Chăn nuôi-Gia súc

BIỆN PHÁP XỬ LÝ, TIÊU HỦY LỢN MẮC BỆNH DTLCP BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỐT

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> - Địa điểm ti&ecirc;u hủy phải theo hướng dẫn của cơ quan nh&agrave; nước c&oacute; thẩm quyền; ưu ti&ecirc;n chọn địa điểm ti&ecirc;u hủy tại khu vực chăn nu&ocirc;i c&oacute; động vật mắc bệnh hoặc địa điểm th&iacute;ch hợp kh&aacute;c gần khu vực c&oacute; ổ dịch; kh&ocirc;ng chọn địa điểm gi&aacute;p với c&aacute;c cơ sở chăn nu&ocirc;i lợn tập trung, chưa c&oacute; lợn mắc bệnh DTLCP.</div> <div> &nbsp;</div>
1. Nguyên tắc tiêu hủy
 
- Phải làm chết động vật bằng điện hoặc phương pháp khác trước khi thực hiện tiêu hủy.
 
- Địa điểm tiêu hủy phải theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ưu tiên chọn địa điểm tiêu hủy tại khu vực chăn nuôi có động vật mắc bệnh hoặc địa điểm thích hợp khác gần khu vực có ổ dịch; không chọn địa điểm giáp với các cơ sở chăn nuôi lợn tập trung, chưa có lợn mắc bệnh DTLCP.
 
- Phương tiện, dụng cụ sử dụng để vận chuyển lợn, sản phẩm lợn, chất thải đến địa điểm tiêu hủy phải có sàn kín; phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc trước và sau khi vận chuyển đến địa điểm tiêu hủy.
 
- Người tham gia vào quá trình tiêu hủy lợn phải có bảo hộ cá nhân, thực hiện vệ sinh, sát trùng để tránh làm lây lan mầm bệnh.
 
2. Vận chuyển động vật, sản phẩm động vật đến địa điểm tiêu hủy
 
- Trường hợp địa điểm tiêu hủy ở ngoài khu vực ổ dịch, xác động vật, sản phẩm động vật phải được cho vào bao, buộc kín bao và tập trung bao chứa vào một chỗ để phun khử trùng trước khi vận chuyển; trường hợp động vật lớn không vừa bao chứa phải sử dụng tấm nilon hoặc vật liệu chống thấm khác để lót bên trong (đáy và xung quanh) thùng chứa của phương tiện vận chuyến.
 
- Phương tiện vận chuyển xác động vật, sản phẩm động vật phải có sàn kín để không làm rơi vãi các chất thải trên đường đi.
 
- Phương tiện vận chuyển xác động vật, sản phẩm động vật phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y ngay trước khi vận chuyển và sau khi đưa bao chứa xuống địa điểm tiêu hủy hoặc dời khỏi khu vực tiêu hủy.
 
3. Xử lý, tiêu hủy lợn bằng phương pháp đốt
 
a) Phương pháp đốt được thực hiện theo các bước sau:
 
- Đào hố có kích thước phù hợp với số lượng, trọng lượng xác lợn cần đốt (ví dụ: để tiêu hủy 01 tấn xác lợn, cần đào hố có kích thước sâu x rộng x dài = 1,5 x 1,0 x 1,0 (m), tương ứng l,5m3).
 
- Xếp nguyên liệu dùng để đốt (củi, than,...) xuống hố trước; sau đó sử dụng các thanh sắt, bê tông để làm giá đỡ trên miệng hố và cho xác lợn lên trên (gồm cả bao chứa và tấm lót), sau đó tưới dầu diesel lên trên lợn để đốt. Trường hố bị ngập nước, xếp cả nguyên liệu đốt và xác lợn lên trên các thanh sắt, thanh bê tông, sau đó sau đó tưới dầu diesel lên trên lợn để đốt hoặc bố trí máy bơm để hút hết nước, bảo đảm đốt thành công xác lợn.
 
Ví dụ về cách tính nguyên liệu để tiêu hủy 01 tấn xác lợn như sau: 50 kg củi khô, 200 kg than,...., 10 lít dầu diesel. Tỷ lệ các nguyên vật liệu để đốt có thể điều chỉnh phù hợp với thực tế.
 
