Chăn nuôi-Gia súc

KỸ THUẬT NUÔI HEO RỪNG THUẦN CHỦNG

Nhóm thông tin: 
Vài năm trở lại đây, ở một số tỉnh ở Đông Nam Bộ như Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Tp.HCM “mọc” lên những địa chủ nuôi heo rừng, có nơi còn nuôi với số lượng cả trăm con; còn nếu nói về số lượng nuôi lẻ tẻ vài con trong gia đình làm kiểng cũng không ít. Vì nhu cầu và giá cả của thị trường đã thu hút nhiều người đầu tư.
 
I. Giống và đặc điểm giống
 
Tên gọi: Heo rừng là giống heo hoang dã đang được thuần hóa ở Thái Lan, Việt Nam. Heo rừng, thường có hai nhóm giống: Nhóm giống mặt dài và nhóm giống mặt ngắn.
 
Vóc dáng:
 
Heo rừng cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, hơi gầy, dài đòn, lưng thẳng, bụng thon, chân dài, nhỏ và móng nhọn, cổ dài, đầu nhỏ, mõm dài và nhọn, tai nhỏ vểnh và thính, mũi rất thính và khỏe, da lông màu hung nâu, hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có 3 ngọn, lông dọc theo sống lưng và cổ dày, dài và cứng hơn... Vai thường cao hơn mông, đuôi nhỏ, ngắn, chỉ dài đến khoeo. Con đực có răng nanh phát triển, con cái có 2 dãy vú, mỗi dãy 5 núm vú phát triển và nổi rõ.
 
Sinh trưởng phát triển và sinh sản:
 
Heo rừng thường đẻ mỗi năm 2 lứa, mỗi lứa 5-10 con, lứa đầu (con so) 3-5 con, lứa sau (con rạ) đẻ nhiều hơn (7-10 con). Trọng lượng heo sơ sinh bình quân 0,5-0,9 kg/con. Heo con có bộ lông sọc dưa (vệt lông màu vàng chạy dọc thân trên nền da màu đen hoặc nâu). Khi heo con trên 3 tháng tuổi, các vệt sọc dưa này không còn nữa. Trọng lượng bình quân lúc trưởng thành, con đực nặng 80- 100 kg, con cái nặng 50-70 kg...
 
Heo rừng 7-8 tháng tuổi, thể trọng 30-40 kg (với heo cái có thể cho phối giống, heo đực giống có thể cho phối giống trễ hơn 1 -2 tháng). Thời gian mang thai cũng như heo nhà (khoảng 114-115 ngày). Thời gian đẻ (từ con đầu đến con cuối) 1 - 2 giờ. Quá trình đẻ diễn ra tự nhiên, không cần sự giúp đỡ hoặc can thiệp của con người.
 
II. Chọn giống và phối giống
 
Chọn giống:
 
Chọn những con đầu thanh, ngực sâu, mình nở, hoạt bát, lưng thẳng, bụng gọn, bốn chân chắc khỏe, bộ phận sinh dục phát triển và hoạt động tốt. Nếu có điều kiện nên chọn lọc qua đời trước (dòng, giống bố mẹ, ông bà...), qua bản thân (ngoại hình, khả năng thích nghi, khả năng SX...) và qua đời sau.
 
Phối giống và thời điểm phối giống thích hợp:
 
Chu kỳ động dục của heo rừng là 21 ngày, thời gian động dục kéo dài 3-5 ngày. Thời điểm phối giống thích hợp vào cuối ngày thứ 2 hoặc đầu ngày thứ 3 (tùy theo giống, tuổi) cho nên cần theo dõi biểu hiện của heo lên giống. Khi âm hộ chuyển từ màu hồng tươi sang màu hồng tái, có nếp nhăn và dịch nhờn tiết ra nhiều, tai chĩa về phía trước, có phản xạ đứng im (mê ì) là thời điểm phối giống thích hợp nhất.
 
Bỏ qua 1-2 lần động dục đầu tiên, vì cơ thể chưa hoàn thiện, trứng rụng ít, phối giống, đậu thai hiệu quả thấp. Khi heo cái có dấu hiệu động dục ta cho heo đực tiếp xúc với heo cái. Heo đực sẽ phối giống liên tục, bất kể ngày đêm đến khi nào heo cái không chịu nữa mới thôi. Có thể cho phối kép 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát (hoặc ngược lại). Sau 21 ngày, heo cái không động dục trở lại, có thể heo cái đã có bầu.
 
III. Chuồng trại
 
Chuồng trại rất đơn giản, tuy nhiên, phải nắm vững một số đặc điểm và tập tính của heo rừng để bố trí chuồng trại. Nên chọn chỗ đất cao và thoát nước tốt để nuôi. Chỗ nuôi nên có nguồn nước sạch, không những cung cấp đủ nước cho heo uống mà quan trọng hơn là nó sẽ duy trì được hệ thực vật phong phú và giữ được độ ấm thích hợp cho heo rừng.
 
Chuồng trại càng cách xa khu dân cư và đường sá càng tốt. Bản năng hoang dã đã đưa chúng vào tình trạng hết sức cảnh giác và luôn hoảng hốt bỏ chạy khi nghe có tiếng động.
 
Ta có thể nuôi heo rừng theo kiểu thả rông trong những khu vực có cây xanh, có rào che chắn xung quanh. Điều quan trọng là hệ thống hàng rào phải hết sức chắc chắn. Ta có thể vây lưới B40 thành các vườn nuôi tự nhiên, có móng kiên cố (vì heo rừng hay đào hang), mỗi vườn nuôi rộng 50-100m2 (tùy theo khả năng đất đai) trong đó có chuồng nuôi rộng 20-30m2 nuôi khoảng 4-5 heo cái trưởng thành, chúng sẽ sống và sinh sản trực tiếp trong khu vực này. Heo đực giống nuôi riêng, mỗi con một vườn, mỗi vườn nuôi rộng 40-50m2 trong đó có chuồng nuôi rộng 5-10m2. Chuồng nuôi, có mái che mưa, che nắng, cao trên 2,5m, nền đất tự nhiên, có độ dốc 2-3%... đảm bảo thông thoáng, sạch sẽ, mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông, tránh nắng nóng, mưa tạt, gió lùa...
 
Với quy mô ban đầu nuôi 10 con (2 đực/8 cái) cần có 3 vườn nuôi. Hai vườn nuôi heo cái sinh sản, mỗi vườn rộng 50-100m2 trong đó có 2 chuồng nuôi, mỗi chuồng rộng 20-30m2. Một vườn nuôi heo đực giống rộng 40-50m2 trong đó có chuồng nuôi rộng 5-10m2...
 
IV. Thức ăn và khẩu phần thức ăn
 
Bao gồm, thức ăn thô xanh (các loại cỏ, cây, mầm cây, rễ cây ), thức ăn tinh (hạt ngũ cốc, củ quả), thức ăn bổ sung muối khoáng như tro bếp, đất sét, hỗn hợp đá liếm... Thực tế cho thấy, heo rừng thường tìm đến nương rẫy mới đốt kiếm tro, đất sét để ăn...
 
