 20g khoáng mỗi ngày. Ngày heo đẻ có thể cho heo ăn cháo loãng, ít muối, ít rau xanh để đề phòng sốt sữa.
 
Đối với heo nái nuôi con: Khẩu phần thức ăn phải đảm bảo số lượng, chất lượng và chủng loại. Khi heo con được 1,5 - 2 tháng tuổi, đã ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cho mẹ ăn khẩu phần ăn bình thường. Không nên phối giống cho heo nái động dục trong thời kỳ nuôi con, vì khó thụ thai hoặc thụ thai nhưng số lượng và chất lượng heo con sinh ra không đạt yêu cầu.
 
Heo con: Heo sơ sinh màu lông đen, có những sọc nâu vàng chạy dọc thân, không cần đỡ đẻ, cắt rốn, chỉ khoảng 30 phút đến 1 giờ sau đẻ heo con đã có thể đứng dậy bú mẹ. 15 - 20 ngày chạy lon ton và bắt đầu tập ăn cỏ, cây. Heo con được 1,5 - 2 tháng tuổi, lúc này heo con đã cứng cáp, ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cai sữa, tách bầy khỏi heo mẹ. Hàng ngày, nên cho heo con vận động và tiếp xúc gần gũi với con người.
 
Heo sơ sinh có thể đạt 300 - 500 gr/con, 1 tháng tuổi 3 - 5 kg, 2 tháng tuổi 8 - 10kg, 6 tháng tuổi 20 - 25 kg, 12 tháng tuổi có thể đạt 60 - 70% trọng lượng trưởng thành. Với cách nuôi và chế độ dinh dưỡng thông thường, sau 6 tháng nuôi heo con có thể đạt trọng lượng 25kg và bán thịt.
 
II. Một số bệnh thường gặp
 
1. Bệnh tiêu hóa: Khi heo rừng lai mắc một số bệnh về đường tiêu hóa (như sình bụng, đầy hơi, tiêu chảy, ngộ độc thức ăn…) có thể dùng các loại thuốc trị bệnh đau bụng, đầy hơi, khó tiêu, tiêu chảy của heo nhà cho uống và chích ngừa. Dùng 5-10 kg rau dừa dại cho heo ăn hoặc có thể bổ sung thức ăn, thức uống đắng chát như lá, quả ổi xanh, cà rốt, rễ cau, rễ dừa…
 
Bệnh ở đường tiêu hóa: Do nhiều nguyên nhân như thức ăn không phù hợp, nhiễm khuẩn đường ruột, ký sinh trùng. Phải xem con vật bệnh do nguyên nhân nào mà có liệu pháp điều trị thích hợp, nếu đàn heo rừng lai đã tẩy giun định kỳ rồi thì có thể kết hợp các loại thuốc sau trong điều trị: Vime C - Electrolyte: 1g thuốc/ 2lít nước uống, hay Vime-Amino, Aralis: 1ml/ kg thể trọng/ ngày, Vime-Flutin 1ml/5 kg thể trọng/ngày hoặc Coli-Norgent 1g/5kg thể trọng/ngày. Dùng liên tục 3-5 ngày.
 
Trong trường hợp có sốt, bỏ ăn ta có thể dùng thêm 1 trong các loại thuốc sau: Genta-Colenro: 1ml/5-10 kg thể trọng hoặc Vime- Sone: 1ml/5 kg thể trọng.
 
Để đề phòng các bệnh về đường tiêu hóa, cần cho heo ăn những thức ăn đảm bảo vệ sinh, không bị ẩm mốc, hôi thối, không có dư lượng thuốc trừ sâu, khẩu phần ăn phải đầy đủ dinh dưỡng.
 
2. Bệnh chấn thương: Do tranh giành thức ăn, hay lúc đùa giỡn gây ra, có thể dùng Vime-Iodine bôi lên vết thương. Vết thương có khả năng tái tạo nhanh nên mau lành. Nếu vết thương chỉ bị chấn thương nhỏ thì rửa sạch và bôi thuốc sát trùng, chấn thương lớn thì rửa sạch, sát trùng vết thương trước khi khâu, chích kháng sinh tổng hợp như Ampicyline, Tetracyline…
 
3. Ký sinh trùng đường ruột: Heo bị nhiễm ký sinh trùng đường ruột thường còi cọc, chậm lớn, trong phân có ấu trùng giun, sán. Cần thiết phải xổ sán, giun cho heo như bệnh giun đũa heo, giun phổi heo.
 
3.1. Bệnh giun đũa heo: Do một loài giun giống như chiếc đũa có tên là Ascaris suum, ký sinh ở ruột non. Khi heo ăn phải trứng giun có trong thức ăn xanh như rau muống, rau lấp, bèo, cỏ… sẽ phát triển thành giun trưởng thành. Khi mắc phải heo có biểu hiện to bụng, ỉa chảy, chậm lớn, xù lông, gầy còm dần. Khi có nhiều giun dễ gây ách tắc ruột, tắc ống mật, thủng ruột… có thể dùng các loại thuốc sau: Nimison 1g/5kg thể trọng; Tayzu 1g/10kg thể trọng của heo để tẩy giun. Tốt nhất, nên cho ăn thuốc vào buổi sáng. Ngoài ra, có thể dùng: Levamizol 10 mg/kg thể trọng, cho uống qua miệng hoặc tiêm; Mebendazol 6-8 mg/kg thể trọng, cho uống qua miệng. Kinh nghiệm nuôi heo rừng lai ở các trang trại cho biết khi cho heo ăn lá cây keo dậu (Lencaenna leucocephala) thì vừa l&
agrave; cung cấp thức ăn xanh vừa là thuốc tẩy giun đũa khá hiệu nghiệm.
 
3.2. Bệnh giun phổi lợn: Do những giun tròn Metastrongylus ký sinh ở khí quản, phế quản. Khi mắc bệnh con vật gầy còm, ho nhiều, mệt mỏi, kém ăn, ngày càng khó thở và nếu nặng quá có thể chết. Khi mổ khám thấy phổi bị viêm, trong khí quản, phế quản có nhiều giun. Có thể dùng các loại thuốc sau: Levamizol; Tetramizol; Mebendazol để tẩy giun cho heo, liều lượng và cách sử dụng theo khuyến cáo của Nhà sản xuất. Hiệu quả nhất là Tetramizol thứ đến là Mebendazol. Hai loại thuốc này có sẵn ở nước ta. Thực tiễn cho thấy, bệnh giun phổi heo dễ xuất hiện sau những trận mưa dài ngày, giun đất có ấu trùng gây nhiễm mà heo ăn vào dễ gây bệnh giun phổi heo.
 
4. Ký sinh trùng ngoài da: Có các loại ve, ghẻ, ruồi, muỗi..ít khi bám trên da hút máu và truyền bệnh ở heo rừng lai. Với đặc tính hoang dã nên heo rừng lai không sợ muỗi, côn trùng tấn công. Trường hợp heo bị ký sinh trùng ngoài da, có thể dùng thuốc sát trùng bôi, xịt. Để đề phòng bệnh ký sinh trùng ngoài da cho heo rừng lai, nên định kỳ vệ sinh, sát trùng chuồng trại và môi trường xung quanh. Ta có thể kết hợp các loại thuốc sau để điều trị: Tiêm Vemectin 0,3%: 1ml/10kg thể trọng, Vime-Blue: Phun đều lên vết thương 2-3 lần/ ngày.
Nguyễn Tươi

KỸ THUẬT CHĂN NUÔI LỢN THỊT SẠCH BẰNG MEN Ủ VI SINH

Nhóm thông tin: 
Hiện nay, bà con huyện Phúc Thọ (Hà Nội) đang ứng dụng tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi lợn thịt sạch bằng men ủ vi sinh trên nền đệm lót sinh học đem lại hiệu quả kinh tế cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa dịch bệnh có thể xảy ra cho người và vật nuôi.
 
