Chăn nuôi-Gia súc

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ TOÀN DIỆN CHẤT THẢI CHĂN NUÔI QUY MÔ TRANG TRẠI

Nhóm thông tin: 
Về lý do tại sao các trang trại chăn nuôi lớn đã lắp đặt các hầm biogas nhưng vẫn gây ô nhiễm, dự án LCASP đã chỉ ra nguyên nhân chính do vận hành bảo dưỡng và sửa chữa các hầm biogas quy mô lớn gây tốn kém,...
 
 

 
Dự án LCASP không khuyến cáo trang trại chăn nuôi xây lắp hầm biogas quy mô lớn
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi Việt Nam phát triển mạnh theo xu hướng tăng cường thâm canh trong các hệ thống chăn nuôi và chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ sang chăn nuôi lớn hơn, từ những khu vực đông dân cư đến những khu chăn nuôi tập trung, cách xa khu dân cư. Số lượng các hộ chăn nuôi nhỏ giảm đi rõ rệt và các trang trại chăn nuôi quy mô lớn ngày càng nhiều hơn. Cùng với xu hướng đó, vấn nạn ô nhiễm môi trường chăn nuôi ngày càng trở nên nghiêm trọng, gây bức xúc cho người dân sinh sống trong khu vực quanh trang trại cũng như các cấp chính quyền địa phương.
 
Mặc dù các trang trại chăn nuôi đều có áp dụng các giải pháp xử lý môi trường (phổ biến là xây lắp các công trình biogas quy mô lớn), song ô nhiễm vẫn ngày càng gia tăng, đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước. Qua nghiên cứu của dự án Hỗ trợ Nông nghiệp các bon thấp (LCASP), nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường chăn nuôi nghiêm trọng ở nông thôn hiện nay đã được xác định là do các trang trại chăn nuôi lợn đã sử dụng quá nhiều nước để làm vệ sinh và làm mát lợn dẫn đến phân lợn lỏng không thể thu gom, chỉ còn cách xả thải trực tiếp ra nguồn nước hoặc gián tiếp thông qua các hầm biogas.
 
Về lý do tại sao các trang trại chăn nuôi lớn đã lắp đặt các hầm biogas nhưng vẫn gây ô nhiễm, dự án LCASP đã chỉ ra nguyên nhân chính do vận hành bảo dưỡng và sửa chữa các hầm biogas quy mô lớn gây tốn kém chi phí cho chủ trang trại trong khi lợi ích thu về từ sử dụng các sản phẩm của hầm biogas (khí ga, phụ phẩm) là không đang kể.
 
Do vậy, các chủ trang trại thường đối phó một cách hình thức với các cấp chính quyền địa phương để được phép chăn nuôi và không quan tâm vận hành các công trình biogas đúng cách. Mặt khác, công trình biogas có dung tích và công suất xử lý môi trường cố định trong khi quy mô chăn nuôi của chủ trang trại thường xuyên thay đổi. Một số hạn chế cơ bản của các hầm biogas là nếu xây hầm biogas có dung tích vừa đủ so với nhu cầu sử dụng khí gas thì sẽ bị quá tải khi tăng quy mô chăn nuôi và ngược lại, nếu xây hầm biogas có dung tích lớn thì sẽ bị thừa khí ga gây ô nhiễm không khí.
 
Tóm lại, công nghệ khí sinh học ở Việt Nam còn nhiều hạn chế và chưa bền vững do chưa đem lại lợi ích kinh tế và hiệu quả môi trường cho các chủ trang trại chăn nuôi. Do vậy, công nghệ khí sinh học không thể được xem là biện pháp chính để xử lý toàn diện môi trường chăn nuôi quy mô trang trại tại nước ta hiện nay.
 
Trong những năm gần đây, trước sức ép về giải quyết ô nhiễm môi trường, một số trang trại chăn nuôi lớn đã sử dụng các máy ép phân để tách chất thải rắn từ phân lỏng để sản xuất phân hữu cơ và giảm ô nhiễm. Công nghệ này có một số ưu điểm so với công nghệ khí sinh học là: (i) chi phí đầu tư tương đương hoặc thấp hơn đầu tư công trình biogas; (ii) cần ít diện tích mặt bằng để lắp đặt; (iii) thời gian chạy máy có thể thay đổi phù hợp với biến động của quy mô chăn nuôi, không gây quá tải công suất xử lý như đối với hầm biogas; (iv) nhu cầu thị trường đầu ra của phân chuồng rất lớn, khả năng thu hồi vốn đầu tư cao hơn. Tuy nhiên, công nghệ này vẫn chưa được người dân áp dụng phổ biến là do công nghệ mới được giới thiệu ở Việt Nam và thị trường đầu ra của phân bón hữu cơ từ chất thải chăn nuôi còn hạn chế vì một số nguyên nhân.
 
Nước thải sau biogas là một nguồn phân bón hữu cơ rất có giá trị. Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới chứng minh rằng sử dụng nước thải sau biogas tưới cho các loại cây trồng khác nhau đều dẫn đến tăng năng suất cây trồng, tiết kiệm chi phí phân bón. Tuy nhiên, khảo sát của dự án LCASP cho thấy rất nhiều trang trại chăn nuôi không sử dụng nguồn nước thải sau biogas rất có giá trị này để tưới cho cây trồng mà xả thải trực tiếp xuống nguồn nước.
 
Lý do chủ yếu là do nhiều trang trại không biết cách xử lý hòa loãng trước khi sử dụng hoặc sử dụng nước thải sau biogas chưa bị phân hủy hết nên đã làm cho cây trồng bị chết hoặc sinh trưởng không tốt. Việc nghiên cứu các biện pháp để sử dụng nước thải sau biogas cho trồng trọt có ý nghĩa vô cùng quan trọng đảm bảo chăn nuôi của các trang trại không gây ô nhiễm nguồn nước theo quy định của QCVN 62-MT:2016/BTNMT.
 
Xuất phát từ những phân tích trên, dự án LCASP đã đề xuất và triển khai thử nghiệm mô hình xử lý toàn diện chất thải chăn nuôi quy mô trang trại như sau: (i) áp dụng quy trình chăn nuôi giúp giảm bớt lượng nước sử dụng để vệ sinh và làm mát lợn; (ii) lắp đặt hệ thống máy ép phân và các bể lắng nhằm tách bớt phần chất thải rắn ra khỏi nước thải chăn nuôi; (iii) xây lắp bể ủ phân compost tại các trang trại chăn nuôi để sử dụng chất thải rắn sản xuất nguyên liệu phân bón hữu cơ; (iv) xây lắp hầm biogas có dung tích vừa đủ với nhu cầu sử dụng khí gas (để đun nấu, phát điện, sấy phân,...); (v) nước thải chăn nuôi, nước thải sau bioga được đưa đến bể lắng và bể hòa loãng để sử dụng bơm tưới vườn hoặc sử dụng ống dẫn tưới các trang trại trồng trọt ở khu vực lân cận.
 
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và triển khai các mô hình thử nghiệm, dự án LCASP đã đưa ra các cơ sở khoa học nhằm kiến nghị các cấp chính quyền không khuyến cáo các trang trại chăn nuôi xây lắp các hầm biogas quy mô lớn trong bối cảnh không thể sử dụng hết khí gas cho các hoạt động đun nấu, phát điện,... như hiện nay. Kiến nghị Chính phủ cần có chính sách khuyến khích các trang trại chăn nuôi lớn: (i) xây dựng các bể ủ phân compost nhằm tận dụng chất thải chăn nuôi làm phân bón hữu cơ nguyên liệu; (ii) xây dựng các bể chứa nước thải chăn nuôi, nước thải sau biogas và các hệ thống bể lắng, bể hòa loãng, ống dẫn để bơm nước thải chăn nuôi đạt tiêu chuẩn tưới các vườn cây, các trang trại trồng trọt lân cận; (iii) đề nghị các trang trại chăn nuôi phải có diện tích trồng trọt hoặc liên kết với các trang trại trồng trọt lân cận để sử dụng triệt để nước thải chăn nuôi cho trồng trọt, không được phép xả thải xuống nguồn nước.
 