Khẩu phần thúc ăn cho heo rừng thông thường: 70% là rau, củ, quả các loại (có thể sản xuất tại trang trại), 30% là cám, gạo, ngũ cốc các loại, hèm bia, bã đậu... Mỗi ngày cho ăn 2 lần (sáng, chiều), một con heo lai trưởng thành tiêu thụ hết khoảng 2-3 kg thức ăn các loại.
 
Thức ăn cho heo rừng, do con người cung cấp có thể thiếu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng và sinh tố... cho nên ngoài việc bổ sung thức ăn tinh giàu đạm, muối, sinh tố, cần thiết phải bổ sung thêm đá liếm cho heo rừng liếm tự do (lưu ý để nơi khô ráo, mát mẻ). Hỗn hợp đá liếm bổ sung khoáng có thể mua hay tự trộn theo tỷ lệ (muối ăn 100g; sắt sun phát 100g: đồng sun phát 50g; diêm sinh 100g; vôi tôi 1.000g... đất sét vừa đủ 3kg) cho heo liếm tự do cũng chỉ hết khoảng 20- 25 gam/con/ngày.
 
Thức ăn của heo rừng chủ yếu là thực vật. Không nên lạm dụng thức ăn giàu dinh dưỡng để nuôi heo rừng vì nó sẽ làm cho phẩm chất thịt của heo rừng bị biến đổi và nhiều khi làm cho heo bị bệnh rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy...
 
Heo ăn thức ăn xanh tươi ít uống nước, tuy nhiên cũng cần có đủ nước sạch và mát cho heo uống tự do. Hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, dọn bỏ thức ăn thừa, rửa sạch máng ăn, máng uống...
 
V. Chăm sóc nuôi dưỡng
 
Heo đực giống:
 
Có ý nghĩa quan trọng trong việc gây đàn. Quản lý và chăm sóc tốt 1 heo đực có thể phối 5-10 heo cái. Heo đực giống phải nuôi riêng và có chế độ bồi dưỡng, nhất là thức ăn tinh giàu đạm, khoáng, sinh tố. Ngày phối giống nên bổ sung thêm thức ăn tinh giàu dinh dưỡng, 1 -2 quả trứng gà, muối khoáng, sinh tố cho ăn tự do.
 
Heo cái giống:
 
Heo rừng mắn đẻ và khéo nuôi con (nuôi con rất giỏi). Trong tự nhiên, khi đẻ heo mẹ tự chăm sóc, nuôi dưỡng con cái và tự tách bày khi con lớn.
 
Heo rừng sinh sản tự nhiên quanh năm. Thời gian mang thai cũng 3 tháng, 3 tuần, 3 ngày (114 -115 ngày) thì đẻ.
 
Đối với heo nái mang thai, 2 tháng đầu mang thai cho ăn khẩu phần thức ăn bình thường rau, củ, quả hạt ngũ cốc các loại... có thể bổ sung thêm thức ăn tinh hỗn hợp, 15g muối, 20g khoáng mỗi ngày. Sau 2 tháng đến khi đẻ cần thiết phải bổ sung thêm thức ăn tinh giàu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng, sinh tố... Ngày heo đẻ có thể cho heo ăn cháo loãng, ít muối, ít rau xanh để đề phòng sốt sữa.
 
Đối với heo nái nuôi con, khẩu phần thức ăn phải đảm bảo số lượng, chất lượng và chủng loại... Khi heo con được 1,5-2 tháng tuổi, đã ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cho mẹ ăn khẩu phần ăn bình thường. Không nên phối giống cho heo mẹ động dục trong thời kỳ nuôi con, vì khó thụ thai hoặc thụ thai nhưng số lượng và chất lượng heo con sinh ra không đạt yêu cầu.
 
Heo con:
 
Heo con không cần đỡ đẻ, cắt rốn, chỉ khoảng 30 phút đến 1 tiếng đồng hồ heo con đã có thể đứng dậy bú mẹ. 15- 20 ngày chạy lon ton và bắt đầu tập ăn cỏ, cây: Heo con được 1,5-2 tháng tuổi đã cứng cáp, ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cai sữa, tách bầy làm giống.
 
Heo sơ sinh có thể đạt 300- 500 gr/con, 1 tháng tuổi 3-5 kg, 2 tháng tuổi 8-10 kg, 6 tháng tuổi 25-30 kg, 12 tháng tuổi có thể đạt 60-70% trọng lượng trưởng thành. Với cách nuôi và chế độ dinh dưỡng thông thường, sau 6 tháng nuôi, heo con có thể đạt trọng lượng 25- 30 kg và bán thịt.Để heo con sinh trưởng, phát triển tốt, nên tạo điều kiện cho heo con bú sữa đầu càng sớm, cảng tốt, chậm nhất 1 -2 giờ sau khi sinh. Hàng ngày, nên cho heo con vận động và tiếp xúc gần gũi với con người.
 
VI. Công tác Thú y
 
Heo rừng là động vật hoang dã mới được thuần hóa, nên sức đề kháng cao, ít dịch bệnh. Tuy nhiên, heo rừng cũng thường bị một số bệnh như Dịch tả, tiêu chảy, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, bệnh sán lá, bệnh ghẻ lở và một số bệnh thông thường khác...
 
Bệnh về đường tiêu hoá (như sình bụng, đầy hơi, đau bụng, tiêu chảy, ngộ độc thức ăn...): Khi heo rừng mắc một số bệnh về đường tiêu hoá có thể dùng các loại thuốc trị đau bụng, sình bụng, đầy hơi, khó tiêu cho uống hay chích hoặc có thể dùng 5-10 kg rau dừa dại cho heo ăn hoặc có thể bổ sung thức ăn, nước uống đắng, chát như ổi xanh, cà rốt, rễ cau, rễ dừa... cũng có thể khỏi. Để phòng bệnh, thức ăn phải đảm bảo vệ sinh, đầy đủ dinh dưỡng và không nên sử dụng các loại thức ăn hôi thối, ẩm mốc...
 
Chấn thương cơ học: Chấn thương nhỏ thì rửa sạch và bôi thuốc sát trùng, chấn thương lớn thì rửa sạch, sát trùng trước và sau khi khâu, chích kháng sinh tổng hợp như Ampicyline, Tetracyline hoặc (Peniciline + Streptomycine)... Da heo rừng có khả năng tái sinh nhanh nên chóng lành.
 
Sưng phổi: Heo bị sưng phổi thường sốt cao, biếng ăn, bỏ ăn. Điều trị bằng kháng sinh tổng hợp.
 
Táo bón: Có thể cho uống thuốc nhuận tràng hoặc cho ăn thức ăn nhuận tràng...
 
Ký sinh trùng đường ruột: Heo bị nhiễm ký sinh trùng đường ruột thường còi cọc, chậm lớn, trong phân có ấu trùng giun, sán. Cần thiết phải xổ sán lãi cho heo.
 
Ký sinh trùng ngoài da: Ve (bét), mò, ghẻ, ruồi muỗi... bám trên da hút máu và truyền bệnh ít khi xảy ra. Do đặc tính hoang dã nên heo rừng không sợ muỗi hay côn trùng khác tấn công. Tuy nhiên, khi heo bị bệnh ký sinh trùng ngoài da, ta có thể dùng thuốc sát trùng bôi hay xịt đều có tác dụng tốt. Để phòng bệnh ký sinh trùng ngoài da, ta nên định kỳ vệ sinh sát trùng chuồng trại và môi trường xung quanh sạch sẽ.
 