Anh Nguyễn Văn Tuấn, một chủ trang trại ở xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ (Hà Nội), người tham gia mô hình chăn nuôi lợn thịt sạch, cho biết tốc độ tăng trọng khi nuôi bằng phương thức sạch có chậm hơn một chút so với nuôi bằng thức ăn công nghiệp, nhưng vẫn đảm bảo tốc độ lên cân. Khi lấy mẫu thịt lợn đi kiểm tra, các thông số về vệ sinh an toàn thực phẩm đều đạt chất lượng.
 
Với quy trình chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học, lợn được vận động nhiều, thịt chắc khỏe, tỷ lệ nạc cao, có màu sắc đẹp, có mùi vị thơm ngon, được người tiêu dùng ưa chuộng.
 
Mỗi lứa xuất chuồng 100 con, trừ các khoản chi phí, anh Tuấn thu lãi khoảng 80 triệu đồng, cao hơn 40-50 triệu đồng so với chăn nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Không chỉ vậy, đệm lót sau thời gian 2-3 năm còn có thể tái sử dụng làm phân hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp sạch.
 
Chăn nuôi lợn thịt sạch theo phương pháp này đảm bảo vệ sinh môi trường, ngăn ngừa dịch bệnh có thể xảy ra cho người và vật nuôi nhờ thiết kế chuồng hở, mái cao, thoáng.
 
Ngoài ra, đệm lót lên men được sản xuất chủ yếu từ trấu, mùn cưa không độc tố, cát và chế phẩm sinh học, giúp phân hủy tốt chất thải tại chỗ, không gây mùi hôi thối cũng như ảnh hưởng xấu tới không khí, nguồn nước. Vì vậy, trang trại lợn của gia đình anh Tuấn nuôi hơn 150 con lợn thịt trên diện tích 200m2, nhưng không hề có mùi hôi thối, nặng mùi như ở các trang trại chăn nuôi theo kiểu truyền thống.
 
Anh Tuấn cho biết thêm hàng ngày, anh sử dụng máy nghiền xay lúa, ngô, đậu tương, đầu cá, rồi ủ men vi sinh “công nghệ xanh” từ 24-28 giờ.
 
Thực phẩm lên men được trộn cùng bã bia cho lợn ăn, hoàn toàn không sử dụng thức ăn công nghiệp. Nhờ vậy, tiết kiệm được rất nhiều chi phí cho thức ăn chăn nuôi, lợn lại có thể tăng dinh dưỡng, đảm bảo chất lượng thịt thương phẩm an toàn, thơm ngon, được người tiêu dùng ưa chuộng.
 
Tuy nhiên, phương pháp chăn nuôi lợn thịt sạch này vẫn chưa được bà con hưởng ứng nhiều. Nguyên nhân là do đầu ra cho sản phẩm thịt sạch còn hạn chế (mới chỉ tiêu thụ được thông qua kênh bán hàng tại một số siêu thị của đơn vị phân phối là Công ty Mr.Sạch) trong khi đó, việc phải đầu tư nguồn vốn ban đầu cho trang trại chăn nuôi lợn thịt sạch khá lớn khiến người dân còn e dè với mô hình chăn nuôi này.
 
Để mô hình chăn nuôi này phát triển, các cơ quan chức năng cần quan tâm, tạo điều kiện xây dựng cầu nối giữa doanh nghiệp với hộ chăn nuôi, hướng tới phương thức sản xuất chăn nuôi theo chuỗi liên kết, đặt hàng, tạo đầu ra ổn định, tiến tới gây dựng thương hiệu cho sản phẩm, từng bước tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người nông dân./.
 
 

KỸ THUẬT NUÔI VÀ VỖ BÉO TRÂU THỊT

Nhóm thông tin: 
Chăm sóc trâu vỗ béo (ảnh: theo cema.gov.vn)
 
 
 
Ở nước ta, nuôi trâu chủ yếu để lấy sức kéo nên tiềm năng sản xuất trâu thịt hầu như không được chú ý đến. Thực chất thịt trâu giống như thịt bò về nhiều tính chất cơ bản: cấu trúc, thành phần hoá học, giá trị dinh dưỡng, vị ngon. Thịt nghé non, trâu tơ hoặc trâu nuôi chuyên thịt là loại thịt rất ngon, giá bán rất cao.
 
 
 
Nhưng hiện nay, ở nước ta chủ yếu là giết thịt loại trâu già, trâu loại thải nên màu thịt xẫm, ít mềm hơn và nặng mùi hơn thịt trâu non, vì vậy người tiêu dùng không ưa chuộng. Từ thực tế đó, cho thấy cần quan tâm khai thác tiềm năng sản xuất thịt của trâu, cải tiến quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như tìm kiếm các biện pháp cải tiến chất lượng sản phẩm, kể cả kỹ thuật giết mổ và xử lý thịt.
 
 
 
Để tăng năng suất và chất lượng thịt trâu, cần tiến hành vỗ béo trâu. Thời điểm vỗ béo trâu ở lứa tuổi còn non (từ 24 tháng tuổi) sẽ cho tỷ lệ xẻ thịt cao, chất lượng và độ mềm của thịt tốt, hiệu suất vỗ béo cũng cao hơn. Bởi vì trâu non có tốc độ lớn nhanh, bộ răng chắc khoẻ nên khả năng tiêu hoá và đồng hoá thức ăn tốt hơn, khả năng tích luỹ cũng cao hơn.
 
 
 
Tuy nhiên, cũng có thể vỗ béo trâu già, những con không có khả năng sinh sản và làm việc. Loại trâu này thường gầy yếu, tỷ lệ thịt xẻ thấp và chất lượng thịt không cao. Vỗ béo loại trâu này để nhằm tăng 15 - 20% khối lượng cơ thể. Phương thức chăn nuôi chủ yếu là chăn thả trên đồng bãi, kết hợp ăn cỏ, rơm và thức ăn tinh tại chuồng.
 
 
 
Đối với các tỉnh phía Bắc, vỗ béo trâu vào mùa thu là tốt nhất vì lúc này lượng cỏ phong phú, thời tiết mát mẻ. Đối với các tỉnh phía Nam, có thể vỗ béo trâu quanh năm, nhưng vỗ béo vào mùa mưa từ tháng 5 - 10 là kinh tế nhất.
 
 
 
Thời gian vỗ béo thường là 3 tháng.
 
 
 
- Tháng thứ nhất: tiến hành dọn vệ sinh chuồng trại, tẩy giun sán cho trâu, cho ăn đủ rơm, cỏ. Đối với những con gầy yếu, cho ăn thêm những loại thức ăn giàu đạm để nhanh chóng phục hồi cơ thể, tạo đà cho những tháng tiếp theo.
 
 
 
- Tháng thứ 2: chăn thả gần, cho ăn cỏ thoả mãn, tăng lượng thức ăn tinh, đảm bảo đủ nước uống.
 