Đề nghị Chính phủ có chính sách hỗ trợ nghiên cứu nhằm: (i) hình thành chuỗi giá trị sản xuất phân bón hữu cơ từ chất thải chăn nuôi; (ii) hoàn thiện công nghệ sử dụng nước thải chăn nuôi, nước thải sau biogas để tưới cho các cây trồng khác nhau nhằm giảm thiểu lượng nước thải chăn nuôi xả thải xuống nguồn nước.
 
Theo TS NGUYỄN THẾ HINH (BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN NÔNG NGHIỆP)

NUÔI DÊ SẠCH THU LÃI HÀNG TRĂM TRIỆU MỖI NĂM

Nhóm thông tin: 
Nhờ sự cần cù, chịu khó, ham học hỏi, anh Bùi Văn Thảo ở xã Ninh Giang (huyện Hoa Lư, Ninh Bình) đã xây dựng thành công mô hình nuôi dê theo chuỗi giá trị đạt hiệu quả kinh tế cao, mỗi năm cho thu lãi trên 200 triệu đồng.
 
 

 
Anh Bùi Văn Thảo bên chuồng dê của gia đình
Anh Thảo kể, năm 2005, sau thời gian đi làm ăn ở trong Nam, vợ chồng anh quyết định trở về quê lập nghiệp. Nhận thấy ven đê thôn Bãi Trữ có nguồn cỏ dồi dào, có thể tận dụng để phát triển chăn nuôi, anh bàn với vợ ra xã mạnh dạn đấu thầu hơn 4.000m2 đất, cải tạo, xây dựng chuồng trại và đầu tư vào chăn nuôi dê.
 
Lúc đầu anh Thảo nuôi 8 cặp dê, nhưng do chưa nắm vững kỹ thuật chăm sóc nên dê bị bệnh chết đến quá nửa. Không nản chí, anh lại “cơm đùm, cơm nắm” đi khắp nơi để học hỏi kỹ thuật chăn nuôi, tìm hiểu sách báo, đồng thời tham gia các lớp tập huấn nuôi dê theo hướng an toàn. Đến nay đàn dê của gia đình anh Thảo lúc nào cũng có trên 100 con bao gồm dê Bách Thảo, dê thịt, dê sữa..
 
Khi được hỏi về bí quyết thành công, anh Thảo cho biết, muốn chăn nuôi theo hướng an toàn thì việc lựa chọn con giống đảm bảo là rất quan trọng, bên cạnh đó 3 tháng 1 lần phải tiêm vắc xin định kỳ.
 
Cũng theo anh Thảo, dê là loài động vật không ưa độ ẩm cao, nên chuồng trại phải đảm bảo sạch sẽ, thông thoáng, tránh nắng nóng và ẩm ướt. Chuồng được anh lát gạch đỏ, vệ sinh hàng ngày. Dưới mỗi chuồng anh còn đầu tư làm hệ thống bể lắng, vừa để tận dụng chất thải của dê làm phân bón, vừa đảm bảo yếu tố môi trường.
 
Để có thức ăn sạch cho đàn dê, ngoài việc chăn thả, anh Thảo còn đầu tư hơn 7.000m2 đất trồng giống cỏ voi. Vì thế chất lượng thịt, sữa dê của gia đình anh luôn thơm ngon. Nhìn đàn dê chen chúc nhau vào chuồng, anh Thảo chia sẻ: “Quê mình chủ yếu là núi đá nên rất thích hợp nuôi dê, nếu so sánh với việc chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò thì dê cho thu nhập cao hơn bởi dê đẻ nhanh, giá cả cũng khá cao”.
 
Mỗi tháng trang trại của anh cung cấp thị trường 100kg dê thịt, 300 lít sữa, với giá 150.000 đồng/kg thịt hơi và 80.000 đồng/lít sữa dê. Năm 2016, sau khi trừ chi phí anh thu lãi trên 200 triệu đồng.
 
Nói về liên kết hộ chăn nuôi dê, anh Thảo cho biết: "Mình là người chăn nuôi nên luôn trăn trở về vấn đề an toàn thực phẩm, nhất là khi sản phẩm dê sạch của gia đình và nhiều hộ dân gặp khó khăn trong tiêu thụ, nên hiệu quả không được như mong muốn...".
 
Do đó, cuối năm 2016, anh Thảo đã lên ý tưởng và đứng ra vận động một số anh em, bạn bè tại địa phương và ở các huyện Yên Mô, Gia Viễn cùng nuôi dê, đầu tư máy móc thiết bị, xây dựng nhà lạnh, thành lập Hợp tác xã Chăn nuôi dê Ninh Bình với 18 thành viên có tổng đàn dê trên 2.000 con do anh làm giám đốc.
 
HTX đã đề ra quy chế hoạt động, trong đó chú trọng nhất à con giống, kỹ thuật nuôi, liên kết tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm. Sản phẩm của hội viên khi xuất chuồng đều phải mang đến khu nhà giết mổ của HTX tiến hành mổ thịt, đóng gói, gắn nhãn mác trước khi đến tay người tiêu dùng.
 
Hiện tại, các sản phẩm như thịt dê đông lạnh, nem dê, sữa dê của HTX không chỉ cung cấp cho thị trường trong tỉnh, mà còn là địa chỉ tin cậy cung cấp nguồn hàng uy tín cho nhiều nhà hàng, khách sạn ở Hà Nội và các tỉnh lân cận.
 
"HTX đã được đã được Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản Ninh Bình cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Tháng 7 vừa qua, HTX cũng được Tổng hội NN-PTNT Việt Nam trao giải thưởng “Thương hiệu vàng Nông nghiệp Việt Nam 2017”. Đây sẽ là tiền đề để HTX có thể tiếp tục phát triển và mở rộng quy mô hơn nữa", anh Thảo phấn khởi cho biết thêm.
 
Theo nongnghiep.vn

NHỮNG NGƯ DÂN 'GÁC CHÈO' NUÔI THỎ THU HƠN 1 TỶ ĐỒNG/NĂM

Nhóm thông tin: 
Với mô hình nuôi thỏ trên diện tích gần 1.000m2, mỗi năm hợp tác xã nuôi thỏ của những ngư dân thôn Đông Yên, xã Kỳ Lợi (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh) thu về hơn 1 tỷ đồng.
 
 

 
HTX nuôi thỏ của ông Long mỗi năm thu về hơn 1 tỷ đồng
Từ bao đời nay, người dân thôn Đông Yên chỉ quen với “ăn gió, nằm sóng” trên những con thuyền ra khơi bám biển. Khi dự án đi qua, họ nhường đất lên vùng tái định cư sinh sống. Không có biển, không có đất nông nghiệp, những lão ngư chỉ quen với việc đánh cá đã nghĩ ra hướng làm giàu trên vùng đất mới, nghề nuôi thỏ.
 
Ông Mai Xuân Long là một trong những người đầu tiên ở thôn Đông Yên mạnh dạn chuyển sang nuôi thỏ. Cách đây 4 năm về trước, ông cũng nhưng bao gia đình khác chuyển lên vùng tái định cư để nhường đất cho dự án Formosa. Cuộc sống mới không có biển, nông nghiệp thì không có đất, hai năm liền gia đình ông không biết làm gì để kiếm kế sinh nhai. Cả nhà chỉ biết ngồi nhìn nhau qua ngày, thỉnh thoảng nhớ nghề, ông lại vác lưới ra biển bủa lưới đánh cá. Sau sự cố môi trường biển, cuộc sống càng trở nên bấp bênh hơn với những ngư dân vốn chỉ quen với con thuyền, tấm lưới.
 
Không thể sống mãi trong vòng luẩn quẩn, tia sáng lóe lên trong một lần ông xem truyền hình về mô hình nuôi thỏ. Thấy nghề nuôi thỏ khá phù hợp với điều kiện gia đình và mang lại hiệu quả kinh tế cao, ông bàn với các lão ngư trong làng chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kế sinh nhai.
 
Để tiết kiệm, hầu hết công việc xây chuồng trại đều do vợ chồng ông Long cùng các thành viên trong HTX dốc sức làm. Tiền mua giống ông cũng phải đi vay mượn khắp làng trên xóm dưới mới đủ mua vài trăm con về thả. Năm 2016, HTX nuôi thỏ được thành lập với tổng số vốn hơn 1 tỷ đồng. Sau hơn 1 năm hoạt động, đến nay HTX đã có 20 thành viên tham gia, trên 500 thỏ sinh sản và hàng ngàn thỏ thịt.
 