Giá trị và thị trường:
 
Giống heo này có những ưu việt: Thịt thơm ngon rất đặc trưng, da mỏng và giòn, nhiều nạc, ít mỡ, hàm lượng cholesterol thấp người tiêu dùng rất ưa chuộng nên bán được giá cao... Chi phí đầu tư thấp, tiêu tốn thức ăn ít, thời gian nuôi ngắn, dễ nuôi, sinh sản tốt, tỷ lệ sống cao và ít bệnh...
 
Theo Trung tâm khuyến nông Quốc Gia
 

BIỆN PHÁP NÂNG CAO TỶ LỆ NẠC TRONG CHĂN NUÔI LỢN

Nhóm thông tin: 
Tỷ lệ nạc là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng thịt lợn, đồng thời cũng là một yếu tố
 
quyết định tới năng suất và hiệu quả chăn nuôi. Để nâng cao tỷ lệ nạc (nâng cao chất l ượng thịt lợn) cần trú trọng các yếu tố sau đây:
 
1. Chọn giống:
 
- Tỷ lệ nạc trong thịt lợn là một yếu tố có tính di truyền cao, tỷ lệ nạc cao hay thấp chủ yếu phụ thuộc vào các giống lợn khác nhau: Lợn nội: 30-35%; Lợn lai: 35-45%; Lợn ngoại: 45-55%, do đó cần chọn các giống lợn ngoại để nuôi, hiện nay người ta đã nuôi các giống lợn ngoại lai từ 3-5 máu ngoại vừa có sức tăng trọng cao và chất lượng thịt được nâng lên (vì tỷ lệ nạc cao).
 
2. Chế độ dinh dưỡng: có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng thịt, đó là:
 
- Chất lượng thức ăn: Thức ăn cho lợn thịt cung cấp đầy đủ các chất đạm (đặc biệt là các axít Amin không thay thế như Lyzine,…vv), sẽ cho tỷ lệ nạc cao hơn; Ngược lại nếu thức ăn dư thừa quá nhiều về năng lượng cũng sẽ làm giảm việc sản xuất thịt nạc; Để có nguồn cung thức cho lợn thịt đạt yêu cầu đủ chất đạm, không dư thừa năng lượng, hộ cơ sở chăn nuôi sử dụng thức ăn cho lợn thịt cần phốn trộn, sử dụng theo đúng hướng dẫn của các Nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi.
 
- Thời điểm xuất bán, giết mổ lợn thịt: Tuổi giết mổ lợn thịt cũng có ảnh hưởng tới tỷ lệ nạc, giai đoạn từ 65-70kg trở đi đối với các giống lợn lai, 80-90kg trở đi đối với các giống lợn ngoại thì quá trình tăng trọng và sản xuất thịt chủ yếu theo hướng tích mỡ, thời gian nuôi càng kéo dài thì tỷ lệ nạc càng giảm, do đó nên xuất bán, giết mổ lợn trước các mốc trọng lượng kể trên để có tỷ lệ nạc đạt cao.
 
- Nước uống cho lợn thịt: Có vai trò hết sức quan trọng đối với khả năng tồn tại của sinh vật nói chung, lợn nói riêng, để lợn thiếu nước, các phản ứng sinh hóa trong cơ thể sẽ bị ngưng trệ, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và năng suất chăn nuôi, là tiền đề cho nhiều bệnh phát sinh. Hơn nữa, nước còn đóng vai trò quan trọng trọng việc sản xuất thịt nạc vì cấu trúc của thịt nạc bao gồm nước là chủ yếu (nước chiếm 70%, các chất đạm chiếm 20% và mỡ chiếm 10%), trong khi đó cấu trúc của thịt mỡ ( mỡ chiếm 88%, Đạm chiếm 2% và nước chiếm 10%); Hàm lượng nước trong thịt nạc gấp 7 lần trong thịt mỡ (một minh chứng thực tế cho thấy, nếu sử dụng 1kg thịt nạc làm ruốc bông chỉ thu được khoảng 0,3kg ruốc bông, trong khi đó nếu 1kg mỡ đem rán có thể thu được 0,8-0,9 kg mỡ rán, phần trọng lượng hao đi là do nước bay hơi), do vậy, để phát huy tối đa khả năng sản xuất thịt nạc cần cung cấp đầy đủ nước uống cho lợn thịt, nếu thiếu nước, khả năng tích nạc giảm, khả năng tích mỡ sẽ tăng lên; Nhu cầu nước uống cho lợn thịt ở các giai đoạn.
 
                                                                                                                                                                                                                                      BBT
 

KỸ THUẬT VỖ BÉO BÒ

Nhóm thông tin: 
Hiện nay, nông dân Bến Tre có xu hướng mua bò gầy về vỗ béo để bán bò thịt. Tuy nhiên, nhiều người vẫn lúng túng về kỹ thuật vỗ béo bò để đem lại triệu quả kinh tế cao.
Chọn bò để vỗ bé Bò lý tưởng để nuôi vỗ béo là bò có bộ khung cơ thể càng lớn càng tốt. Loại bò này sẽ đạt được tốc độ tăng trọng khá nhanh. Thời gian cần thiết vỗ béo bò chỉ cần khoảng 2 tháng. Bò cái loại càng gầy, càng xấu có thể mang lại nhiều lợi nhuận ở giai đoạn đầu vỗ béo vì tiêu tốn thức ăn ít. Bò gầy thường mua giá rẻ hơn. Hoặc vỗ béo bò đực tơ lai Sind siêu thịt.
Nhu cầu thức ăn và năng lượng vỗ béo bò: Để bo có tốc độ lớn nhanh nhất thì lượng thức ăn đảm bảo năng lượng cao được ăn vào hàng ngày là 2,5% trọng lượng cơ thể. Ví dụ, bò nặng 200kg cần khoảng 5kg vật chất khô trong một ngày, còn thức ăn thô xơ khoảng 15 - 20kg. Khẩu phần hoàn chỉnh là đủ tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho bò. Bò có thể tự do lựa chọn sau khi đã trộn lẫn hoàn toàn cả hai loại thức ăn tinh và thô với nhau. Phương pháp cho ăn và tập cho bò ăn thức ăn tinh vô cùng quan trọng. Lúc đầu nên cho bò ăn nhiều thức ăn thô xanh, ít thức ăn tinh để bò làm quen với khẩu phần năng lượng cao. Nếu ngay từ đầu bò ăn nhiều thức ăn tinh có thể bị chết do ngộ độc axít (acidosis). Thức ăn thô xanh cần sử dựng kết hợp với thức ăn tinh để tạo ra một khẩu phần ăn hoàn chỉnh.
Phương pháp cho bò ăn: Tốt nhất là trộn vào máng ăn hỗn hợp bao gồm các nguyên liệu như sau: 5 kg mía chặt nhỏ hoặc cỏ xanh chặt nhỏ và 4kg thức ăn tinh hỗn hợp (65% bột khoai mì), rơm để riêng nếu bò muốn ăn và uống nước tự do. Phương pháp vỗ béo sử dụng cây mía chặt nhỏ hoặc cỏ xanh cộng với thức ăn tinh (khoai mì) rất thuận tiện và rẻ tiền. Nguyên liệu thô dùng để phối hợp thức ăn tinh thường không phải nghiện nhỏ trừ ngô (bắp) khi cần được thay thế cho tấm. Phối hợp 100 kg thức ăn trộn bằng xẻng trên nền nhà bằng xi măng, gạch hoặc bê tông. Việc cân đo số lượng thành phần các nguyên liệu thức ăn rất quan trọng, đặc biệt đối với 3% urê có trong khẩu phần. Vì nếu urê vượt quá giới hạn cho phép có thể gây ngộ độc do hàm lượng Amôniăc, vì vậy cần tuân thủ theo sự hướng dẫn khi cân nguyên vật liệu để phối hợp thức ăn cũng như khi cho bò ăn loại khẩu phần này.
Ngoài ra cần giữ vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, thoáng mát về mùa nông, ấm về mùa mưa. Thức ăn phải bảo quản nơi khô ráo, tuân thủ đúng theo quy trình phòng bệnh và định kỳ xổ lãi cho bò.
 