 
 
- Tháng thứ 3: cho trâu ăn loại thức ăn giàu bột đường, chăn thả gần chuồng hoặc nhốt hoàn toàn để hạn chế tiêu hao năng lượng và tăng tích luỹ mỡ.
 
 
 
Trong điều kiện chăn thả gia đình ở nước ta có 2 phương thức vỗ béo thích hợp là:
 
 
 
- Vỗ béo bằng chăn thả: chăn thả trâu trên bãi chăn 8 - 10 giờ/ngày để tận dụng cỏ tươi mà không tốn công thu cắt và vận chuyển. Ban đêm, bổ sung thức ăn tinh và muối ăn cho trâu. Cách vỗ béo này áp dụng cho những nơi có đồng bãi chăn thả rộng và năng suất cỏ tươi tương đối khá, bảo đảm cho trâu mỗi ngày thu lượm được 20 – 25 kg cỏ.
 
 
 
- Vỗ béo bằng hình thức bán chăn thả: áp dụng cho những nơi ít bãi chăn (vùng đồng bằng, ven đô, khu công nghiệp). Trâu chỉ tận dụng được một phần hoặc một nửa khẩu phần thức ăn trên bãi chăn, phần còn lại phải bổ sung tại chuồng nuôi, trong đó lưu ý đến thức ăn tinh.
 
 
 
TS Phùng Quốc Quảng

MÔ HÌNH CHĂN NUÔI TRANG TRẠI HIỆU QUẢ

Nhóm thông tin: 
Kinh tế trang trại- xu thế tất yếu của sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Kinh tế trang trại đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn. Các trang trại được hình thành là nhân tố quyết định thúc đẩy phát triển sản xuất, chăn nuôi hàng hóa. Qua đó, góp phần thúc đẩy phát triển nông lâm ngư nghiệp, xây dựng nông thôn mới, làm cho dân giàu, nước mạnh.
 
 
Không xuất phát từ kinh nghiệm chăn nuôi nhỏ lẻ nhưng con đường đến với kinh tế trang trại của gia đình ông Bùi Văn Thắng tại Thôn Hố Vầu, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang lại hiệu quả, hiện đang là tấm gương sáng để mỗi khi nhắc tới gia đình ông mọi người đều cảm phục và ngưỡng mộ.
 
Năm 2004 ông mạnh dạn cùng gia đình đấu thầu thuê lại diện tích hồ trên 10ha của Xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang với ý tưởng cải tạo xây dựng, phát triển mô hình VAC quy mô và hiệu quả.
 
Gia đình ông bắt đầu chăn nuôi từ năm 2004. Nhờ niềm đam mê cùng ý chí làm giàu sau nhiều năm tâm huyết, gia đình đã mạnh dạn vay vốn đầu tư xây dựng khu chăn nuôi khép kín với diện tích trên 10 ha. ông đã dành 500m2 xây dựng khu chuồng nuôi lợn nái. 3.000m2 chăn nuôi lợn thịt và một phần để nuôi lợn sữa. Cùng hệ thống kho chứa, dự trữ thức ăn và các tủ bảo quản vacxin cho đàn lợn và cá. Các khu nuôi được phân bố dọc bờ chính của ao" với diện tích mặt ao trên 10 ha", cùng hệ thống đường đi thuận tiện và kiên cố. Vừa tiện cho việc vệ sinh chuồng trại, vừa tạo sự thoáng mát cho đàn lợn. Ngoài ra, khu nuôi lợn nái được gia đình lắp đặt hệ thống trần chống nóng, phun chống nóng trên mái, quạt thông gió cùng hệ thống bóng đèn chiếu sáng và tận dụng tối đa nguồn ánh sáng tự nhiên. Hệ thống sưởi vào mùa đông cũng được gia đình ông chú trọng với 3 khu chủ đạo bởi đặc tính của lợn nái nuôi con và nái chửa khác nhau. Dãy nuôi lợn thịt được phân chia thành khu riêng.
 
Phân lợn được gia đình tận dụng một phần làm nguồn thức ăn dồi dào cho hồ cá, cũng đảm bảo vệ sinh môi trường.
 
Hiện nay, gia đình ông đang có gần 80 con lợn nái và 3 con lợn đực  giống với xuất xứ lợn ngoại siêu nạc. Hàng tháng cho số lượng lợn giống trên 120 con, toàn bộ số lợn để phục vụ cho việc nuôi lợn thịt của gia đình. Ngoài ra, gia đình kết hợp với việc khai thác tinh cung cấp giống chuẩn cho bà con trong vùng và một số trang trại lân cận.
 
Việc áp dụng mô hình khép kín và kết hợp với nuôi cá  trong chăn nuôi đã giúp gia đình ông tránh và hạn chế được dịch bệnh cho đàn lợn  và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Sản lượng lợn thịt mà gia đình ông xuất bán ra thị trường ước tính đạt hơn 12 tấn/ tháng.
 
Với diện tích sử dụng trên 10ha mặt hồ, gia đình ông đã chủ động đắp ngăn thành 4 ao nuôi với diện tích khác nhau để thuận tiện cho việc nuôi trồng.
 
Ban đầu gia đình ông thả 50.000 con cá giống với đủ các chủng loại mè, cá trắm, cá trôi, cá chép và cá chim... và cho sản lượng hơn 19 tấn/ năm.
 
Ông chia sẻ  :" do những năm đầu còn nhiều bỡ ngỡ, kinh nghiệm chăn nuôi còn hạn chế nên cá trong hồ bị chết nhiều, gây thất thoát lớn". Nhớ lại năm 2007 và  2009 là 2 năm gia đình ông phải đương đầu với khó khăn thử thách lớn nhất trong gần 10 năm gắn bó với trang trại. Năm 2007, 2009 gia đình ông mạnh dạn thay đổi: cá chim, cá Rô phi (đơn tính) và cá vược biển được gia đình ông lựa chọn làm giống chủ đạo. Tuy nhiên, hai loại cá chim và cá vược biển lại không mang lại hiệu quả như mong muốn ban đầu, do đặc tính của cá chim "chịu rét kém" nên đã gây thất thoát nặng nề cho gia đình.
 
 Nhưng với niềm đam mê và ý trí kiên cường cùng niềm tin cao độ thì thất bại ấy là động lực cho ông cùng gia đình quyết tâm vượt lên khó khăn để xây dựng cơ ngơi khang trang như hiện nay.
 
Với sự mạnh dạn tiếp tục đầu tư và tự học hỏi kinh nghiệm, trau dồi kiến thức thực tế và kỹ thuật nuôi cá, kết hợp với việc tìm hiểu và lựa chọn những giống cá phù hợp với điều kiện tự nhiên và thời tiết nên với mô hình nuôi cá kết hợp chăn nuôi lợn gia đình ông dần gặt hái được thành công.
 
Năm nay, gia đình ông tiếp tục đầu tư và thả 3 loại cá giống chủ đạo: 6 vạn cá Rô Phi( đơn tính), 3 vạn cá điêu hồng và 13 vạn cá Chép.
 
Sự thành công của mô hình không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm cho người chăn nuôi (tạo việc làm thường xuyên cho 8 công nhân với mức thu nhập 3.5- 5tr đồng/tháng), mà còn góp phần thay đổi tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún của bà con nông dân sang hình thức nuôi trang trại tập trung, khép kín, hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường do chất thải, mang tính bền vững trong chăn nuôi đặc biệt nuôi lợn và cá.
 