Ông Long chia sẻ: “Trước đây, gia đình tôi chủ yếu sống lênh đênh trên biển, quen với việc bắt con tôm, con cá để mưu sinh. Khi nhường đất cho dự án lên vùng tái định cư mới, tôi mất một thời gian khủng hoảng bởi không biết làm gì để nuôi gia đình. Thấy mô hình nuôi thỏ khá hợp lý ở vùng đất này, tôi xách ba lô đi tham quan các mô hình ở các huyện và tỉnh lân cận. Đến khi quyết định làm lại gặp khó khăn về nguồn vốn, cũng may anh em và bạn bè giúp đỡ nhiệt tình nên mọi việc mới êm xuôi.
 
Từ trước tới nay chỉ biết bám biển, khi chuyển sang nuôi thỏ trong tay tôi gần như là con số không, không vốn, không kiến thức, không kinh nghiệm… Vì vậy, tôi phải cố gắng nhiều hơn những người khác, vừa thả nuôi, vừa học hỏi kinh nghiệm qua sách báo và trên mạng, nhất là việc phòng ngừa bệnh cho thỏ nên bước đầu đạt hiệu quả rất khả quan”.
 
Thỏ là loại động vật sinh sản khá nhanh, sau 5 - 6 tháng nuôi thỏ nái bắt đầu sinh sản, mỗi năm có thể cho xuất bán 6 - 8 lứa, mỗi lứa trung bình từ 6 - 10 con. “Chúng tôi vừa mới xuất bán 2,5 tấn thỏ thịt với giá thỏ giống 150.000 - 170.000 đồng/kg, thỏ thịt 75.000 đồng/kg. Năm qua HTX thu về trên 1 tỷ đồng, trừ mọi chi phí lãi 600 - 700 triệu đồng. Dù còn nhiều bỡ ngỡ nhưng bước đầu khá thuận lợi và có đầu ra ổn định như thế là an tâm rồi. Sang năm chúng tôi dự định sẽ mở rộng mô hình hơn nữa, kết nạp thêm một số hộ gia đình cũng có nguyện vọng nuôi”, ông Long phấn khởi.                    
Thỏ là loài động vật mắn đẻ, ít chi phí, chuồng trại khá đơn giản nhưng rất dễ bị bệnh
 
Cũng theo ông Long, thời gian nuôi từ khi thỏ đẻ đến lúc xuất bán khoảng 90 ngày, nếu người nuôi tuân thủ nghiêm ngặt đúng các quy trình kỹ thuật chăn nuôi, phòng bệnh, khi xuất bán thỏ đạt tiêu chuẩn trọng lượng từ 2,3 kg/con trở lên. Những thành viên trong HTX trung bình một tháng xuất được khoảng 700 con thỏ đạt tiêu chuẩn sẽ cho thu lãi 30 triệu đồng/tháng.
 
Nói về kinh nghiệm nuôi thỏ của bản thân, ông Long chia sẻ: “Thỏ là loại động vật mắn đẻ, ít chi phí, chuồng trại khá đơn giản, chỉ bằng tre hoặc lưới sắt nhưng phải cao ráo và sạch sẽ, mùa hè thoáng mát, mùa đông kín ấm. Ngoài ra, thỏ cũng rất dễ bị nhiễm bệnh, trong đó nguy hiểm nhất là bệnh nấm trên thỏ. Khi mắc bệnh này, thỏ chết rất nhanh, người chăn nuôi phải có phương án chăm sóc chu đáo, thường xuyên cho uống thuốc, nhất là khi cho thỏ ăn chú ý không để các loại rau thấm nước và bẩn”.
 
Bà Võ Thị Thìn, Chủ tịch Hội Nông dân thị xã Kỳ Anh cho biết: "Mô hình nuôi thỏ khá phù hợp với quy mô hộ gia đình, mức đầu tư vừa phải, ít rủi ro nên đang được người dân chú trọng phát triển. Điển hình là Hợp tác xã Nuôi thỏ Đông Yên bước đầu đã mang lại hiệu quả. Chúng tôi đang khảo sát, thí điểm nếu thuận lợi sẽ tạo điều kiện về con giống và cách chăm sóc để khuyến khích bà con phát triển nghề này".
 
Theo nongnghiep.vn
 

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG CHĂN NUÔI GIA SÚC: HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Nhóm thông tin: 
Một trong những rủi ro lớn của ngành chăn nuôi hiện nay là phụ thuộc giá cả thị trường bấp bênh, chất lượng sản phẩm không đồng đều, ứng dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế và tình trạng ô nhiễm môi trường. Chăn nuôi theo hướng công nghệ cao bằng việc lựa chọn loại tinh cọng rạ tốt với phương pháp phối giống thụ tinh nhân tạo nhằm tạo ra con giống khỏe mạnh, thừa hưởng gen trội của bố mẹ được coi là hướng phát triển đem đến thành công cao và bền vững. Thực tế cách làm này đã và đang được Trung tâm Khuyến nông Bắc Giang triển khai thực hiện bước đầu đem lại kết quả khả quan trong chăn nuôi gia súc.
 
Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và PTNT, tính đến cuối năm 2016 tổng đàn bò của tỉnh đạt gần 137 nghìn con, trong đó 75% là bò lai Zebu, tập trung nhiều ở các huyện Hiệp Hòa, Lạng Giang, Tân Yên, Việt Yên và Yên Dũng. Tổng đàn trâu trên 51 nghìn con, nuôi nhiều ở huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong chăn nuôi, một trong những yếu tố quan trọng đó là công tác giống. Hàng năm, các dẫn tinh viên trên địa bàn tỉnh đã thực hiện phối trên 40 nghìn liều tinh trâu, bò sản xuất trong nước đã có hiệu quả thực tế trong sản xuất chăn nuôi. Nhằm tiếp tục cải tạo đàn, tăng năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi trâu, bò, Trung tâm KN đã lựa chọn và đưa vào giống mới như bò BBB, Brahman, Charolais, trâu Murrah tại một số địa phương trong tỉnh, bước đầu đã cho kết quả khá khả quan, được người chăn nuôi đón nhận.
 
Minh chứng, năm 2014 Trung tâm KN chuyển giao thành công hai giống trâu bò mới là bò BBB và trâu Murrah. Bà Nguyễn Thị Vạn ở thôn Giang Tân, xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa là hộ tham gia mô hình phối giống bò BBB cho biết, giống có ưu điểm sinh trưởng nhanh, phàm ăn, trọng lượng lúc sơ sinh cao hơn bê nội khoảng 15-20% nên giá bán tăng 8-10 triệu đồng. “Cái được nhất của giống mới này là phối một con đẻ được sinh đôi. Sau 16 tháng tuổi, trọng lượng trung bình đạt khoảng 4 tạ/con, xuất bán gần 64 triệu đồng/2 con” – bà Vạn vui vẻ tâm sự. Còn tại xã Việt Lập, huyện Tân Yên đã có sản phẩm nghé lai được sinh ra nhờ phối giống từ tinh trâu Murrah. Hộ Giáp Văn Tùng ở thôn Ngọc Trai khẳng định, đây là lần đầu tiên gia đình được Trung tâm KN hỗ trợ, giới thiệu đến giống trâu mới Murrah, so với những giống nghé nội khác loài này có tầm vóc to, sức đẫy đà, tỷ lệ thịt cao, phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng hiện nay. Do đó, đến nay hầu hết các hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh đều biết đến giống trâu, bò mới này.
 
Tham quan thực tế về giống bò BBB và trâu Murrah, ông Dương Thanh Tùng – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho rằng, đây là hai giống mới có vóc dáng đẹp, tiềm năng về tỷ lệ thịt cao, chắc, phù hợp với xu thế phát triển của ngành. Do đó mô hình có khả năng nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh.
 