                                                                                                                                                                                                                                     BBT

CÁCH PHỐI TRỘN THỨC ĂN CHO LỢN CON BỊ MẤT MẸ HOẶC MẤT SỮA

Nhóm thông tin: 
Giai đoạn đầu 7-10 ngy tuổi: dùng sữa bột tốt 97%, mật ong 2% và 1% Premix khoáng sinh tế. Tất cả trộn đều cho ăn 25-40g/con (tuỳ theo giống lợn) với 150cc nhóc ấm đun sôi. Cho ăn mỗi ngy 6 bữa vào lúc 6-9- 12-15-18-21 giờ trong ngày. Trong 2 ngày đầu, lợn con chưa quen có thể dùng găng tay (tránh sờ trực tiếp bàn tay vào lợn) bắt từng con, lấy lông gà sạch quệt hỗn hợp thức ăn ny vào miệng lợn con. Sang ngày thứ 4 cho ăn bằng thìa. Khi bón cho từng con hạ dần thìa xuống đĩa để lợn con liếm láp tha và sau đó tự liếm trên đĩa, không cần phải bón nữa, lợn con sẽ tự đến đĩa ăn. Chỉ cần huấn luyện vi con biết ăn, những con khác sẽ bắt chước đến ăn đĩa. Nếu lượng lợn con nhiều có thể cho ăn bằng máng nông rộng hơn.
- Giai đoạn 11-20 ngy: lấy 1/3 sữa bột đóng túi trộn với 2/3 bột m trộn đều rồi ho với nước nấu chín, để nguội trộn với 1% Premix khoáng sinh tố (hoặc thay bằng 100-200g rau xanh non thái nhỏ và 0,5% bột khoáng). Giai đoạn này mỗi con cho ăn 110-250g hỗn hợp chia làm 5 bữa vào 6-10-14-18-20 giờ trong ngày.
- Giai đoạn từ 40-60 ngy: Nơi nào có yêu cầu nuôi lợn con có khối lượng lớn hơn thì nuôi tiếp đến 60 ngy. Dùng cám gạo loại 1 (bỏ trấu bổi) 58% + 8% bột đỗ tương + 4% bột cá nhạt trộn đều, nấu chín dạng lỏng sệt, để nguội bớt, rồi trộn với 1% Premix khoáng sinh tố hoặc thay bằng 10% bột ngô bằng bỗng rượu. Cho ăn hỗn hợp ny trên mỗi con 200-350g/ngày, chia làm 4-5 bữa/ngày. Ngoài ra có thể dùng 45% cám gạo tốt + 30% bột ngô nấu thật nhừ để nguội rồi trộn với 25% thức ăn đậm đặc dính cho lợn con tập ăn của các hăng Proconco, Higro CP... để nuôi lợn con giai đoạn này.
4. Phòng trị bệnh
- Thường xuyên giữ ô úm, nền chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Sau mỗi bữa ăn rửa máng sạch sẽ. Sau mỗi lứa xuất chuồng cọ rửa chuồng sạch sẽ, tiu độc ô úm, khe kẽ các dóng ngăn, nền chuồng v để trống chuồng từ 3- 5 ngày mới nhập đàn mới.
- Khi cho đn lợn ăn, quan sát phát hiện những con lờ đờ ăn kém, chậm chạp để kịp thời bắt nhốt ring theo dõi chữa trị và bồi dưỡng tốt hơn.
- Tiêm phòng: 20 ngày tiêm vaccin dịch tả, 25 ngày tiêm vaccin đóng dấu -tụ huyết trùng, 30 ngày tẩy giun sán, 35 ngày tiêm nhắc lại vaccin dịch tả.
 
                                                                                                                                                                                                                                     BBT

ĐỂ GIA SÚC KHÔNG BỊ NGỘ ĐỘC LÁ SẮN

Nhóm thông tin: 
Trâu, bò, lợn đều rất thích ăn lá sắn. Nhưng nếu để chúng ăn nhiều sẽ bị ngộ độc vì lá sắn chứa chất độc axit cianhydric, nồng độ cao trên 320 mg/kg lá, vì vậy khi gia súc ăn nhiều sẽ bị ngộ độc nặng, có thể tử vong.
 
Để làm giảm nồng độ axit cianhydric, người chăn nuôi cần lấy lá sắn đem ủ chua, sau một thời gian từ 70 ngày trở lên sẽ làm giảm nồng độ axit tới mức cho phép là 0,32mg/kg lá, khi đó mới cho gia súc ăn sẽ an toàn tuyệt đối. Lá sắn khi ủ chua cho gia súc ăn rất có lợi cho cơ thể nhất là những con gia súc vừa sinh sản được ăn lá sắn ủ chua sẽ tiết nhiều sữa cho con bú.
 
Cách ủ chua lá sắn như sau: Cứ 100 kg lá sắn đem về cắt ngắn từ 1,5 đến 2 cm, trộn với khoảng 5 đến 8 kg cám gạo hay bột mỳ. Tuỳ theo số lượng lá sắn, ta đào hố vừa đủ chứa, sau khi trộn lá sắn và cám gạo đều ta rải các lớp lá sắn lên. Cứ 20 cm một lớp, sau đó dùng chân dẫm lên nén thật chặt. Xếp xong các lớp lá sắn, lấp đất đầy trên hố dầm chặt theo kiểu mu rùa. Khoảng nửa tháng sau khi lá sắn xẹp xuống ta đắp đất tiếp theo cho đầy như cũ. Khoảng từ 80 ngày trở lên là lấy lá sắn cho gia súc ăn được. Khi đó lá sắn có mùi thơm gia súc thích ăn, đảm bảo an toàn tuyệt đối.
 
Theo Báo Nông Nghiệp Việt Nam

KỸ THUẬT NUÔI BÒ SINH SẢN VÀ BÊ LAI

Nhóm thông tin: 
I. Chọn bò cái sinh sản
 
1. Ngoại hình
 
- Dáng nhanh nhẹn, da mỏng, lông thưa, thuần tính, hiền lành, có sự hài hoà giữa các phần đầu và cổ, thân và vai.
 