Diệu Nhung
 

NÔNG DÂN LẠNG GIANG THI ĐUA SẢN XUẤT, KINH DOANH GIỎI

Nhóm thông tin: 
Những năm qua, phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng ở huyện Lạng Giang (Bắc Giang) phát triển mạnh. Trên địa bàn huyện xuất hiện ngày càng nhiều mô hình kinh tế của nông dân cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
 
 
Gia đình anh Bùi Văn Chuyền thu nhập hơn 100 triệu đồng mỗi năm từ nuôi lợn rừng.
 
Gia đình anh Bùi Văn Chuyền, thôn Trung là một trong những hộ đầu tiên đưa lợn rừng về nuôi tại xã Tân Thanh. Năm 2009, qua đọc báo, nghe đài thấy mô hình nuôi lợn rừng cho hiệu quả kinh tế cao, anh Chuyền đã học hỏi kinh nghiệm tại các mô hình nuôi lợn rừng trong và ngoài tỉnh, nhận thấy lợn rừng rất phù hợp với điều kiện đồi núi, phát triển kinh tế của gia đình, nhưng ngặt một nỗi là thiếu vốn. Đang băn khoăn thì được Hội Nông dân đứng ra tín chấp với ngân hàng cộng với vay từ quỹ hỗ trợ nông dân, anh Chuyền mạnh dạn xây 4 ô chuồng với diện tích hơn 40m2 và mua 5 con lợn rừng giống. Sau gần một năm, 4 con lợn sinh sản, những lứa lợn con này được gia đình nuôi thành lợn thịt. Sau 8 tháng nuôi thả, trọng lượng mỗi con từ 25 - 35kg, giá bán bình quân 150.000 đồng/kg, lứa lợn đầu tiên anh Chuyền thu lãi hơn 40 triệu đồng. Hiện nay, gia đình anh nuôi 10 con lợn nái và hơn 30 con lợn thương phẩm. Từ lợn rừng, năm 2011 gia đình anh Chuyền thu lãi hơn 100 triệu đồng. Anh cho biết: Lợn rừng là động vật hoang dã nên sức đề kháng cao, ít bị bệnh, kỹ thuật nuôi không khó. Thức ăn chủ yếu là thân cây chuối, cỏ, lá, rau, bèo và các hạt ngũ cốc, củ, quả. Quan trọng nhất là khâu chọn giống. Con giống không chuẩn sẽ dẫn đến tỷ lệ nạc thấp, chất lượng thịt không ngon. Cần chọn những con giống có hình dáng cao, mình trắm chắc, đầu nhỏ, mõm dài và nhọn, tai nhỏ, ít thịt má... Hiện nay gia đình anh Chuyền đang mở rộng thêm 70m2 chuồng trại, phát triển đàn lợn nái lên 20 con.
 
Cũng là thực hiện ước mơ làm giàu tại quê hương, tuy ở tuổi lục tuần nhưng vợ chồng ông bà Trần Văn Phan - Đoàn Thị Cầu, thôn Bãi Cả, xã Tiên Lục vẫn quyết định "rời làng" vào khu đồi để xây dựng trang trại trồng nấm, nuôi lợn, gà thịt. Bà Cầu cho biết: "Được tham dự các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật do Hội Nông dân tổ chức và tìm hiểu thực tế các mô hình kinh tế, năm 2009, vợ chồng tôi quyết định vào đây để làm trang trại. Qua vay mượn anh em, bạn bè, ngân hàng, quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm và quỹ hỗ trợ nông dân, chúng tôi đã đầu tư 300 triệu đồng xây dựng ba lán với diện tích 500m2/lán để trồng nấm sò và mộc nhĩ, xây dựng chuồng trại, hầm khí Bioga nuôi lợn thịt". Hiện nay, mỗi năm ông bà trồng hai vụ nấm với 60 tấn nguyên liệu và nuôi 40 đầu lợn thịt/lứa. Nhằm khép kín quy trình sản xuất, tránh dịch bệnh, bà Cầu nuôi 3 lợn nái để chủ động lợn giống. Tận dụng diện tích đồi rộng hơn 6000 m2 trồng vải thiều và sắn, dưới tán cây gia đình nuôi 500 con gà lai mía/lứa. Mô hình kinh tế tổng hợp này mỗi năm thu lãi trên 150 triệu đồng. "Trồng nấm sò và mộc nhĩ tốn ít nhân lực. Công việc đều đều rất phù hợp với sức khỏe của người có tuổi. Giá nguyên liệu đầu vào sẵn có, rẻ, thị trường tiêu thụ thuận lợi, vào vụ nấm thương lái đến tận nhà thu mua. Thu nhập từ trồng nấm mang lại tương đối cao và ổn định, cứ đầu tư bao nhiêu thì sẽ thu lãi được bấy nhiêu. Do vậy, bên cạnh duy trì  ổn định đàn lợn, đàn gà như hiệu nay, kết thúc vụ nấm xuân này, gia đình tôi tiếp tục mở rộng thêm 200m2 lán trại để vụ sau trồng khoảng 100 tấn nguyên liệu nấm sò và mộc nhĩ" - bà Cầu bộc bạch.
 
Trên đây chỉ là hai trong số hơn 16.500 hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi của huyện Lạng Giang năm 2011. Trong đó, sản xuất kinh doanh giỏi cấp trung ương có 477 hộ, cấp tỉnh 1350 hộ, cấp huyện 3364 hộ, còn lại là cấp cơ sở. Ông Hà Ngọc Tuân, Chủ tịch Hội Nông dân huyện Lạng Giang cho biết: Các cấp Hội Nông dân trong huyện đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm hỗ trợ, giúp đỡ hội viên phát triển kinh tế. Hội chủ động phối hợp với các ngân hàng thành lập các tổ vay vốn theo hình thức cho vay ủy thác, đứng ra tín chấp cho hội viên vay vốn với tổng dư nợ hiện nay đạt gần 115 tỷ đồng. Cùng với đó, tích cực tiếp nhận các dự án, nguồn vốn từ quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm (vốn 120), quỹ hỗ trợ nông dân các cấp giải ngân cho hàng nghìn lượt hộ nông dân vay sản xuất. Đồng thời, Hội còn phối hợp với các cơ quan chuyên môn, đơn vị khuyến nông cung ứng giống và phân bón theo hình thức trả chậm cho nông dân, mỗi năm tổ chức từ 250 đến 300 lớp dạy nghề, tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho 15 - 17 nghìn lượt nông dân, xây dựng các mô hình trình diễn các giống cây, con mới hiệu quả kinh tế cao để nông dân mắt thấy tai nghe vận dụng vào sản xuất. Ngoài ra, Hội còn đẩy mạnh phong trào hội viên tương trợ giúp đỡ nhau về vốn, cây con giống, kinh nghiệm sản xuất để cùng nhau giảm nghèo hiệu quả ngay từ cơ sở.
 
Nhờ có vốn và khoa học kỹ thuật, nhiều hội viên nông dân huyện Lạng Giang đã hăng hái thi đua lao động sản xuất, xây dựng những mô hình kinh tế cho hiệu quả cao.  Mỗi người một hoàn cảnh, cách nghĩ, cách làm khác nhau nhưng tất thảy cùng chung một ý chí, một quyết tâm, đó là nỗ lực vượt khó, tích cực lao động, nhạy bén với thị trường để làm giàu ngay tại quê hương.
 