- Sử dụng vật liệu phù hợp để quây quanh hố chôn trước khi đốt xác lợn.
 
- Xếp xác lợn lên trên vật liệu đốt theo thứ tự lợn to trước, lợn nhỏ sau (lợn phải được gây chết hẳn trước khi đưa đi đốt).
 
- Tiến hành đốt xác lợn và chôn tro cốt tại hố chôn với yêu cầu khoảng cách từ bề mặt tro cốt đến mặt đất tối thiểu là 0,5m và phun thuốc sát trùng, rắc vôi bột khu vực hố chôn. Quản lý hố chôn như đối với phương pháp chôn lấp. Thời gian đốt cần bảo đảm xác lợn được cháy hết.
 
b) Ở các địa phương có điều kiện, có thể sử dụng lò đốt chuyên dụng để xử lý đốt xác lợn.
 
Trên cơ sở hướng dẫn này, các địa phương hướng dẫn cụ thể việc xử lý, tiêu hủy lợn bằng phương pháp đốt cho phù họp với điều kiện thực tế, bảo đảm không làm lây lan dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng măc, thông báo về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để phối hợp xử lý kịp thời./.
 
Theo Khuyennongvn.gov.vn

KHUYẾN NGHỊ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM VI SINH TRONG CHĂN NUÔI LỢN

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Cục Chăn nu&ocirc;i cho biết, nhiều m&ocirc; h&igrave;nh sử dụng chế phẩm vi sinh phối trộn v&agrave;o thức ăn cho lợn, kết hợp với c&aacute;c biện ph&aacute;p chăn nu&ocirc;i an to&agrave;n sinh học đ&atilde; cho thấy t&aacute;c dụng hạn chế dịch tả lợn Ch&acirc;u Phi (DTLCP).</div> <div> &nbsp;</div>
Cục Chăn nuôi cho biết, nhiều mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh phối trộn vào thức ăn cho lợn, kết hợp với các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học đã cho thấy tác dụng hạn chế dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP).
 
Qua đó, khuyến nghị tăng cường mở rộng mô hình sử dụng các chế phẩm vi sinh cho chăn nuôi lợn.
 
 

 
Ông Nguyễn Hồng Lam, Chủ tịch Tập đoàn Quế Lâm cho rằng chăn nuôi lợn hữu cơ theo mô hình của Quế Lâm đề kháng rất tốt dịch bệnh.
Tại cuộc họp về giải pháp nghiên cứu vacxin, chế phẩm sinh học trong phòng chống DTLCP của Bộ NN-PTNT hôm qua (2/7), Cục Chăn nuôi cho biết nhiều chế phẩm sinh học được nghiên cứu SX và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi (TĂCN), trong xử lý môi trường chăn nuôi mang lại hiệu quả tích cực.
 
Bản chất của các chế phẩm này là các vi sinh vật có lợi (probiotic), các enzyme tiêu hóa để cải thiện sức khỏe, tăng khả năng chuyển hóa thức ăn và sinh trưởng của vật nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi.
 
Probiotic là các vi sinh vật sống, chủ yếu thuộc 3 nhóm: vi khuẩn Lactic, bào tử Bacillus và nấm men Sacharomyces, được phân lập từ môi trường hoặc từ đường ruột của người và động vật, khi bổ sung cho vật nuôi sẽ có ảnh hưởng tích cực cho vật chủ.
 
Việc sử dụng các chế phẩm vi sinh để ủ TĂCN đã được áp dụng từ lâu, thời gần đây xuất hiện trên thị trường một số chế phẩm NK có hoạt lực cao được các nông hộ và HTX chăn nuôi ứng dụng rất thành công trong SX với mục đích cải thiện hiệu quả chăn nuôi và nâng cao chất lượng sản phẩm.
 
Đặc biệt việc sử dụng các chế phẩm này kết hợp với các giải pháp an toàn sinh học đã giúp nhiều cơ sở chăn nuôi lợn duy trì SX trong tình hình DTLCP đang diễn biến ngày càng phức tạp.
 
Điển hình như mô hình chăn nuôi lợn bằng thức ăn lên men sinh học của Cty Cổ phần Fukoku Hà Long tại Hưng Yên.
 