- Đầu thanh nhẹ, mõm rộng, mũi to, hàm răng đều đặn, trắng bóng; cổ dài vừa phải và thanh, da cổ có nhiều nếp nhăn.
 
- Ngực sâu, rộng: Xương sườn mở rộng, cong về phía sau, bụng to nhưng không sệ, bốn chân thẳng và mảnh, móng khít, mông nở, lưng ít dốc.
 
- Bầu vú phát triển về phía sau, 4 núm vú đều, dài vừa phải, không có vú kẹ, da vú mỏng, đàn hồi, tĩnh mạch vú nổi rõ, phân nhánh ngoằn nghoèo.
 
2. Chọn bò cái sinh sản
 
Bò có khả năng đẻ sớm và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ngắn.
 
Bò động dục lần đầu khoảng 18-21 tháng tuổi, từ 27-30 tháng tuổi có thể đẻ lứa đầu.
 
Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ngắn: Từ 12-14 tháng đẻ 1 con bê.
 
II. Phối giống cho bò
 
1. Phát hiện động dục và phối giống
 
Muốn bò cái khi phối giống đạt tỷ lệ thụ tinh cao, phát hiện kịp thời bò cái động dục. Bò cái động dục có biểu hiện: bò kêu rống, đi lại bồn chồn, phá chuồng, kém ăn hoặc bỏ ăn, hưng phấn cao độ, thích nhảy lên lưng con khác sau đó đứng yên để con khác nhảy lên, âm hộ hơi mở, có màu đỏ hồng, niêm dịch từ âm hộ chảy ra như nhựa chuối.
 
2. Phối giống cho bò
 
Có 2 phương pháp:
 
- Thụ tinh nhân tạo: Dùng tinh cọng rạ đông lạnh và dụng cụ để dẫn tinh viên phối giống nhân tạo vào bò cái. Bê lai đẻ ra do thụ tinh nhân tạo sẽ đẹp và to hơn so với dùng bò đực cho phối giống trực tiếp.
 
- Dùng bò đực các giống Zebu thuần hoặc lai cho nhảy trực tiếp: ở những vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện phối giống nhân tạo. Tốt nhất là bò đực giống lai F2 có 3/4 máu của 1 trong các giống bò Red Sindhi, Sahiwal, Brahman.
 
III. Chăm sóc, nuôi dưỡng bò đẻ và bê
 
1. Chăm sóc bò chửa
 
Bò cái đẻ cần được ăn uống đầy đủ, mỗi ngày 30-35 kg cỏ tươi, 2 kg rơm ủ, 1kg thức ăn tinh (ngô, cám,…), 25- 30gr muối, 30-40 gr bột xương. Không bắt bò làm những việc nặng như: cày bừa, kéo xe,… Tránh xua đuổi mạnh đối với bò đang có chửa tháng thứ 3, tháng thứ 7, thứ 8 và thứ 9.
 
2. Đỡ đẻ cho bò
 
Thời gian mang thai trung bình của bò là 281 ngày.
 
- Triệu chứng bò sắp đẻ: Bò có hiện tượng sụt mông, bầu vú căng, đầu vú chĩa về hai bên, niêm dịch treo lòng thòng ở mép âm môn, đau bụng, đứng lên nằm xuống, chân cào đất, ỉa, đái nhiều lần, khi bắt đầu đẻ bọc ối thò ra ngoài trước.
 
- Đỡ đẻ cho bò: Trong trường hợp bò đẻ bình thường (thai thuận) không cần can thiệp hoặc chỉ cần hỗ trợ cho bò cái bằng cách dùng tay kéo nhẹ thai ra. Cắt dây rốn dài khoảng 10-12 cm (không cần buộc dây rốn), sát trùng bằng cồn Iốt 5%. Lau rớt, rãi trong mũi, mồm bê, để bò mẹ tự liếm con. Bóc móng để bê con đỡ trơn trượt khi mới tập đi. Vệ sinh phần thân sau và bầu vú bò mẹ, cho bò mẹ uống nước thêm ít muối, cám và nước ấm. Trường hợp đẻ khó phải gọi cán bộ thú y can thiệp kịp thời.
 
3. Chăm sóc, nuôi dưỡng bò đẻ và bê con
 
3.1. Đối với bò mẹ
 
- 15- 20 ngày đầu sau khi đẻ cho bò mẹ ăn cháo (1,0- 1,5 kg thức ăn tinh/con/ngày) và 25-30 gr muối ăn, 30-40 gr bột xương, có đủ cỏ non xanh ăn tại chuồng.
 
- Những ngày sau, trong suốt thời gian nuôi con, một ngày cho bò mẹ ăn 30 kg cỏ tươi, 2-3 kg rơm ủ, 1-2 kg cám hoặc thức ăn hỗn hợp để bò mẹ phục hồi sức khoẻ, nhanh động dục lại để phối giống.
 
3.2. Đối với bê
 
- Từ khi sinh ra đến 30 ngày tuổi bê được nuôi ở nhà, cạnh bò mẹ. Luôn giữ ấm cho bê, tránh gió lùa, chỗ bê nằm khô, sạch.
 
- Trên 1 tháng tuổi, chăn thả theo bò mẹ ở bãi gần chuồng, tập cho bê ăn thức ăn tinh.
 
- Từ 3-6 tháng tuổi: cho 5-10 kg cỏ tươi và 0,2 kg thức ăn tinh hỗn hợp. Tập cho bê ăn cỏ khô. Nên cai sữa bê vào khoảng 6 tháng tuổi.
 
- Từ 6- 24 tháng tuổi, chăn thả là chính, mỗi ngày cho ăn thêm 10-20 kg cỏ tươi, ngọn mía, cây ngô non. Mùa thiếu cỏ có thể cho ăn thêm 2-4 kg cỏ khô một ngày.
 
IV. Kỹ thuật ủ rơm với urê
 
Đặc điểm bộ máy tiêu hoá của trâu, bò, dê có thể chuyển hoá đạm vô cơ của urê thành nguồn đạm cho cơ thể, vì vậy nên áp dụng phương pháp ủ rơm với urê để bổ xung đạm cho bò.
 
- Cho urê, muối, vôi bột hoà tan trong nước rồi dùng bình tưới phun đều lên rơm khô theo từng lớp, sau đó ủ rơm trong bao nilông hoặc bể gạch đậy kín. Sau 7 ngày lấy dần cho bò ăn. Tỷ lệ urê 4kg cho 100 kg rơm khô.
 
V. Phòng và trị bệnh ký sinh trùng cho bò, bê
 
1. Ký sinh trùng ngoài da (ve, ruồi, muỗi, ghẻ,…)
 
- Dùng 1,25 g Neguvôn + 0,03 lít dầu ăn + 0,5 thìa xà phòng bột cho vào 1 lít nước rồi lắc cho thuốc tan đều. Lấy giẻ sạch tẩm dung dịch thuốc đã pha sát lên toàn thân trâu bò.
 
2. Giun sán
 
- Thuốc Lêvavét để tẩy giun tròn. Cứ 1 gói 5gr dùng cho 13-20kg trọng lượng hơi của bò, bê.
 
- Thuốc viên Fasinex 900 để tẩy sán lá gan. 1 viên cho 80-100 kg trọng lượng hơi của bò, bê, nhét trực tiếp vào miệng cho bò nuốt.
 