 Thu Trang

LÀM GIÀU TỪ MÔ HÌNH CHĂN NUÔI LỢN RỪNG

Nhóm thông tin: 
Hưởng ứng phong trào “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi” do Trung ương Hội NDVN phát động, thời gian qua nhiều hội viên nông dân trên địa bàn huyện Sơn Động đã tích tìm tòi học hỏi, đưa các giống con có giá trị kinh tế cao vào sản xuất tại hộ gia đình đạt hiệu quả, nhiều người trong số đó đã bứt phá làm giàu từ trồng trọt, chăn nuôi. Chị Lào Thị Toan - 42 tuổi, hội viên nông dân thôn Sầy, xã Tuấn Đạo là một trong những tấm gương điển hình.
 
 
Gia đình chị Lào Thị Toan có 4 nhân khẩu, chồng chị là cán bộ công chức xã, 2 con đang học chuyên nghiệp xa nhà, chị là lao động chính trong gia đình với 2 ha đất vườn trồng cây ăn quả, 5 sào ruộng cấy lúa và 3 sào ao thả cá. Mặc dù tất bật quanh năm với việc vun trồng, chăm sóc vườn cây ao cá, chăn nuôi  gà, lợn nhưng do giá cả vật tư phân bón, thức ăn chăn nuôi biến động tăng cao, đầu ra cho nông sản không thuận lợi nên những năm trước đây, thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi của gia đình chị Toan chỉ đủ chi phí cho sinh hoạt hàng ngày, không có tích lũy. Qua tìm hiểu thông tin sách báo và được đi thăm quan thực tế các mô hình sản xuất tiêu biểu do Hội nông dân xã tổ chức, cuối năm 2008, chị đã mạnh dạn chuyển hướng sang chăn nuôi con đặc sản (Lợn rừng) bằng việc huy động vốn tự có đầu tư mở rộng chuồng trại và mua 2 con lợn đực giống lợn rừng thuần chủng về gây nuôi để phối giống với lợn nái sinh sản tại nhà. Do tích cực học tập kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ dịch bệnh cho vật nuôi nên ngay lần nuôi thử nghiệm đầu tiên đã thu được kết quả tốt. Lợn sinh sản đều, con giống khỏe mạnh.
 
Từ 2 con giống ban đầu, đến đầu năm 2010 gia đình chị đã có tổng đàn trên 30 con lợn lợn nái. Lợn rừng là loài vật dễ nuôi hơn lợn nhà rất nhiều, sức đề kháng cao, ít bệnh tật. Thức ăn cho chúng chủ yếu là các phụ phẩm trong nông nghiệp như rau, củ, quả, cỏ, thân cây ngô non, cây chuối nên dễ kiếm, chi phí thức ăn tinh bột chỉ chiếm khoảng 10%. Đặc biệt thịt lợn rừng là loại thực phẩm sạch, thơm ngon và bổ dưỡng, được người tiêu dùng rất ưu chuộng, vì vậy thị trường tiêu thụ lợn thương phẩm đang diễn ra thuận lợi. Với giá bán bình quân 200.000đ/kg lợn hơi, trong năm 2010, gia đình chị Toan xuất bán lứa lợn thương phẩm đầu tiên được hơn một tấn lợn hơi đã thu lãi trên 100 triệu đồng.
 
Từ hiệu quả ban đầu, năm 2011, Chị tiếp tục đầu tư mở rộng chuồng trại và tăng quy mô chăn nuôi lợn rừng của gia đình lên 15 con lợn nái sinh sản, trong các gian chuồng nuôi luôn duy trì trên 100 con lợn lớn nhỏ. Kết quả trong 2 năm 2011 và 2012, mỗi năm gia đình chị xuất bán ra thị trường được khoảng 3 tấn lợn thịt và hàng trăm con lợn giống, thu lãi trên 200 triệu đồng. Nhờ chăn nuôi lợn rừng, hơn 4 năm qua kinh tế của gia đình chị đã ngày càng trở lên khá giả, 2 con có điều kiện được học hành. Hiện nay, ngoài việc mở rộng chuồng trại chăn nuôi, Chị còn giúp đỡ nhiều chị em phụ nữ trong thôn về chăn nuôi, làm ăn kinh tế, mỗi năm cho thu nhập từ 30-40 triệu đồng. Về định hướng phát triển thời gian tới, Chị cho biết: Hiện nay điều kiện kinh tế của người dân đã khá lên nhiều, mọi người đều hướng tới lựa chọn loại thực phẩm sạch nên thị trường tiêu thụ sản phẩm lợn rừng rất thuận lợi. Mặt khác nuôi lợn rừng tận dụng được nguồn thức ăn có sẵn của gia đình nên chi phí thấp, dù giá bán không được như trước nhưng lãi suất nuôi lợn rừng vẫn cao hơn nhiều so với các loại vật nuôi khác. Do vậy chị đang duy trì, đồng thời tiếp tục mở rộng chăn nuôi lợn rừng và có thể nuôi thử nghiệm thêm một số loại con đặc sản khác, từng bước tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao để tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống.
 
 Tại Hội nghị Sơ kết 2 năm thực hiện việc “học tập và làm theo tấm gương đọa đức Hồ Chí Minh” do Huyện ủy Sơn Động tổ chức trong thời gian vừa qua, chị đã được Huyện ủy khen thưởng vì đã có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
 
Bá Dương 

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ ĐỆM LÓT SINH THÁI TRONG CHĂN NUÔI

Nhóm thông tin: 
Dự án khoa học công nghệ cấp tỉnh: "Nhân rộng mô hình đệm lót sinh thái trong chăn nuôi gia súc, gia cầm" do Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ Bắc Giang triển khai từ tháng 4/2011 đến nay trên địa bàn các huyện Yên Thế và Tân Yên đã mang lại nhiều lợi ích.
 
279 hộ gia đình ở các xã Đồng Tâm, Phồn Xương, Tân Hiệp của huyện Yên Thế và các xã Liên Chung, Liên Sơn của huyện Tân Yên được lựa chọn tham gia mô hình chăn nuôi lợn, gà sử dụng công nghệ đệm lót sinh thái.
 
Ngoài ra, cơ quan chủ trì dự án còn tổ chức tập huấn kỹ thuật làm đệm lót sinh thái, cấp chứng chỉ cho 30 cán bộ khuyến nông, thú y và các hộ nông dân; tổ chức 10 lớp tập huấn chuyển giao công nghệ đệm lót sinh thái cho 750 lượt người tham gia dự án.
 
Tại các xã Liên Chung và Liên Sơn Sơn của huyện Tân Yên, có 50 hộ dân đã tham gia mô hình chăn nuôi lợn thịt bằng đệm lót sinh thái với quy mô 1.000m2 chuồng nuôi.
 
Qua theo dõi, phân tích cho thấy, lợn nuôi trên đệm lót sinh thái tăng trọng tốt hơn, ít bị mắc bệnh và ít bị tái phát bệnh hơn so với lợn nuôi trên nền chuồng láng xi măng.
 
Nguyên nhân là do chăn nuôi trên đệm lót sinh thái đã tạo một môi trường có tiểu khí hậu tốt, trong sạch, không ô nhiễm; sự tác động của các vi sinh vật có ích trong đệm lót lên men đã gây ra sự ức chế và tiêu diệt đối với các vi trùng gây bệnh trong chuồng nuôi.
 