 

 
Bê lai Charrolais sơ sinh trọng lượng đạt gần 31kg tại xã Xuân Hương, Lạng Giang
 
Thực hiện Đề án phát triển chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2016 - 2020, năm 2016 tỉnh tiếp tục giao cho Sở Nông nghiệp và PTNT chỉ đạo cơ quan chuyên môn thực hiện hỗ trợ người chăn nuôi theo Quyết định 50 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, Trung tâm KN là đơn vị trực tiếp triển khai thực hiện hỗ trợ 5.000 liều tinh bò cao sản nhập ngoại, hỗ trợ ni tơ bảo quản, găng tay và ống gen đi kèm. Tại 05 huyện triển khai là Lạng Giang, Hiệp Hòa, Tân Yên, Việt Yên và Yên Dũng là nơi có phong trào chăn nuôi bò phát triển mạnh, người dân có kinh nghiệm chăn nuôi. Mặc dù trong quá trình triển khai gặp một số khó khăn do giống mới, thủ tục hồ sơ phức tạp... nhưng nhờ sự nỗ lực cố gắng của cán bộ thực hiện, chính quyền địa phương và sự chỉ đạo sát sao của Trung tâm KN nên chương trình bảo đảm tiến độ kế hoạch đề ra. Trung tâm còn mở lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật cho các dẫn tinh về phương pháp phối tinh nhập ngoại, phương pháp giải đông tinh, cách chọn bò cái đưa vào phối giống, thời điểm phối giống thích hợp. Cùng đó in ấn một số tờ rơi, catalo giới thiệu về những giống bò chuyên thịt mới cấp phát cho các dẫn tinh viên tuyên truyền đến người dân. Kết quả hơn 5.100 liều tinh bò cao sản nhập ngoại đã được Trung tâm KN cấp cho các dẫn tinh viên trên địa bàn 05 huyện phối cho trên 4.700 con bò cái lai Zebu của gần 4.500 hộ dân tại địa phương, tỷ lệ phối có chửa đạt trung bình 70%.
 
Thành công bước đầu là thời điểm này đã có bê Charolais lai sinh ra tại hộ ông Trịnh Văn Đồng ở thôn Hoa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang. Trọng lượng bê sơ sinh đạt khoảng 31 kg/con, màu lông sáng, dáng trường. Ông Đồng chia sẻ: “Lúc đầu gia đình cũng băn khoăn vì giống mới chưa được nhìn thực tế nhưng tin tưởng sự giới thiệu, tư vấn của cán bộ khuyến nông thường xuyên, sát sao theo dõi, chỉ đạo nên gia đình yên tâm tham gia. Hiện bê con khỏe mạnh, phàm ăn nên dễ chăm sóc, phù hợp với điều kiện gia đình”.
 
Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, kết quả bước đầu của phương pháp thụ tinh nhân tạo bằng loại tinh nhập ngoại đã cho ra đời những bê nghé lai có nhiều ưu điểm vượt trội so với bê nghé nội về: tỷ trọng, vóc dáng, màu lông, đặc biệt là tỷ lệ thịt cao, đáp ứng được nhu cầu thị trường hiện nay và phù hợp với định hướng phát triển ngành chăn nuôi lấy thịt của tỉnh. Điều này không chỉ thể hiện sự tiến bộ của ngành chăn nuôi trong việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, sử dụng con giống lai mới có nhiều gen trội mà còn là nền tảng để ngành chăn nuôi tỉnh tiến gần tới khoa học công nghệ cao theo hướng bền vững.
 
Ông Nguyễn Văn Thành – Giám đốc Trung tâm KN khẳng định, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung đã và đang là nhiệm vụ trọng tâm của ngành, của tỉnh. Với vai trò cầu nối, chuyển giao khoa học kỹ thuật đến người dân, Trung tâm KN tích cực đưa những cây con giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất; triển khai thực hiện mô hình điểm theo chỉ đạo, định hướng phát triển của ngành và tỉnh; tiếp tục đào tạo đội ngũ dẫn tinh viên có tay nghề cao làm công tác thụ tinh nhân tạo hiệu quả; triển khai các chương trình hỗ trợ đúng đối tượng, đúng địa điểm… Từ đó góp phần thực hiện thành công mục tiêu Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2020 và Nghị quyết số 130 của Tỉnh ủy về Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020. Đặc biệt từ năm 2017 Trung tâm KN trở thành địa chỉ uy tính, tin cậy cung cấp tinh và vật tư thụ tinh nhân tạo cho trâu, bò trên địa bàn tỉnh.
 
Theo Thanh Phúc
 
TT Khuyến Nông

LIÊN KẾT CHUỖI, GIẢM GIÁ THÀNH SẢN XUẤT LỢN

Nhóm thông tin: 
Những ngày qua, Bộ NN-PTNT đã tổ chức các đoàn công tác về địa phương để tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho ngành chăn nuôi lợn.
 
 

Người chăn nuôi đang “khát” vốn để duy trì đàn lợn
Ghi nhận của PV NNVN tại Thái Bình, người chăn nuôi đang rất khó khăn khi lợn ứ đọng trong chuồng nhưng thiếu vốn để nhập thức ăn duy trì đàn.  
 
Đẩy mạnh liên kết chuỗi
Xã Bách Thuận, huyện Vũ Thư là địa phương giữ kỷ lục về tổng đàn lợn của tỉnh Thái Bình với khoảng 20.000 con. Cán bộ thú y xã này cho biết, riêng đối tượng lợn trọng lượng trên 100kg còn tồn vài nghìn con.
 
Hộ gia đình ông Nguyễn Văn Luân ở xã Bách Thuận đang nuôi 300 lợn nái sinh sản. Trung bình mỗi tháng, số nái trên đẻ khoảng 600 lợn giống. Tuy nhiên, thời gian qua việc tiêu thụ rất khó khăn. Gia đình ông còn tồn khoảng 1.000 lợn giống nhưng không có người hỏi mua, trong khi đó khu chuồng nuôi lợn thịt vẫn còn khoảng 400 con trọng lượng khoảng 90 - 100kg chưa tiêu thụ được. Mỗi ngày, riêng tiền thức ăn để duy trì số đầu lợn của trang trại lên tới vài chục triệu đồng. Điều ông mong muốn lớn nhất lúc này là vay được khoảng 1 tỷ đồng với mức lãi suất ngân hàng để tiếp tục nuôi khoảng 1.000 lợn giống. Nếu không, trại lợn của ông chỉ gắng gượng được tối đa 2 tháng là... sập.
 
Theo bà Nguyễn Thị Rến, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Thái Bình, hiện tổng đàn lợn thịt đạt trọng lượng xuất bán từ 80kg trở lên trong địa bàn tỉnh ước khoảng trên 200.000 con (chiếm khoảng hơn 20% đàn lợn thịt).
 
Hình thức liên kết dọc (nuôi gia công) trong chăn nuôi lợn đang tồn tại và phát triển tại Thái Bình. Đến hết năm 2016, toàn tỉnh đã có 26 doanh nghiệp chăn nuôi, liên kết 4 doanh nghiệp (Cty CP Chăn nuôi C.P Việt Nam, Cty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam, Cty CP Phát triển công nghệ nông thôn RTD, Cty TNHH Austfeef) với quy mô chăn nuôi thịt từ 20.00 - 5.000 con/trại, lợn nái từ 600 - 3.000 con/trại…
 
Cũng theo bà Rến, số lượng, quy mô và hiệu quả hoạt động của các tổ chức liên kết theo chuỗi này khác nhau (phổ biến khoảng 1.000 con/chuỗi). Việc sản xuất cùng loại con giống, thức ăn, quy trình kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm đã giúp giảm giá thành, nâng cao trình độ kỹ thuật cho người chăn nuôi và thị trường tiêu thụ ổn định hơn.
Bên cạnh đó, hình thức liên kết chuỗi ngang (hội, nhóm, tổ hợp tác, hợp tác xã chăn nuôi) cũng phát triển. Thái Bình dã có 1 hiệp hội, 3 hợp tác xã chăn nuôi; 9 tổ hợp tác chăn nuôi và 52 nhóp GAHP do dự án Lifsap hỗ trợ thành lập và hoạt động.  
 
Cần tổ chức lại sản xuất
Với tình hình khó khăn trong tiêu thụ thịt lợn như hiện nay, nhiều hộ chăn nuôi ở Thái Bình đang tìm mọi cách để giảm đàn lợn.
 
Để ứng phó nhanh với khó khăn trong chăn nuôi, đặc biệt là vấn đề vốn mua thức ăn chăn nuôi, nhiều hộ đã giảm khẩu phần ăn của lợn, cho ăn cầm chừng, sử dụng nguyên liệu sẵn có để phối trộn thức ăn nhằm giảm giá thành.
 