BBT
 

GIÀU LÊN NHỜ NUÔI LỢN SIÊU NẠC

Nhóm thông tin: 
Nói đến chăn nuôi theo phương thức sản xuất hàng hóa không còn xa lạ với nhiều người, nhưng ở quê tôi - Danh Thắng - Hiệp Hòa, thì anh Nguyễn Văn Nghiệp là người đi đầu, nói cho chính xác là người duy nhất đang thành công trong nuôi lợn siêu nạc.
 
Là một thanh niên nông thôn, học xong phổ thông, hoàn thành nghĩa vụ quân sự phục vụ tại ngũ từ năm 1985 ở biên giới Cao Bằng; cuối năm 1988, anh xuất ngũ về địa phương. Anh lập gia đình rồi ở riêng như bao thanh niên khác. Là một đảng viên trẻ được kết nạp từ trong quân đội, anh xông xáo, lăn lộn sớm khuya để đưa kinh tế gia đình đi lên. Hai vợ chồng, hai đứa con nhỏ với mảnh vườn và 3 sào ruộng, vài con lợn mỗi lứa, anh xoay sở tất bật quanh năm cũng chỉ đủ ăn, dư dật chẳng đáng là bao.
 
Năm 1995, anh mạnh dạn nhận thầu 1ha đồi sỏi khô cằn ở Đống Vồng một vùng đồi cao nhất xã. Thời kỳ đó đang có phong trào trồng vải thiều, anh vay vốn tập trung trồng vải. Đến khi vải thiều cho thu hoạch thì giá quá rẻ, 10 năm không thu đủ vốn. Mày mò học hỏi, tìm tòi, anh được bạn bè vẽ cho nhiều cách làm kinh tế. Qua tham khảo, anh thấy nuôi lợn siêu nạc có nhiều điểm phù hợp với điều kiện của anh. Năm 2006, anh vay vốn, đầu tư xây dựng chuồng trại, mua lợn giống. Khả năng có hạn, lại mới làm, anh chỉ mua 15 con lợn giống. Sau 8 tháng lợn bắt đầu đẻ. Lợn con đẻ ra bao nhiêu anh nuôi hết để bán lợn thịt. Năm 2007, anh mua thêm 5 con lợn nái. Năm 2008, đàn lợn nái của anh tăng lên 25 con, cho thu nhập hơn 30 tấn lợn thịt. Cuối năm anh đầu tư thêm 500 triệu, mở rộng chuồng trại. Đầu năm 2009, anh đưa đàn lợn nái lên 30 con, có 5 con nái hậu bị. Cả năm anh xuất 46 tấn lợn thịt. Trọng lượng xuất chuồng tăng gần gấp rưỡi năm 2008, nhưng thu nhập không bằng năm 2008, chỉ được gần 200 triệu đồng, do phải chi phí vào khâu phòng chống bệnh dịch nhiều.
 
Khác với những người có vốn, đầu tư lớn ngay từ đầu. Anh đầu tư theo kiểu “sâu đo”, có vốn đến đâu đầu tư đến đó, không phải vay vốn nhiều, phù hợp với khả năng của mình. Cuối năm 2009, anh đầu tư xây dựng thêm 500m2 chuồng trại và tăng thêm 5 nái hậu bị. Chuồng trại của anh xây dựng theo đúng quy chuẩn kỹ thuật của một trang trại chăn nuôi tạm gọi là “hiện đại” ở nông thôn. Đặc biệt là về vệ sinh an toàn sinh học, từ đôi ủng, đôi găng tay đến môi trường xung quanh. Hai hầm Bi-ô-ga của nhà anh đủ ga cho một máy nổ chạy suốt 10 giờ liền, cung cấp điện đủ cho yều cầu của công việc, không kể lượng ga dùng cho đun nấu.
 
Tổng vốn đầu tư của anh hiện nay là 1.700 triệu đồng. Hai vợ chồng anh thuê thêm 2 người làm với mức lương 2.000.000đ/tháng cả sinh hoạt. Thời vụ vẫn bảo đảm cho “công nhân” làm tốt việc cày, cấy, gặt hái, trồng mầu của gia đình họ.
 
Khi tôi đến thăm, anh vừa xuất một xe lợn. Anh đưa cho tôi xem quyển sổ vợ anh ghi: 2.181kg x 29.500đ = 64.300.000đ. Từ tháng 01/2010 đến hôm nay anh đã xuất 20 tấn lợn thịt, giá bình quân 30.000đ/kg.
 
Tổng đàn lợn của gia đình anh hiện có 30 nái đẻ (có 6 nái đang nuôi con), 5 nái hậu bị, 100 con lợn sữa, 150 con lợn thịt. Mỗi tháng anh cho 6 nái đẻ. Bình quân 10 lợn con một đàn. Đến bây giờ thì anh điều chỉnh cho lợn đẻ ban ngày, chứ không để đẻ đêm như thời kỳ đầu, có đêm hai vợ chồng phải khênh chõng ra chuồng lợn ngủ, thay nhau trông lợn đẻ, anh nói với tôi như vậy. Cách thức đầu tư của anh Nghiệp đang được nhiều hộ chăn nuôi khác làm theo./.
 
Nguyễn Thế Tính
 

NUÔI HEO RỪNG AN TOÀN BẰNG THẢO DƯỢC

Nhóm thông tin: 
Anh Đoàn Phan Dinh, ở ấp An Hòa, xã An Khánh, huyện Châu Thành (Đồng Tháp) nuôi heo rừng cho ngủ trên đệm lót sinh học và ăn cây thảo dược.
 

Anh Dinh đang tăng cường cho heo rừng ăn các loại thảo dược để có sức đề kháng tốt.
Nuôi heo hiện nay ở ĐBSCL đang trong tâm bão dịch tả, vậy mà trang trại gần 300 con heo rừng của anh Đoàn Phan Dinh, ở ấp An Hòa, xã An Khánh, huyện Châu Thành (Đồng Tháp) sống khỏe không bị dịch bệnh nhờ cách nuôi theo khoa học cho heo ngủ đệm lót sinh học và ăn thảo dược.
 
Anh Dinh chia sẻ, từ khi ĐBSCL xuất hiện dịch tả heo Châu Phi ở diện rộng làm tôi rất lo lắng không ăn ngủ được, không biết bệnh xuất hiện lúc nào ở đàn heo rừng nuôi của mình. Chính vì vậy anh nhận ra ý thức “phòng bệnh sẽ tốt hơn là trị bệnh” từ đó trang trại hơn 2.000m2 của anh khép kín không cho người lạ ra vào.
 
Người chăm sóc heo đảm bảo đồng phục, áo, quần, ủng, khẩu trang khi ra vào chuồng heo. Để đảm bảo an toàn, không cho lây bệnh từ bên ngoài vào chuồng trại anh luôn tuân thủ mỗi ngày phun thuốc sát trùng 3-4 lần, kết hợp rải vôi xung quanh.
 