Áp dụng mô hình chăn nuôi sinh học từ năm 2017, chủ cơ sở chăn nuôi Lưu Đình Độ, thôn Ninh Phúc, xã Hùng An, huyện Kim Động (Hưng Yên) chăn nuôi 200 lợn thịt, chế phẩm vi sinh probioitc mà cơ sở sử dụng có nguồn gốc từ nhập khẩu, có tên thương mại là “Fodder Yeast” do Cty SPG Fukoku, Nhật Bản sản xuất, có thành phần chính là nấm men hoạt tính Saccharomyces Cerevisiae ≥ 1 x 107 CFU/g. Liều dùng 2 kg/tấn thức ăn.
 
Thời gian nuôi trung bình một lứa lợn từ 30 kg đến 150 kg là khoảng 4,5 tháng. Tiêu tốn thức ăn đạt 2,8 - 3,0 kg, tỷ lệ móc hàm đạt 82 - 87%. Thịt lợn nuôi bằng thức ăn lên men mềm, ngon, ít nước (trung bình 5 - 7% nước trong thịt so với 17 - 25% khi nuôi bằng thức ăn không lên men). Đến thời điểm hiện tại, nhiều hộ chăn nuôi lợn trong khu vực bị nhiễm dịch tả lợn phải tiêu hủy, nhưng cơ sở này vẫn an toàn.
 
Một điển hình khác là mô hình chăn nuôi lợn hữu cơ của Tập đoàn Quế Lâm tại Thừa Thiên- Huế. Tập đoàn Quế Lâm tổ chức chuỗi sản xuất thịt hữu cơ theo mô hình hợp tác với một số hộ chăn nuôi tại Miền Trung từ năm 2013 theo “Quy trình chăn nuôi lợn hữu cơ” mang thương hiệu Quế Lâm.
 
Ban đầu ứng dụng tại một mô hình nuôi 30 con/lứa đến nay đã có 15 mô hình nuôi 50 - 100 con/lứa tại gia trại của 5 huyện, thị xã tỉnh Thừa Thiên- Huế. Sản phẩm trong chuỗi đảm bảo an toàn thực phẩm và truy xuất được tiêu thụ tốt tại Huế và nhiều tỉnh thành.
 
Giống lợn trong chuỗi là giống F2 có ¾ máu ngoại, có nguồn gốc từ cơ sở giống an toàn dịch bệnh, bắt đầu nuôi từ 20 kg. Sau 110 ngày nuôi đạt khối lượng trung bình 95 kg (tăng trọng khoảng 650 g/con/ngày, tiêu tốn trên 3,0 kg thức ăn/kg tăng trọng – phù hợp với lợn giống lai F2 ¾ máu ngoại). Tỷ lệ móc hàm đạt 72 - 75 %. Mỗi đầu lợn nuôi trong mô hình mang lại hiệu quả lãi từ 370.000 đồng đến 677.000 đồng.
 
Ngoài ra, mô hình này chuồng nuôi không có mùi hôi, tiết kiệm nước và rửa chuồng; tận dụng được toàn bộ phân, nước tiểu lợn làm phân hữu cơ cho cây trồng. Lợn nuôi khỏe mạnh, không dùng bất cứ một loại kháng sinh nào, tỷ lệ sống đạt tới 100%.
 
 

 
Việc sử dụng các chế phẩm vi sinh kết hợp với giải pháp an toàn sinh học đã giúp nhiều cơ sở chăn nuôi lợn duy trì SX trong tình hình DTLCP đang diễn biến ngày càng phức tạp. (Ảnh minh họa).
Đặc biệt hiện nay xung quanh mô hình có nhiều hộ chăn nuôi bị nhiễm dịch tả lợn chết và tiêu hủy 100%, nhưng toàn bộ lợn của 15 hộ chăn nuôi theo mô hình của Quế Lâm ở xen kẽ trong 5 huyện, thị của tỉnh Thừa Thiên- Huế đều không bị nhiễm dịch; lợn xuất chuồng của các hộ chăn nuôi nay vẫn được Cty thu mua ổn định với giá 46.000 đ/kg, trong khi giá lợn trên thị trường của tỉnh hiện nay đang trong khoảng 35.000 đ/kg.
 