Một số hộ khác giảm quy mô đàn nái, tăng tỷ lệ loại thải so với bình thường, không phối giống cho lợn nái khi động dục. Đối với các hộ chuyên sản xuất con giống thì chuyển từ bán con giống 7kg/con sang bán con giống lợn choai hoặc giữ lại nuôi thịt.
 
Thời gian tới, tỉnh sẽ đẩy mạnh việc tổ chức lại việc chăn nuôi lợn. Trước mắt, các cơ quan chức năng sẽ hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống và quy trình chăm sóc nuôi dưỡng nhằm hạ giá thành sản phẩm ở mức thấp nhất. Tránh không để việc chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của đàn nái sau này.
 
Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, giá lợn đang trên đà nhích dần lên theo chiều hướng tích cực. Bởi vậy, người chăn nuôi cần tìm cách gắng gượng vượt qua khó khăn. Với những trang trại lớn, không nên nản chí phá đàn lợn nái, đóng cửa chuồng mà cần duy trì ở mức độ phù hợp, tránh tình trạng khi giá lợn tăng cao sau “cơn bão giá” thì không còn lợn thịt, lợn giống để bán.
Theo NNVN

NHIỀU GIẢI PHÁP CẤP BÁCH ỔN ĐỊNH NGÀNH CHĂN NUÔI

Nhóm thông tin: 
Trước tình trạng giá lợn hơi xuống thấp khiến người chăn nuôi gặp khó khăn, đồng chí Dương Văn Thái, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang vừa ký ban hành văn bản yêu cầu các sở, ngành, UBND các huyện, TP triển khai thực hiện tốt một số giải pháp cấp bách để ổn định ngành chăn nuôi.
 
 

 
Ảnh minh họa.
Trong đó, các cơ quan chuyên môn đơn giản hóa thủ tục hành chính, khuyến khích, mời gọi các doanh nghiệp (DN), thương nhân thu mua thịt lợn bán ra ngoài tỉnh. Sở Nông nghiệp và PTNT chỉ đạo tăng cường công tác phòng, chống dịch cho đàn vật nuôi, không để người chăn nuôi chủ quan không tiêm phòng dịch cho đàn gia súc, gia cầm, kiểm soát chặt chẽ thị trường thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, đồng thời làm tốt công tác vệ sinh môi trường.
 
UBND tỉnh giao Sở Công thương chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, các huyện, TP nắm bắt nhu cầu tiêu thụ thịt lợn và tạo thuận lợi hơn cho việc thu mua của các DN, thương nhân. Tích cực định hướng các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi trên địa bàn chia sẻ khó khăn với người chăn nuôi. Ngân hàng Nhà nước tỉnh chỉ đạo các ngân hàng thương mại trên địa bàn nghiên cứu thực hiện giãn nợ, khoanh nợ, giảm lãi suất cho vay đối với người chăn nuôi. Các huyện, TP tăng cường chỉ đạo, hạn chế tình trạng lợi dụng thu mua ép giá, làm giá với người chăn nuôi đồng thời giảm đàn, loại thải những con nái già, sinh sản kém để ổn định nguồn cung, nâng chất lượng con giống.
 
UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT theo dõi, tổng hợp và báo cáo kết quả thực hiện với Chủ tịch UBND tỉnh và Bộ Nông nghiệp và PTNT.   
 
*Từ thực tế người chăn nuôi lợn lỗ lớn do giá bán sản phẩm xuống thấp, Sở Nông nghiệp và PTNT đã gửi văn bản đến 10 DN sản xuất thức ăn chăn nuôi tại địa bàn tỉnh đề nghị giảm giá bán thức ăn chăn nuôi, tạo điều kiện giảm chi phí đầu vào cho người dân. Đến nay, các DN này đã giảm từ 7-10% giá bán. Cụ thể, Công ty TNHH Vimark (Khu công nghiệp Đình Trám) giảm 10 nghìn đồng/bao cám thức ăn so với trước. Ngoài ra, Công ty tạo ra sản phẩm mới có giá thành rẻ, bình quân khoảng 7,5 nghìn đồng/kg, thấp hơn 2,5-3 nghìn đồng/kg so với sản phẩm cao cấp. Theo ông Trương Văn Quang, Giám đốc Công ty, trước đây DN chỉ sản xuất thức ăn cao cấp song giai đoạn nuôi để duy trì đàn như hiện nay sẽ không phù hợp. Do đó, DN cân đối nguồn dinh dưỡng, tính toán phối hợp nguyên liệu tạo sản phẩm có giá thành thấp, đáp ứng nhu cầu người dân. 
 
Tương tự, Công ty TNHH Thức ăn chăn nuôi đặc khu Hope (Khu Công nghiệp Quang Châu) cũng đã tiến hành giảm khoảng 300 đồng/kg cám cho người chăn nuôi; hỗ trợ khoảng 50 nghìn đồng/đầu lợn thông qua hệ thống đại lý. Đặc biệt, Công ty đang xây dựng phương án để tiếp tục hạ giá thành sản phẩm, phấn đấu giảm từ 15-20 nghìn đồng/bao cám.
 
                                                                                                                                                                                                           Theo BGĐT
 

TRANG TRẠI NUÔI LỢN 3 TỶ ĐỒNG CỦA MỘT THƯƠNG BINH

Nhóm thông tin: 
Ở thôn Hố Vầu, xã Tân Hưng (Lạng Giang) có một thương binh hạng 3/4 mang trong mình hai mảnh đạn không thể phẫu thuật nhưng hàng ngày vẫn tiếp tục "chiến đấu" trên mặt trận phát triển kinh tế. Đầu tư gần 3 tỷ đồng để nuôi lợn, xây dựng hầm khí biogas và thả cá, mô hình của ông có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Ông chính là cựu bác sĩ quân y, Trung tá Bùi Văn Thắng.
 
 

Dù đã hẹn trước, nhưng chúng tôi vẫn phải đi một vòng xung quanh hồ Hố Vầu với diện tích 9,3 ha giữa cái nắng đầu hè oi ả. Khi mỏi nhừ cả hai gối mới tìm gặp được ông đang mải mê cân lợn bán cho khách hàng là các đầu mối cung cấp thịt lợn siêu nạc sạch cho các siêu thị. "Các chú thấy đấy, những con lợn hồng hào, béo đẹp là thế nhưng chỉ bị muỗi đốt thôi khách cũng loại ra. Những khách hàng lớn ở siêu thị chọn kỹ lắm" - vừa cân lợn ông Thắng vừa nói. Chờ cho đến xế chiều, khi ba chiếc xe tải chở đầy lợn lăn bánh, chúng tôi mới được nghe ông Thắng kể chuyện.
 
Ông Thắng sinh năm 1957 ở Quế Võ, Bắc Ninh. Năm 1975, ông vào quân ngũ và được cử đi học lớp quân y. 
 
Ông tâm sự, những ngày trong quân ngũ ông đã có dự định khi về hưu tìm một khu trang trại để thỏa chí điền viên. Và ông đã chọn khu vực hồ Hố Vầu.  Chẳng ai nghĩ rằng, ở khu đất hoang ấy từ khi có bàn tay của người cựu chiến binh lại sinh lời mỗi năm vài trăm triệu đồng, giải quyết việc làm thường xuyên cho hàng chục lao động địa phương.
 
Đầu năm 1994, ông về quê hương tiếp quản khu đất chỉ toàn bãi hoang, đầm lầy và khu hồ rộng mà nhiều ông chủ trước đó đã thất bại khi nuôi cá. Là bác sĩ quân y, ông Thắng chưa có kiến thức trồng trọt, chăn nuôi khiến công việc ban đầu gặp vô vàn khó khăn. Ông lặn lội tìm đến các trại giống, chi cục thuỷ sản, các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi và tìm hiểu kiến thức từ những lớp học khuyến nông và qua sách báo về kỹ thuật nuôi lợn, nuôi cá. Chỉ sau một thời gian những kiến thức, kinh nghiệm nuôi lợn, thả cá của ông ngày một nhiều hơn đủ tự tin để bắt đầu công việc.  
 