 
 
 Chăn nuôi lợn
 
So sánh cụ thể với đàn lợn đối chứng, đàn lợn nuôi trên nền đệm lót sinh thái đã giảm hơn 1/2 số con bị mắc bệnh tiêu chảy, hầu như không có con nào bị mắc bệnh hô hấp, khả năng tăng trọng cũng tốt hơn.
 
Trong khi đó, mô hình chăn nuôi gà thịt, gà đẻ bằng đệm lót sinh thái tại các xã Tân Hiệp, Đồng Tâm, Phồn Xương của huyện Yên Thế với quy mô 12.500m2 chuồng nuôi của 229 hộ tham gia cũng cho những kết quả khả quan.
 
Khi sử dụng nền độn lót lên men vi sinh vật, phân và chất thải được phân hủy thường xuyên, làm cho không khí chuồng nuôi sạch sẽ và khô ráo hơn, từ đó nâng cao tỷ lệ nuôi sống của gà.
 
So với đối chứng, đàn gà chăn nuôi trên nền đệm lót sinh thái đã giảm khoảng 1/3 mắc các bệnh về hô hấp, tiêu hóa và một số bệnh khác.
 
Đánh giá về một số chỉ tiêu kỹ thuật và môi trường cũng cho thấy, hàm lượng khí thải NH3, H2S tại các chuồng nuôi gà, lợn bằng đệm lót sinh thái thấp hơn 2,67-3 lần so với chuồng nuôi không sử dụng nền đệm lót sinh thái, nhờ đó đã giảm đáng kể tình trạng ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi.
 
Ngoài những ưu điểm trên, chăn nuôi công nghệ đệm lót sinh thái còn giúp giảm khoảng 80% công lao động do trong suốt quá trình nuôi người chăn nuôi không phải dọn chuồng; giảm chi phí tiền điện, tiền mua thuốc thú y; không gây ô nhiễm môi trường chuồng nuôi cũng như môi trường xung quanh.
 
Chăn nuôi đệm lót sinh thái còn giúp giữ ấm cho vật nuôi vào mùa đông do vậy sẽ giảm chi phí tiền điện do phải sưởi ấm cho vật nuôi vào mùa đông; phân và nước tiểu của vật nuôi được xử lí ngay tại chuồng nuôi nên không phải xử lí phân mà sử dụng trực tiếp bón cho cây trồng.
 
Hiện tỉnh Bắc Giang có đàn lợn khoảng 1,2 triệu con và đàn gia cầm gần 16 triệu con.
 
Từ những kết quả đạt được của mô hình, thời gian tới tỉnh Bắc Giang sẽ tiếp tục ứng dụng rộng rãi công nghệ đệm lót sinh thái trong chăn nuôi gia súc, gia cầm để góp phần nâng cao giá trị ngành chăn nuôi và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
 
khoahoc.com.vn

HIỆU QUẢ TỪ MÔ HÌNH CHĂN NUÔI LỢN AN TOÀN PHÒNG CHỐNG BỆNH TAI XANH

Nhóm thông tin: 
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở Bắc Giang phát triển mạnh đã từng bước góp phần xóa đói, giảm nghèo và tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi thì dịch bệnh cũng phát sinh, lây lan và gây thiệt hại lớn về kinh tế. Một trong những bệnh thường xảy ra là bệnh Tai xanh hay còn gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrom - PRRS). Bệnh Tai xanh là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho lợn ở mọi giống và lứa tuổi, năm 2010 toàn tỉnh đã có 101.371 con mắc bệnh, chết và tiêu hủy 24.171 con. Dịch xảy ra trên 956 thôn của 151/230 xã, phường, thị trấn, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng cho người chăn nuôi lợn. Bệnh Tai xanh ở lợn do một loại RNA virus gây ra tấn công và diệt các đại thực bào ở phổi (40%) dẫn đến hiện tượng suy giảm sức đề kháng ở lợn, tạo điều kiện cho các virus, vi khuẩn khác gây bệnh nên thường gây thiệt hại nặng nề đối với ngành chăn nuôi lợn. Đối với lợn nái, bệnh gây hậu quả nghiêm trọng như sảy thai, đẻ non, lợn con sinh ra yếu ớt, chết non; tình trạng bệnh âm ỷ gây rối loạn sinh sản như động dục kéo dài, chậm động dục trở lại. Đối với lợn đực giống, bệnh làm giảm số lượng tinh dịch, chất lượng tinh dịch kém, ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai và chất lượng đàn con.
 
 
 
Trong khuôn khổ thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng chống bệnh Tai xanh ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” được hỗ trợ từ nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học của Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Thú y tỉnh đã xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn phòng chống bệnh Tai xanh ở lợn tại 4 hộ ở 4 xã Tân Thịnh huyện Lạng Giang, xã Tăng Tiến huyện Việt Yên, xã Tư Mại huyện Yên Dũng và xã Ngọc Châu huyện Tân Yên, với quy mô nuôi mỗi hộ từ 50-200 lợn nái, lợn thịt. Ở các hộ tham gia mô hình, đàn lợn đều được tiêm phòng 6 loại vắc xin như dịch tả lợn, suyễn lợn, tai xanh, lở mồm long móng, vắc xin kép, vắc xin đa giá phòng viêm phổi lợn; sử dụng các loại thuốc kháng sinh như: Florfenicol, amoxillin, ceftiofur định kỳ vào thức ăn để phòng bệnh viêm phổi kế phát ở lợn; thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc môi trường chuồng trại định kỳ theo đúng qui định của cơ quan chuyên môn. Kết quả cho thấy tại các hộ chăn nuôi lợn, khi áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh Tai xanh thì không xảy ra bệnh Tai xanh, dịch tả lợn, Suyễn lợn, đóng dấu, các dịch bệnh khác được kiểm soát tốt, hiệu quả chăn nuôi lợn được cải thiện đáng kể. Hộ bà Trần Thị Hoa ở thôn Tân Châu xã Ngọc Châu huyện Tân Yên nuôi từ 50 - 100 lợn thịt, trước đây lợn thường hay bị bệnh Tai xanh dẫn đến chăn nuôi thua lỗ, đến nay áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn đã không xảy ra dịch bệnh thu lợi nhuận 40 triệu đồng - 50 triệu đồng/năm. Hộ ông Hoàng Văn Long ở thôn Phúc Long xã Tăng Tiến huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang, nuôi 200 - 300 lợn nái hậu bị áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn đã không xảy ra dịch bệnh thu lợi nhuận hàng trăm triệu đồng/năm.
 
 Phát huy hiệu quả từ mô hình này, năm 2013, Chi cục Thú y đã chỉ đạo các địa phương để nhân rộng mô hình này ở nhiều địa phương trong tỉnh. Đến nay đã có thêm 45 hộ chăn nuôi lợn ở các huyện Hiệp Hòa, Việt Yên, Tân Yên tham gia và hiệu quả đạt được rất khả quan. Tại các tháng đầu năm 2013, các hộ chăn nuôi áp dụng mô hình đều không có lợn bị mắc bệnh Tai xanh, các bệnh khác đều được kiểm soát tốt. Ngoài ra, Chi cục Thú y tỉnh đã phổ biến rộng rãi cho toàn bộ mạng lưới thú y cơ sở, các hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Bắc Giang về hiệu quả của các phác đồ điều trị lợn nghi mắc Tai xanh, mắc viêm đường hô hấp bằng việc sử dụng các loại kháng sinh florfenicol, amoxillin, ceftiofur được lựa chọn từ kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh. Vì vậy, lợn mắc bệnh được phát hiện, xử lý kịp thời, điều trị sớm có tỷ lệ khỏi bệnh cao, do đó trong 6 tháng đầu năm 2013 trên địa bàn tỉnh đã không xảy ra ổ dịch lợn Tai xanh, tạo điều kiện cho người chăn nuôi ổn định tâm lý, yên tâm góp phần phát triển chăn nuôi lợn, tăng thu nhập cho hộ gia đình nông dân./.
 