Cái khác lạ mô hình của anh Dinh, là dành riêng 1 công đất chuyên trồng các loại rau thảo dược như đinh lăng, lược vàng, tam thất, chùm ngây, bìm bịp…để hái vào cho heo ăn giúp tiêu hóa tốt và tăng cường sức đề kháng.
Đặc biệt, bệnh này lây từ nhiều nguồn, nên anh không cho heo ăn các loại nông sản thừa ở bên ngoài, cũng không cho heo ăn cộng lục bình cắt từ sông rạch mang lên. Không cho heo uống nước sông mà chuyển sang uống nước máy hoặc nước giếng. 
 
Cho heo ăn các loại thức ăn từ bả hèm, tấm cám, các loại được nấu chín và các loại cây trồng xung quanh trong vườn nhà như chuối cây, rau muốn, rau lang.
 
Bên cạnh đó anh áp dụng toàn bộ trại heo rừng nuôi trên đệm lót sinh học và tuân thủ tiêm phòng dịch bệnh theo định kỳ cho đàn heo. Nhờ cách nuôi đó đến giờ anh Dinh khẳng định, đàn heo của các hộ dân nuôi trong xóm có dịch tả heo Châu Phi phải đem đi tiêu hủy, nhưng ngược lại trại heo của anh an toàn.
 
Tính đến nay trại heo của anh khỏe mạnh và chưa có con heo nào bị bệnh dịch tả heo Châu Phi, đồng thời anh xuất bán heo đều đặn khi có khách đặt mua.
 
 
Mô hình nuôi heo rừng trên đệm lót sinh học và cho ăn thức ăn thảo dược.
Anh Dinh kể, tôi sinh ra là đã mê heo, nhắc đến heo tôi nói từ sáng đến chiều cũng chưa hết chuyện tâm quyết với heo. Chính vì vậy học hết cấp 2, nên quyết tâm thi vào ĐH ngành Chăn nuôi thú y. Khi ra trường là về nhà lập nghiệp mở trại nuôi heo liền, đặc biệt chọn heo rừng lai. 
 
Do ban đầu ít vốn và chưa có kinh nghiệm nhiều nên chỉ nuôi gần chục con heo rừng theo dạng thả rông sống hoan dã với diện tích vài trăm mét, sung quanh có bao lưới bê 40 không cho heo ra ngoài. Lúc đó heo rừng là đối tượng nuôi khá mới ở địa phương, nhưng lại dùng cách rất cổ điển để làm, nên chi phí không cao, ai cũng làm được.
 
 
Mỗi năm thu nhập nuôi heo rừng liên kết của anh Dinh lãi hơn 1 tỷ đồng.
Nhờ cách nuôi đó mà đến nay, đàn heo của anh Dinh phát triển đã tăng lên khoảng 300 con lớn nhỏ với diện tích 2 công đất nuôi chuồng kết hợp nuôi thả lang, trong đó có 70 con heo nái cho sinh sản quanh năm. Trung bình mỗi tháng anh Dinh xuất bán khoảng 100 con heo giống và heo thịt.
 
Không dừng ở việc mở trang trại nuôi heo mà anh còn đứng ra liên kết các hộ dân chăn nuôi heo rừng ở 13 tỉnh thành ĐBSCL, cung cấp giống, kỹ thuật và cuối cùng bao tiêu heo cho nông dân. Bình quân 1 tháng anh thu mua khoảng 200 con để giao bán cho các quán ăn và nhà hàng ở các tỉnh miền Tây và TP.HCM. Bình quân, mỗi năm từ nguồn nuôi heo liên kết và trại sản xuất heo của anh cho thu nhập khoảng 1 tỷ đồng.
 
Từ thành công trên, năm 2016 anh Đoàn Phan Dinh đã thành lập Cty TNHH TM-DV Heo Rừng, được ngành kiểm lâm tỉnh Đồng Tháp cấp phép do chính anh làm giám đốc. Thực hiện ước mơ là liên kết nuôi heo rừng sạch và đồng hành cùng người nông dân làm giàu theo phương châm người nuôi có lời, người ăn có lợi.
 
Hiện nay mô hình liên kết nuôi heo rừng sạch và đồng hành cùng người nông dân làm giàu ở ĐBSCL.
Theo lý giải của anh Dinh, hiện nay dịch tả heo Châu Phi hoành hành làm mất lòng tin của người tiêu dùng, giá heo không ổn định, đầu ra có thể gặp khó… chính vì vậy anh đã mạnh dạn tổ chức lại sản xuất tại gia đình, anh Dinh quyết định mở rộng sản xuất thông qua việc tìm kiếm một cách làm ăn mới, đưa giống heo chất lượng đến với nông dân.
 
Anh bán heo giống cho người nuôi, sau đó sẽ cho người tư vấn kỹ thuật đến từ hộ nuôi hướng dẫn các biện pháp phòng bệnh. Lắp hệ thống camera miễn phí cho các hộ dân nhằm để theo dõi qua giám sát từ xa, cách thức cho ăn, tiêm phòng vắc-xin… Thu mua lại heo thịt hoặc heo giống với giá cao hơn so với giá thị trường vài chục ngàn đồng/kg.
 
Bình quân mỗi hộ nuôi heo rừng liên kết, đầu tư vốn ban đầu khoảng 17-20 triệu đồng (chuồng và con giống thường 3 cái 1 đực) nuôi trong vòng 18 tháng thu lãi khoảng 50-60 triệu đồng.
Đặc biệt, Cty Heo Rừng cam kết, sau 3 năm nuôi, người dân không sinh lợi, có quyền trả lại heo và lấy tiền đã đầu tư về. Từ những cam kết rất thực tế trên, đến nay toàn vùng ĐBSCL đã có gần 500 hộ tham gia mô hình với anh, trong đó có gần 3.000 con heo nái đang cho sinh sản quanh năm.
 
Định hướng phát triển của anh Dinh, sẽ tiếp tục mở rộng liên kết và bao tiêu sản phẩm cho người dân cả ĐBSCL. Bên cạnh đó, anh đang hoàn thành các thủ tục nuôi heo hướng VietGap. Đảm bảo nuôi heo rừng theo tiêu chí sạch từ chuồng nuôi đến bàn ăn và không gây ảnh hưởng môi trường. 
 
anh-5-anh-dinh-trong-cay-thao-duoc-de-phuc-vu-cho-heo-an-1.jpg
 
Anh Dinh trồng cây thảo dược để phục vụ cho heo ăn.
 
Không dừng ở đó anh Dinh còn mở các cửa hàng cung cấp heo sạch ở khắp các tỉnh ĐBSCL, và còn ra các sản phẩm thịt heo đóng gói như thịt heo tươi ướp gia vị, heo quay, xong khói, gác bếp, thịt heo rừng một nắng.
 
Theo Nongnghiep.vn

NUÔI DÊ VỖ BÉO 70 KG/CON, KHÔNG LO ĐẦU RA

Nhóm thông tin: 
Xã Lan Giới, huyện Tân Yên (Bắc Giang) có nhiều nông dân mạnh dạn đầu tư vốn nuôi dê theo phương thức vỗ béo tại chuồng với quy mô lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Điển hình là gia đình chị Nguyễn Thị Nga ở thôn Đá Ong có khoảng 400 con dê lai Bách Thảo, dê lai Boer. Theo chị Nga, mỗi năm chị nhập khoảng 600 con dê đực từ 15 - 20kg về nuôi. 
 