Đến thăm khu trang trại lợn của ông Thắng mới thấy được hết sự bố trí ngăn nắp, khoa học: Khu dành riêng nuôi lợn nái siêu nạc; khu nuôi lợn con; khu trang trại nuôi lợn thịt và khu chăm sóc đặc biệt cho lợn sắp xuất chuồng. Ông Thắng còn đầu tư cả hệ thống hầm khí biogas, khu nhà kho, máy nghiền, trộn cám theo đúng tiêu chuẩn và phù hợp với từng độ tuổi, giai đoạn phát triển của lợn. Dù vậy, việc nuôi lợn cũng không phải đơn giản, chỉ lơ là một chút là phải trả giá đắt. Ông Thắng cho biết, đầu năm 2007 khi dịch tai xanh xuất hiện, do chủ quan không tiêm phòng vắc-xin, chỉ sau một thời gian ngắn cả đàn lợn bị mắc dịch khiến ông thiệt hại hơn 200 triệu đồng. Qua bài học ấy, ông chỉ đạo các kỹ thuật viên, công nhân của trang trại tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn. Đưa tay chỉ đàn lợn "đẹp như tranh", ông cho biết vừa đầu tư hơn 30 triệu đồng tiêm phòng bệnh cho đàn lợn. Bằng những kiến thức, kinh nghiệm học được, áp dụng vào trang trại với quy mô hơn nghìn con lợn đã mang lại cho ông hiệu quả kinh tế cao. 
 
Để không đi theo "vết xe đổ" của những chủ nhân trước ở hồ Hố Vầu, ông Thắng mày mò thử nghiệm và tìm ra được nguyên nhân, nhược điểm của họ. Những người nuôi cá trước đây ở hồ Hố Vầu thường thả cá xuống cả khu hồ rộng mênh mông nên rất khó chăm sóc, cá không lớn, hay mắc dịch, và xảy ra tình trạng cá thiếu thức ăn nên ăn thịt lẫn nhau. Vì thế trước khi thả cá, ông cho đắp đập, chia thành từng ô nhỏ giống như khu nuôi lợn. Tận dụng chất thải từ hầm khí biogas làm thức ăn cho các vi sinh vật phù du và đàn cá lại "chén" những vi sinh vật ấy, tạo thành chuỗi thức ăn liên hoàn, hợp lý. Với các ô chia sẵn, ông cho nuôi cá giống, cá thịt từng loại riêng biệt. Nhờ cách làm này, ông Thắng tránh được tình trạng "cá lớn nuốt cá bé" lại tiện chăm sóc. Trên diện tích các khu hồ chia nhỏ, ông cho thả các loại cá như trôi, chép, mè, trắm, rô phi đơn tính. Tuy nhiên, giống thành công và cho năng suất cao nhất là loại cá Vược (cá Chẽm), một loại cá nước ngọt ăn thịt, có giá trị kinh tế cao, được xem là đặc sản trong các loài thuỷ sản. Lúc đầu, ông Thắng chỉ định thả loài cá phàm ăn này để chúng "dọn" hộ loại rô phi giống cũ ăn hại màu trong ao. Nhưng chỉ sau một năm cho thu hoạch mỗi con đạt từ 2,5 đến 3kg. Với hơn 1 nghìn con, theo giá thị trường 90 nghìn đồng/kg đã cho ông Thắng "trúng quả" lớn.
 
Mỗi năm, trang trại của ông Thắng thu lãi hơn 200 triệu đồng. "Nếu giữ được tốc độ tăng trưởng và thị trường không có nhiều biến động lớn thì chỉ hai năm nữa, tôi phấn đấu trả hết cả vốn lẫn lãi cho ngân hàng"- ông Thắng nói. Được biết, ông Thắng đã đầu tư vào khu trang trại gần 3 tỉ đồng. Nhưng điều tâm đắc lớn đối với ông để hăng say hơn trong công việc là ba người con đến nay đều thành đạt. Con gái lớn tốt nghiệp Đại học Sư phạm; con trai thứ hai đang học trường Đại học Hàng hải; con trai út học Đại học y Thái Nguyên. Ông chia sẻ với chúng tôi niềm vui: "Nhiều lúc mệt mỏi vì công việc nhưng thấy con cái phương trưởng, thành đạt tôi lại như có thêm động lực để vươn lên". Không chỉ dừng lại ở những thành quả trên, ông Thắng còn dự kiến sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng trang trại, đưa thêm mô hình ươm trồng, sản xuất cây cảnh và chuyển dần mô hình trang trại thành khu du lịch sinh thái "miệt vườn". Cựu chiến binh Bùi Văn Thắng đang là tấm gương sáng của người lính bộ đội Cụ Hồ trong sự nghiệp phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng cho gia đình và xã hội.
 
                                                                                                                                                                                                         Theo BGĐT

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO VÀO SẢN XUẤT TRONG LĨNH VỰC CHĂN NUÔI – THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRONG THỜI GIAN QUA

Nhóm thông tin: 
Bắc Giang là một trong những tỉnh đứng đầu có tổng đàn vật nuôi lớn của cả nước. Theo số liệu báo cáo của năm 2015, tổng đàn trâu 57,5 nghìn con, đàn bò 134,2 nghìn con, đàn lợn 1,24 triệu con, tổng đàn gia cầm 16,8 triệu con, trong đó đàn gà 14,6 triệu con, diện tích nuôi thủy sản đạt 12,2 nghìn ha, trong đó diện tích nuôi chuyên canh đạt 5.250 ha. Những năm qua, tỉnh Bắc Giang luôn quan tâm đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất chăn nuôi và thủy sản, nhất là từ khi có Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020; nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống vật nuôi, thủy sản, các quy trình và công nghệ tiên tiến, các chế phẩm sinh học đã được ứng dụng vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao.
 
* Đối với chăn nuôi: Đã chuyển giao, ứng dụng và lai tạo các giống trâu, bò cao sản như trâu lai Mura, bò lai Zebu, bò 3B, bò Úc, các giống lợn siêu nạc như lợn Duroc của Mỹ, Landrace Đan Mạch, Yorkshire và con lai giữa chúng như Pidu, LY, các giống gia cầm cao sản, gà siêu trứng, vịt siêu trứng,…; công nghệ chuồng kín với hệ thống làm mát, điều khiển nhiệt độ chuồng nuôi, máng ăn và nước uống tự động; xử lý chất thải chăn nuôi bằng công nghệ hầm Biogas, sử dụng chế phẩm sinh học làm đệm lót nền chuồng; công nghệ tự động hóa trong nuôi gà đẻ trứng…
 
 Về chăn nuôi lợn: Tổng đàn lợn năm 2015 đạt 1,24 triệu con, trong đó đàn lợn có tỷ lệ nạc trên 50% chiếm khoảng 55% tổng đàn. Chăn nuôi bán công nghiệp tập trung, chăn nuôi trang trại, gia trại theo quy trình an toàn sinh học, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đang có xu hướng tăng, chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình giảm dần. Tỷ lệ chăn nuôi trang trại và an toàn sinh học chiếm khoảng 20% tổng đàn. Các trại gia công cho các công ty lớn như Công ty CP, Công ty JAFA và Công ty DABACO tại các huyện Tân Yên, Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Dũng đều sử dụng công nghệ chuồng kín với hệ thống làm mát, điều khiển nhiệt độ chuồng nuôi, máng ăn và nước uống tự động, sử dụng chế phẩm sinh học làm đệm lót nền chuồng, sản xuất theo quy trình VietGAP, quy trình an toàn sinh học... ;  Hiện đang triển khai mô hình trang trại hữu cơ tại huyện Hiệp Hòa do Công ty TNHH Kim Tân Minh xây dựng, áp dụng khoa học kỹ thuật vi sinh, chăn nuôi không nước thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường bằng công nghệ xử lý chất thải đệm lót sinh học tiên tiến,...
 
Toàn tỉnh, hiện nay có trên 250 trang trại chuyên chăn nuôi lợn đạt tiêu chí, tập trung chủ yếu tại các huyện: Tân Yên, Lạng Giang, Việt Yên, Hiệp Hoà...
 