 Nguyễn Văn Tình (Phòng Quản lý Khoa học)

"HOA NỞ" TRÊN CÁNH ĐỒNG HOANG

Nhóm thông tin: 
Gần chục năm làm ăn ở TP Hồ Chí Minh, anh Thân Văn Hùng quyết định trở về lập nghiệp trên chính mảnh đất quê hương. Những bước đi vững chắc, mạnh dạn và tự tin của anh đã gặt hái được thành công.
 
 
 
Anh Thân Văn Hùng (ngoài cùng bên phải) giới thiệu với khách về trang trại.
 
Bài học từ thất bại
 
Khách đến tham quan trang trại của anh Hùng ở thôn Nguộn, xã Tự Lạn, huyện Việt Yên (Bắc Giang) không khỏi ngạc nhiên bởi màn chào hỏi khá đặc biệt. Thay vì những cái bắt tay chào đón và cũng không để khách kịp phản ứng, một trận mưa nhân tạo từ chiếc vòi phun đặt ngay trước cổng phủ kín cả đoàn. Những giọt nước li ti không đủ làm quần áo ướt sũng nhưng cũng khiến chúng tôi hơi khó chịu dù người bảo vệ nở nụ cười tươi kèm theo lời xin lỗi.
 
Lúc đó, chủ trang trại mới thong thả bước ra nắm chặt bàn tay khách. Nhác trông dáng đi nhanh nhẹn, đôi mắt lấp lánh biết cười và vầng trán rộng thì ông chủ có vẻ trẻ hơn so với tuổi 36 theo lời giới thiệu của Bí thư Huyện đoàn Việt Yên. Bàn uống nước cũng được đặt ngay bên cạnh cổng ra vào.
 
Tranh thủ lúc chủ đang bận pha nước, chúng tôi ngắm trang trại. Mọi thứ ở đây được bố trí khá khoa học nhưng cũng không kém phần lãng mạn với hai hàng liễu rủ thơ mộng trồng dọc bên lối đi. Khu vườn rộng trồng đủ các loại rau xanh mướt. Hàng chuối tươi tốt đứng xếp hàng đều tăm tắp bên cạnh bờ ao với đàn vịt trắng nhởn nhơ đùa dưới làn nước trong veo. Khu văn phòng, nhà ở công nhân lợp mái tôn màu xanh ôm lấy góc sân rộng lát gạch hồng.
 
Anh Hùng cười hiền lành giải thích đây là "màn chào hỏi" bắt buộc. Ngay từ trước khi vào đến cổng, cả đoàn người, xe đã phải lội qua một hào nước. Qua cổng, việc phun nước vào khách là để khử trùng, hạn chế dịch bệnh xâm nhập vào trang trại. Còn nếu là công nhân hoặc khách muốn đi thăm các dãy chuồng nuôi thì phải tắm và thay quần áo tại nhà tắm được bố trí ở cổng.
 
Tiện lời, anh kể cách đây vài năm, do không chú ý đến vấn đề này mà cả đàn lợn  bị dịch bệnh, thiệt hại gần 3 tỷ đồng. Từ "bài học" đắt giá đó, trang trại hạn chế tiếp khách và thực hiện nghiêm ngặt việc khử trùng với người lạ khi vào thăm.
 
"Dụng võ" ở quê hương
 
Bên chén trà, chúng tôi bị cuốn vào câu chuyện đời, chuyện làm giàu của Thân Văn Hùng. Anh là con út trong gia đình có 7 người con ở thôn Phúc Lâm (xã Hoàng Ninh - Việt Yên). "Giàu con út, khó con út", cậu bé Hùng chỉ được học hết cấp II rồi bươn chải vào tận TP Hồ Chí Minh ở nhờ nhà người thân rồi vừa đi học, vừa đi làm kiếm sống.
 
Năm 1994, Hùng tốt nghiệp khoa cơ khí của một trường nghề và xin được làm thuê tại một xưởng sản xuất nhỏ. Là người nhanh nhẹn, cần cù, chịu khó, anh được tin tưởng và giao nhiệm vụ quản lý công nhân trong xưởng. Nhận thấy nghề cơ khí đang có "đất dụng võ" ở quê hương mình, cuối năm 2001 anh quyết định trở về nhà. Số vốn tích cóp được trong thời gian ở miền Nam cộng với  vay mượn của bạn bè, người thân anh có được 70 triệu đồng mở một cửa hàng gia công cơ khí nhỏ và thuê thêm 2 công nhân nữa.
 
Ban đầu chỉ làm nhỏ lẻ, khách đặt gì làm nấy, khi thì ít nan cửa, lúc làm cánh cổng sắt hoặc vài đồ lặt vặt cho mấy người làm nghề vận tải. Với tính cần cù, cẩn thận lại thêm "hoa tay", những sản phẩm của anh luôn được khách hàng đánh giá cao, xưởng cơ khí ngày càng phát triển. Đến nay, xưởng được mở rộng, đầu tư máy móc hiện đại, tạo việc làm thường xuyên cho 10 lao động với thu nhập bình quân 3,5-4 triệu đồng/ người/tháng.
 
Theo anh Hùng, trong làm ăn kinh tế thì yếu tố may mắn góp phần không nhỏ cho thành công của mỗi người. Cái may của anh chính là đã đầu tư đúng thời điểm. Đó là khi giá đất đang sốt sình sịch thì anh bỏ vốn vào lĩnh vực này, không tiết lộ con số cụ thể nhưng hẳn là số tiền lời anh thu về không hề nhỏ.
 
Cái may nữa là anh đã biết rút lui kịp thời khi thị trường bất động sản bắt đầu đóng băng để bảo toàn đồng vốn của mình. Nhưng cái được lớn hơn là thông qua việc làm  khung sắt cho một số trang trại lợn giống, anh tìm ra hướng làm ăn mới. Ban đầu anh cũng băn khoăn bởi vốn đầu tư cho lĩnh vực này tương đối lớn, khả năng rủi ro cao.
 
 
 
 
Mặt khác, từ trước đến nay anh chỉ quen với sắt, nhôm, máy hàn, máy đục… chứ chăm sóc lợn anh chưa hề ngó qua. Nhưng suy đi tính lại anh quyết tâm làm bằng được. Năm 2007, anh nhận chuyển nhượng hơn 24 nghìn m2 đất ở thôn Nguộn (xã Tự Lạn, Việt Yên) và bắt tay xây dựng trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản.
 