Sau ba tháng vỗ béo tại chuồng đạt trọng lượng từ 35 - 40 kg/con chị xuất bán một lứa.Mỗi lứa xuất khoảng 200 con với giá bán 130 - 150 nghìn đồng/kg, thu về gần 300 triệu/lứa. Sau khi đã trừ hết các khoản chi phí, một năm xuất bán được 3 lứa cho thu nhập lên tới gần 1 tỷ đồng.
 
 

 
Chị Nga chăm sóc đàn dê.
Chị Nga cho biết, nhờ nuôi dê vỗ béo mà gia đình chị có nguồn thu nhập khá. Để có đàn dê khỏe mạnh, sinh trưởng và phát triển tốt thì việc lựa chọn giống dê để vỗ béo là rất quan trọng. Dê đực phải là những con có ngoại hình khỏe mạnh, vạm vỡ, bốn chân vững chắc, nhanh nhẹn và hai tinh hoàn to đều. Dê cái có thân hình nở nang, cân đối, bộ lông bóng mượt, ngực sâu, bầu vú nở rộng.
 
Bên cạnh đó chị cũng rất chú trọng tới việc thiết kế chuồng trại sao cho thuận tiện trong quá trình vệ sinh. Mặt chuồng cách sàn từ 0,7 – 1m. Sàn chuồng làm bằng tre, nứa tạo những khe hở đủ để phân dê lọt xuống. Dưới sàn chuồng thường căng lưới dưới mỗi ô nuôi để hứng phân, vừa sạch sẽ lại tiết kiệm được công lao động.
 
Nhận thấy hiệu quả từ mô hình nuôi dê vỗ béo của gia đình chị Nga, nhiều hộ dân trong xã đã tìm hiểu và học tập kinh nghiệm nuôi.
 
Cùng xã Lan Giới, gia đình ông Nguyễn Văn Thận ở thôn Bãi Trại cũng là hộ nuôi dê có tiếng. Ông bắt đầu học nuôi dê từ năm 2016, đến nay quy mô đàn luôn duy trì 100 con.
 
Nhiều hộ làm giàu nhờ nuôi dê vỗ béo.
Ông Thận cho biết, do tận dụng được nguồn thức ăn phong phú của địa phương nên nuôi dê không tốn kém mà lại cho hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt giống dê lai Bách Thảo có khả năng tăng trọng tốt, con trưởng thành có thể nặng tới 60 - 70kg. Với giá bán bình quân 130.000 đồng/kg dê thịt như hiện nay thì mô hình vỗ béo dê đã thực sự khẳng định hiệu quả rõ rệt.
 
Cũng theo ông Thận, muốn chăn nuôi dê hiệu quả thì người nuôi phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng chuồng trại và phòng chống dịch bệnh. Chuồng nuôi dê phải luôn khô ráo và thoáng mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông. Thường xuyên làm công tác vệ sinh chuồng trại, tiêu độc khử trùng, tiêm phòng dịch bệnh.
 
Nhờ có kinh nghiệm chăn nuôi, phòng bệnh mà đàn dê của gia đình ông và nhiều hộ dân trong xã phát triển có chất lượng tốt, sản phẩm dê khi xuất bán được các thương lái ở các tỉnh Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Nguyên đến tận nơi thu mua.
 
Theo ông Khổng Trọng Thủy, cán bộ Thú y xã Lan Giới, khoảng 3 năm trở lại đây đàn dê trên địa bàn đã tăng lên đáng kể, có nhiều hộ mở rộng quy mô từ vài chục con lên tới vài trăm con do nhận thấy điều kiện tự nhiên nơi đây rất thích hợp để vỗ béo dê lấy thịt.
 
Theo Nongnghiep.vn

HƯỚNG DẪN NÔNG DÂN CHẾ BIẾN THỨC ĂN CHO ĐẠI GIA SÚC

Nhóm thông tin: 
Trung tâm Công nghệ sinh học Chăn nuôi (Phân viện Chăn nuôi Nam Bộ) phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Ninh Thuận triển khai mô hình chế biến thức ăn (ủ rơm với urê và ủ chua thân bắp) cho đại gia súc.Mô hình được thực hiện trên địa bàn 2 xã Phước Sơn và Phước Vinh, quy mô 60 hộ dân tham gia. Mục đích của dự án nhằm tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp để dự trữ thức ăn cho gia súc trong mùa khô hạn, mùa mưa; tăng hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn; tăng tỷ lệ tiêu hóa thức ăn của gia súc; giúp người chăn nuôi nắm được quy trình chế biến thức ăn.
 

Nông dân ủ rơm với urê làm thức ăn cho gia súc.
Tham gia mô hình các hộ được hỗ trợ 100% vật tư như rỉ mật đường, phân urê, muối hột, men vi sinh, túi ủ kịp thời.
 
Tháng 3/2019, Trung tâm Khuyến nông Ninh Thuận đã hướng dẫn cho 60 hộ tham gia mô hình kỹ thuật ủ chua thức ăn cho gia súc, trong đó tập huấn kỹ thuật ủ rơm với urê cho 30 hộ, các hộ còn lại được tập huấn kỹ thuật ủ chua thân bắp.
 
Đến nay, phần lớn các hộ tham gia mô hình đã nắm rõ kỹ thuật ủ và chủ động ủ thêm thức ăn dự trữ cho gia súc
 
Quy trình ủ rơm với urê như sau:
 
100 kg rơm với 100 lít nước + 4 kg urê + 2 kg rỉ mật đường + 1 kg muối.
 
Hòa tan urê, rỉ mật đường, muối với nước, tưới đều lên rơm theo tỷ lệ như trên, cho vào túi ni lông, nén chặt, cột kín hoặc hố ủ phủ kín. Đối với rơm rời thì sau 7 ngày có thể dùng cho gia súc ăn; đối với rơm cuộn thì sau 15 ngày có thể dùng cho gia súc ăn.
 
Quy trình ủ chua thân bắp như sau:
 
100 kg thân bắp với 5kg rỉ mật đường + 2kg muối ăn + 0,1kg men vi sinh (hoặc 5 - 7kg cám gạo, cám bắp).
 
Băm nhỏ thân cây bắp, phơi héo từ 2 - 5 giờ, trộn đều thân bắp với rỉ mật đường, muối ăn, men vi sinh với tỷ lệ nêu trên, nén chặt và cột kín vào túi ủ ni lông hoặc hố ủ, sau 21 ngày là sử dụng được.
 
Bước đầu mô hình được đánh giá cao và được nhiều hộ dân đặc biệt quan tâm. Bà con nông dân sau khi được tập huấn kỹ thuật đã nắm bắt và từng bước áp dụng các tiến bộ khoa học vào trong quá trình ủ như: Pha trộn nguyên liệu với vật tư đúng theo tỷ lệ hướng dẫn, đặt túi ủ đúng vị trí thuận lợi trong việc cho ăn cũng như tránh hư hại nguyên liệu...
 
Kết quả 60 hộ/2 xã tham gia mô hình đều thực hiện tốt, nhiều hộ còn đặt mua thêm nguyên vật liệu để thực hiện ủ, đặc biệt có hộ đã ủ chua thân bắp với khối lượng 5 tấn.
 
Theo Nongnghiep.vn