 Về chăn nuôi gia cầm: Tổng đàn gia cầm năm 2015 đạt 16,8 triệu con, trong đó đàn gà 14,6 triệu con, có khoảng trên 200 cơ sở ấp nở gia cầm, cung ứng được 50% nhu cầu con giống cho địa phương, số còn lại được nhập từ các cơ sở sản xuất giống ngoài tỉnh. Chăn nuôi theo quy trình an toàn sinh học, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đã được chú trọng. Tỷ lệ chăn nuôi trang trại và an toàn sinh học chiếm khoảng 30% tổng đàn. Các trang trại, gia trại chăn nuôi quy mô trên 1.000 con/lứa phát triển mạnh, có trang trại đạt từ  5.000-10.000 con/lứa. Nhiều trang trại chăn nuôi quy mô lớn tập trung tại các huyện Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang đã xây dựng chuồng kín có hệ thống phun sương, quạt hút gió, tưới nước trên mái, máng ăn, vòi uống nước tự động, sử dụng chế phẩm sinh học làm đệm lót nền chuồng, sản xuất theo quy trình VietGAP, quy trình an toàn sinh học...
 
Tổng số trang trại chuyên chăn nuôi gà toàn tỉnh có khoảng trên 220 trang trại đạt tiêu chí, tập trung chủ yếu tại Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang...  
 
 Về chăn nuôi trâu, bò: Đàn trâu bò có xu hướng giảm, năm 2015, tổng đàn trâu 57,5 nghìn con, đàn bò 134,2 nghìn con, trong đó tỷ lệ bò lai đạt khoảng 70% tổng đàn. Hiện nay, đàn trâu rất khó tăng về quy mô, số lượng; giống trâu được nuôi chủ yếu là giống trâu địa phương có tầm vóc nhỏ, năng suất thấp, hiện tượng giao phối cận và đồng huyết đã làm giảm chất lượng đàn trâu. Đã ứng dụng công nghệ thụ tinh nhân tạo để cải thiện chất lượng đàn trâu bằng giống Muhra bước đầu cho kết quả tốt. Phát triển đàn bò thịt cũng đang là một lợi thế của địa phương, từ năm 2000 đến nay, nhờ có các chương trình dự án của tỉnh đã chuyển giao và đưa các giống bò cao sản như bò lai Zebu, bò 3B, bò Úc, ... vào chăn nuôi, đưa tỷ lệ bò lai Zêbu lên cao.
 
* Đối với thủy sản: Hiện nay, Trung tâm Giống thủy sản cấp I Bắc Giang đã làm chủ công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số thủy sản có giá trị kinh tế cao cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh như: cá Lăng chấm, cá Anh Vũ, cá rô phi đơn tính, chép lai, điêu hồng, cá chim trắng, cá rô đầu vuông, …
 
Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2015 toàn tỉnh đạt khoảng 12.200 ha, sản lượng đạt 30.5 nghìn tấn. Trong đó, diện tích chuyên canh khoảng 5.250 ha, diện tích nuôi thâm canh 1.280 ha cho năng suất từ 8 - 10 tấn/ha; diện tích nuôi bán thâm canh 2.300 ha, năng suất 4-5 tấn/ha. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số vùng chuyên canh nuôi cá tập trung như: xã Nghĩa Trung huyện Việt Yên, xã Ngọc Châu, Cao Thượng huyện Tân Yên, xã Thái Đào huyện Lạng Giang, xã Lão Hộ huyện Yên Dũng,... Chăn nuôi thuỷ sản với hình thức thâm canh, bán thâm canh và an toàn sinh học, sản xuất theo quy trình VietGAP cho năng suất cao đã được người dân quan tâm và có xu hướng phát triển mạnh qua các năm. Sản xuất con thuỷ đặc sản cũng phát triển mạnh trong những năm gần đây, lượng ba ba giống sản xuất hàng năm đạt 85.000 con, sản lượng ba ba thịt đạt bình quân 45 tấn/năm.
 
Tổng số trang trại thủy sản toàn tỉnh có 6 trang trại đạt tiêu chí, tập trung tại các huyện Việt Yên, Tân Yên, Yên Dũng.  
 
Tồn tại, hạn chế: Bên cạnh những kết quả đạt được, việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất chăn nuôi và thủy sản còn hạn chế. Các mô hình ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, khả năng cạnh tranh kém; chưa có quy hoạch; tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp hàng hóa còn thấp; sản xuất gắn với thị trường và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm hàng hóa còn hạn chế; công nghệ chế biến nông sản nhất là công nghệ bảo quản, chế biến phát triển chậm; chưa có chính sách thu hút, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. 
 
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:
 
 Do ruộng đất nhỏ lẻ, manh mún nên khó khăn cho việc áp dụng cơ giới hóa, chuyển giao khoa học kỹ thuật và ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất; sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, lực lượng lao động phải có trình độ tay nghề cao; cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; sản xuất nông nghiệp nói chung và lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản nói riêng là lĩnh vực chịu nhiều tác động của thiên tai, dịch bệnh, rủi ro cao hơn so với các ngành khác.
 
 Cấp ủy, chính quyền một số nơi chưa thực sự quan tâm đến việc chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất; trong lãnh đạo, chỉ đạo chưa sâu sát, quyết liệt, cụ thể, còn ngại khó; chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ ngành nông nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; đầu tư của Nhà nước cho nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp nói chung và lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản nói riêng còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất nông nghiệp hiện đại, công nghệ cao; hệ thống cơ chế, chính sách về nông nghiệp, nông thôn thiếu đồng bộ, chưa sát thực tiễn và còn nhiều vướng mắc, bất cập chưa khuyến khích thu hút được các doanh nghiệp đầu tư vào trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nói riêng; các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn tỉnh chậm phát triển và làm ăn có hiệu quả kinh tế chưa nhiều; công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, thông tin về thị trường tiêu thụ nông sản, chính sách pháp luật của Nhà nước cho nông dân chưa được coi trọng.
 
Văn Bằng (t/h)

BẮC GIANG PHÁT TRIỂN VÀ NHÂN RỘNG MỘT SỐ GIỐNG TRÂU, BÒ MỚI TRONG CHĂN NUÔI NÔNG HỘ

Nhóm thông tin: 
Với mục tiêu cải tạo đàn trâu, bò nội nhằm nâng cao năng suất thịt và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, tỉnh Bắc Giang đã ứng dụng kỹ thuật lai giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo (TTNT) từ giống trâu Murrah (Ấn Độ) và mô hình chăn nuôi bò lai hướng thịt bằng giống bò lai F1 BBB, tinh bò lai BBB đã mang lại kết quả khả quan. 
 
Năm 2014, là năm đầu tiên Trung tâm Khuyến nông Bắc Giang triển khai mô hình chăn nuôi bò lai hướng thịt giống bò lai F1 BBB với số lượng 05 con tại các huyện Hiệp Hòa, Lạng Giang, sau 10 tháng nuôi, từ trọng lượng ban đầu 150-170 kg/con bò lai F1 BBB tăng lên 450-470 kg/con. Đây là giống bò lai mới, lần đầu tiên đưa vào chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Qua thực tế chăn nuôi thấy, bò lai F1 BBB phàm ăn, chóng lớn, tăng trọng nhanh ở giai đoạn trên 300kg (1-1,2kg/con/ngày) so với bê lai Sind nếu chăm sóc tốt tăng trọng cũng chỉ đạt 0,6-0,7kg/con/ngày; tỷ lệ phối giống có chửa đối với tinh bò BBB đạt 33% nhưng trọng lượng bê lai sơ sinh đạt cao 32-35 kg/con. Ông Nguyễn Văn Bộ ở thôn Quế Sơn, xã Thái Sơn là hộ trực tiếp tham gia mô hình cho biết, giống bò lai F1 BBB dễ nuôi, tăng trọng nhanh phù hợp với điều kiện của gia đình. Nhận thấy hiệu quả mang lại, ông Bộ đã mạnh dạn tham gia chương trình phối giống cho bò cái bằng tinh bò lai BBB, kết quả cho ra đời cặp bê sinh đôi, khỏe mạnh, lớn nhanh, phát triển cân đối, đặc biệt bê lai có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với bê nội. Đến nay, có  trên 200 bê lai F1 hướng thịt được sinh ra. Nhằm tiếp tục đưa các con giống mới vào nhằm cải tạo đàn bò cỏ của tỉnh. Năm 2016, Trung tâm Khuyến nông triển khai chương trình thụ tinh nhân tạo bằng tinh bò giống Charalais với 2000 liều tinh, tỷ lệ phối giống có chửa đạt trên 70%. Trung tâm thường xuyên chỉ đạo cán bộ kỹ thuật theo dõi đàn bò cái được phối giống và đánh giá kết quả vào năm 2017. Tỉnh Bắc Giang, có rất nhiều điều kiện tự nhiên, đất nông nghiệp thích hợp với chăn nuôi trâu, bò. Tuy nhiên, nuôi bò chất lượng cao đòi hỏi có đầu tư và kỹ thuật. Vì vậy, điều kiện để hộ chăn nuôi tham gia là phải có bò cái nền đạt tiêu chuẩn, đầu tư kinh phí lớn để nuôi bê, yêu cầu lao động đủ khả năng chăn nuôi và tiếp nhận khoa học kỹ thuật khi tập huấn.
 