Làm chủ kỹ thuật, hạn chế rủi ro
 
Khoát tay chỉ một vòng trang trại anh Hùng cho biết lúc đầu, khu vực này hầu như bỏ hoang, đất đai cằn cỗi, khá nhiều thùng vũng. Anh phải thuê máy xúc, máy ủi ngày đêm san lấp lấy mặt bằng. Cùng đó, anh được sự hỗ trợ của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam trong việc cung cấp con giống, thức ăn, thuốc vệ sinh, cử cán bộ kỹ thuật giám sát toàn bộ quá trình sinh sản, phát triển đàn lợn và bao tiêu sản phẩm… Nhẩm lại, anh đã đầu tư hơn 15 tỷ đồng để "cánh đồng hoang" khi xưa bây giờ trở thành một khu chăn nuôi hiện đại vào bậc nhất nhì trong tỉnh. Anh gọi đùa đây là "bệnh viện phụ sản" cho lợn với các khu riêng biệt như khu phối giống, khu chờ đẻ, hậu sản…
 
Mỗi công nhân ở đây là một "bác sĩ chuyên khoa" hằng ngày chăm sóc, theo dõi từng biểu hiện nhỏ nhất của mỗi con lợn để xử lý kịp thời. Trang trại của anh hiện có khoảng 30 công nhân như thế được bố trí ở trong trang trại với khu nhà ở sạch sẽ, có đầy đủ ti vi và các đồ dùng khác chuyên làm nhiệm vụ chăm sóc cho hơn 1.200 lợn nái sinh sản.
 
Ngoài ra, anh Hùng còn xây dựng hẳn một ngôi nhà hai tầng, có cả phòng ka-ra-ô-kê, bên ngoài có sân cầu lông, bàn bi-a, bóng bàn để cho công nhân sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể thao. Ngoài ăn nghỉ tại trang trại, mỗi người còn được hưởng mức thu nhập bình quân 4 triệu đồng/người/tháng, lao động tay nghề cao 5-6 triệu đồng/tháng. "Khi công nhân coi trang trại như nhà của mình thì họ sẽ gắn bó hết mình và điều đó giúp cho trang trại phát triển". Anh Hùng tâm sự.
 
Chăn nuôi là ngành có mức độ rủi ro lớn nhưng ngoài năm đầu tiên bị ảnh hưởng do dịch bệnh còn lại hầu như năm nào trang trại của anh cũng cho doanh thu khoảng 6,5-7 tỷ đồng. Anh Hùng cho rằng, yếu tố phòng dịch chính là điều kiện quan trọng nhất quyết định thành công trong chăn nuôi nên anh triệt để áp dụng biện pháp tiêm phòng và ngăn ngừa dịch bệnh từ xa.
 
Trên cơ sở thành công hiện nay, anh đang tập trung mở thêm một trang trại mới ở xã Hương Mai (Việt Yên) với diện tích hơn 34 nghìn m2, dự kiến chăn nuôi khoảng 1.200 con lợn nái sinh sản nữa.
 
Nguyễn Trường (Báo BG)

MÔ HÌNH CHĂN NUÔI LỢN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Nhóm thông tin: 
Trong những ngày nắng nóng vừa qua không ai ngờ rằng trang trại chăn nuôi lợn của anh Nguyễn Văn Hồng, xã Vân Hà huyện Việt Yên lại hầu như không cảm nhận được mùi hôi từ chất thải của đàn lợn gần 300 con.
 
 
 
Mô hình nuôi lợn trên đệm lót sinh thái.
 
Phân và nước tiểu của lợn được xử lý ngay tại chuồng bằng đệm lót sinh thái mà không cần qua hệ thống hầm biogas, ao lắng lọc và thải ra môi trường bên ngoài.
 
Anh Hồng tâm sự “tôi biết đến mô hình chăn nuôi lợn này từ một người quen ở Hà Nam, sau khi được mục sở thị và hướng dẫn của anh ấy tôi quyết định đầu tư trang trại ở nhà theo mô hình của anh”. Tận dụng hệ thống chuồng trại đã được xây dựng khá căn bản từ trước, anh cải tạo nền chuồng đôi chút và phủ lớp đệm lót dày khoảng 30-40cm. Thay vì nuôi heo trên chuồng sàn hoặc chuồng xi-măng kết hợp với hầm biogas đã được đánh giá là phương pháp tối ưu, thì nay chỉ cần nuôi lợn trên đệm lót. Với chuồng có diện tích 30m2, anh thả nuôi từ 22 đến 27 con lợn. Thành phần của đệm lót gồm mùn cưa, trấu (sẵn có tại địa phương) và dung dịch được pha chế từ chế phẩm sinh học có tên Balaza N01. Đệm lót được tạo bằng nhiều lớp và khi dùng tay bóp có cảm giác mát tay, độ ẩm vừa đủ, không rỉ nước. Nhiệt độ bên trên đệm lót giữ ổn định từ 30 đến 30oC. Đệm lót có chứa một quần thể vi sinh vật có khả năng phân giải mạnh chất hữu cơ nên có thể phân giải tốt phân và nước tiểu. Việc phân giải sẽ diễn ra tốt hơn khi đệm lót được lợn đào bới, trộn đều thường xuyên.
 
Thêm một điều lạ nữa là đàn lợn từ giai đoạn cai sữa đến xuất bán không cần tốn công tắm rửa. Một câu hỏi đặt ra là chất thải bám trên thân thể heo lâu ngày sẽ như thế nào? Những con lợn trong chuồng tự do di chuyển, bơi xới đệm, nằm lăn hoặc đùa giỡn cùng nhau thoải mái. Trong quá trình vận động tự nhiên, các chất bám tạm thời trên thân lợn sẽ nhanh chóng tróc ra, nên lợn sẽ không dơ bẩn hoặc có cảm giác ngứa ngáy khó chịu. Nếu thời tiết nắng nóng, anh Hồng cho hệ thống phun sương tự động để làm mát đàn lợn. Cũng chính vì không tắm rửa nên lợn tiêu hao năng lượng ít, ăn ít hơn và tỷ lệ nạc cao hơn so với nuôi theo cách truyền thống. Anh Hồng tâm sự: Nói thật, mấy lứa vừa rồi, thương lái thấy lợn của tôi là “khoái” ngay. Nhờ vậy, giá lợn hơi của tôi luôn được thương lái mua với giá cao hơn thị trường từ 200 ngàn đến 250 ngàn đồng/tạ chứ không còn bị o ép như trước.
 
Anh Hồng tâm sự thêm: Mật độ chăn nuôi càng dày đặc nên không thể chăn nuôi theo cách cũ vì như thế sẽ không bảo đảm môi trường, khu vực xung quanh cũng bị “nặng mùi” khó chịu, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Anh Hồng nhận định: Nuôi lợn trên đệm lót vừa giảm công, giảm nước, giảm chi phí thức ăn mà heo thành phẩm lại có giá cao. Để heo siêng năng đào bới, trộn đều đệm lót, tôi rải thêm một số ngao, hến trên đệm.
 
Theo anh Hồng, đệm lót có thể sử dụng trong vài năm. Người chăn nuôi chỉ cần bổ sung thêm 1 lớp đệm lót và dung dịch men. Các vi sinh vật có lợi trong đệm lót giúp hạn chế một số bệnh liên quan đến hô hấp, tụ huyết trùng, phó thương hàn ở lợn và thúc đẩy nhanh sự tiêu hóa. Đặc biệt là bệnh ho ở lợn giảm đến 90%. Tuy nhiên, vẫn tuân thủ quy định tiêm phòng bắt buộc đối với các bệnh nguy hiểm như dịch tả, lở mồm long móng, tai xanh nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh cho đàn lợn.
 
Nguyễn Thùy Lâm