Đàn trâu toàn tỉnh tính đến nay có khoảng 60 nghìn con chủ yếu là trâu địa phương, tập trung ở các huyện Lục Ngạn, Lục Nam và Sơn Động, chiếm trên 50% tổng đàn. Các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ, chủ yếu là tận dụng điều kiện tự nhiên và phụ phẩm nông nghiệp. Từ năm 2012 đến nay, Trung tâm Khuyến nông ký hợp đồng với Trung tâm Nghiên Cứu và Phát triển Chăn nuôi Miền Núi triển khai dự án: “Phát triển giống trâu giai đoạn 2011-2015” tại 7/10 huyện gồm Lạng Giang, Tân Yên, Yên Dũng, Yên Thế, Hiệp Hòa, Việt Yên và Thành Phố Bắc Giang. Tham Gia mô hình, hộ nông dân được hỗ trợ 100% tiền mua tinh, dẫn tinh viên tham gia phối tinh cho trâu nái được hỗ trợ 50% tiền công phối giống và tập huấn hướng dẫn kỹ thuật. Tỷ lệ phối giống có chửa đạt 49%, nghé lai sơ sinh có trọng lượng 35-40 kg/con, cao hơn nghé nội từ 7-10 kg/con. Năm 2015 giao được 1800 liều tinh tại các huyện Tân Yên, Lạng Giang, Việt Yên và Hiệp Hòa. Năm 2016, thực hiện Quyết định 50/2014/QĐ-TTg và Quyết định 668/2015/QĐ-UBND, của UBND tỉnh Bắc Giang về việc quy định hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh, Trung tâm Khuyến nông triển khai được 700/2400 liều tinh phối giống cho trâu nái.  Kết quả trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 500 nghé lai Murah được sinh ra. Bà Vũ Thị Hoa ở thôn Cây Táo, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang là một trong những hộ chăn nuôi tham gia phối tinh cho trâu nái bằng tinh trâu Murah được 4 lứa khẳng định, nghé lai Murah có ưu điểm vượt trội so với nghé nội về ngoại hình, phàm ăn, trọng lượng nghé sơ sinh cao hơn từ 8-10 kg/con, tương đương 25-30% chỉ sau 2 tháng nuôi, trong khi đó nghé nội phải nuôi 4-5 tháng. Trước kia, khi nuôi nghé nội được 7-8 tháng xuất chuồng bán khoảng 12-14 triệu/con nhưng với nghé lai Murah thì chỉ 4-6 tháng được bán với giá khoảng 14-18 triệu/con.
 
Để các hộ chăn nuôi đại gia súc có thêm kiến thức về chăn nuôi các loại đối tượng con, giống mới. Hàng năm Trung tâm Khuyến nông tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi trâu, bò lai hướng thịt gắn với việc xác định thời điểm phối giống thích hợp ở trâu, bò cái; giải pháp phát triển nguồn thức ăn cho trâu, bò; đôn đốc nhắc nhở các hộ thực hiện đúng theo quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng các giống trâu, bò mới.
 
Ông Nguyễn Văn Thành - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Bắc Giang nhấn mạnh, giải pháp thụ tinh nhân tạo bằng tinh trâu Murah, tinh bò lai BBB là hướng đi đúng và phù hợp với điều kiện hiện nay của tỉnh. Trung tâm luôn tạo điều kiện cho các đồng chí dẫn tinh viên tham gia các lớp tập huấn nâng cao tay nghề thụ tinh nhân tạo để nâng tỷ lệ phối giống có chửa đạt cao hơn nữa. Đối với một số huyện vùng cao có số lượng đàn trâu bò lớn khi công tác thụ tinh nhân tạo chưa đến được với bà con thì có thể hỗ trợ trâu đực giống, bò đực giống để cải tạo tầm vóc cũng như chất lượng đàn trâu, bò trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
 
Văn Bằng
 

CHỦ ĐỘNG PHÒNG CHỐNG ĐÓI, RÉT, DỊCH BỆNH CHO ĐÀN VẬT NUÔI VÀ THỦY SẢN

Nhóm thông tin: 
Trong những ngày qua, không khí lạnh tăng cường, nhiệt độ xuống thấp, làm cho vật nuôi tiêu tốn nhiều năng lượng, giảm sức đề kháng, nguy cơ mắc các dịch bệnh truyền nhiễm và chết rét là rất cao. Vì vậy, chủ động các biện pháp phòng chống đói, rét, dịch bệnh cho đàn vật nuôi và thủy sản.
 
Đối với sản xuất chăn nuôi: Cơ cấu lại đàn vật nuôi hợp lý, loại thải những con giống suy giảm khả năng sinh sản, không nuôi đàn gia cầm với quy mô quá lớn, vượt khả năng bảo vệ, quản lý của các gia đình; có biện pháp di chuyển đàn trâu bò thả rông trong rừng về nuôi nhốt để quản lý và chăm sóc tốt hơn, giảm quy mô đàn phù hợp với khả năng cung cấp nguồn thức ăn cho trâu bò. Không chăn thả, cho trâu bò làm việc trong những ngày giá rét, khi nhiệt độ ngoài trời dưới 120C. Hướng dẫn người chăn nuôi chủ động áo dụng các bienẹ pháp chống đói, rét cho gia súc, gia cầm như: gia cố, che chắn chuồng trại không để gió lùa, đảm bảo chuồng nuôi được thông thoáng, đủ ấm, nền chuồng khô ráo; mua sắm phương tiện sưởi ấm cho đàn gia cầm, chủ động dự chữ các nguồn nhiệt khác như than, trấu, củi…để sưởi ấm cho đàn vật nuôi khi thời tiết chuyển sang rét đậm, rét hại kéo dài. Bảo quản và dự trữ thức ăn khô; áp dụng các biện pháp tự chế biến, phối trộn thức ăn tinh bằng các nguyên liệu tốt, sẵn có tại địa phương để hạ giá thành sản xuất, tăng lợi nhuận chăn nuôi; đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng thức ăn thô xanh trong mùa đông. Thực hiên tốt công tác tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi, đảm bảo tỷ lệ miễn dịch trong đàn.
 
Đối với sản xuất thủy sản: Tăng cường các biện pháp chống rét cho thủy sản, đặc biệt là các vùng nuôi cá thâm canh. Nên chọn những ao ở khu vực khuất gió đông bắc, có nguồn nước bổ sung ổn định, chủ động, thuận lợi cho việc cấp thoát nước để lưu cá qua đông. Duy trì mực nước ao nuôi từ 2,5-3m. Bổ sung nước ấm từ giếng khoan cho ao nuôi cá trong những ngày có rét đậm, rét hại. Những ngày nắng ấm, nhiệt độ trên 200C, tranh thủ cho cá ăn thức ăn công nghiệp, kết hợp với vitamin C để tăng sức đề kháng cho cá. Định kỳ 2 tuần/lần bón vôi cho ao với lượng 2kg/100m2 để làm sạch môi trường nước. Hạn chế đánh bắt, tránh làm cho cá bị xây xát, tăng nguy cơ bị nấm, vi khuẩn, ký sinh trùng tấn công làm giảm sức đề kháng của cá.
 
Theo dự báo của cơ quan chuyên môn, thời tiết còn nhiều diễn biến phức tạp, nhiệt độ có thể xuống thấp, vì vậy, ngay từ bây giờ, người dân hãy phát huy tính chủ động, tích cực trong việc chăm sóc, bảo vệ an toàn cho đàn gia súc, gia cầm, thuỷ sản. Có như vậy, đàn vật nuôi mới đủ sức vượt qua những ngày đông giá rét./.
 
ĐT