Tại Hà Nội, mô hình chăn nuôi lợn bằng các chế phẩm sinh học của HTX Hoàng Long ở thôn Chi Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai nuôi 5.000 con sử dụng đồng thời cả 3 chế phẩm bổ sung vào thức ăn.
 
Kết quả, lợn khỏe mạnh, chất lượng thịt tốt được các cơ sở giết mổ và các bếp ăn tập thể lớn đặt mua; tỷ lệ móc hàm đạt trên 80% (khối lượng xuất chuồng trung bình khoảng 120 kg/con). Đến thời điểm hiện tại một số trại chăn nuôi trong xã đã bị nhiễm dịch, nhưng trại của hợp tác xã vẫn an toàn.
 
Từ những cơ sở trên, Cục Chăn nuôi kết luận, sử dụng chế phẩm vi sinh probiotic trong thức ăn chăn nuôi kết hợp với biện pháp an toàn sinh học là giải pháp có thể hạn chế được bệnh dịch tả đối với các cơ sở chăn nuôi hiện nay. Việc sử dụng chế phẩm vi sinh probiotic bổ sung trong thức ăn chăn nuôi cho phép tận dụng được nguồn nguyên liệu, lao động sẵn có ở các nông hộ, địa phương làm giảm giá thành thức ăn chăn nuôi và nâng cao chất lượng sản phẩm vật nuôi (không sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi).
 
Cục Chăn nuôi kiến nghị Bộ và các địa phương có chính sách khuyến khích áp dụng rộng rãi các mô hình chăn nuôi lợn nêu trên trong sản xuất.
 
Về chế phẩm vi sinh, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường chỉ đạo rà soát hoàn thiện để tổng kết quy trình an toàn sinh học để ra hướng dẫn mới cho người chăn nuôi. Đồng thời, yêu cầu cần tổng kết quy trình sử dụng nhằm tiếp tục ứng dụng, đồng thời đặt nền móng cho việc tiến tới nghiên cứu, từng bước chủ động SX các chế phẩm vi sinh sử dụng cho TĂCN tại Việt Nam. Trước mắt, an toàn sinh học vẫn là vũ khí duy nhất để chiến đấu với vi rút dịch.
Theo Nongnghiep.vn

ĐẨY MẠNH AN TOÀN SINH HỌC TRONG CHĂN NUÔI HEO

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Nhiều giải ph&aacute;p &ldquo;n&oacute;ng&rdquo; v&agrave; kiến nghị được c&aacute;c chuy&ecirc;n gia n&ecirc;u ra tại hội thảo &ldquo;An to&agrave;n sinh học v&agrave; giải ph&aacute;p ph&ograve;ng chống dịch tả heo ch&acirc;u Phi tại c&aacute;c tỉnh ph&iacute;a Nam&rdquo;, do Trung t&acirc;m Khuyến n&ocirc;ng Quốc gia phối hợp với Sở NN-PTNT Đồng Nai tổ chức cuối tuần qua.</div> <div> &nbsp;</div>
Nhiều giải pháp “nóng” và kiến nghị được các chuyên gia nêu ra tại hội thảo “An toàn sinh học và giải pháp phòng chống dịch tả heo châu Phi tại các tỉnh phía Nam”, do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở NN-PTNT Đồng Nai tổ chức cuối tuần qua.
 

Chăn nuôi an toàn sinh học là giải pháp quan trọng phòng chống dịch bệnh hiệu quả.
Theo Cục Thú y, tính đến cuối tháng 6/2019, bệnh dịch tả heo Châu Phi (ASF) đã xảy ra ở 4.420 xã, 463 huyện của 60 tỉnh, thành phố. Đến thời điểm này, ngành chức năng cũng đã tiêu huỷ hơn 2,8 triệu con heo với tổng trọng lượng hơn 166.000 tấn.
 
Đại diện Cục Chăn nuôi cho rằng, an toàn sinh học trong chăn nuôi là giải pháp rất quan trọng nhằm phòng chống dịch bệnh, các biện pháp bao gồm cả kỹ thuật và quản lý nhằm ngăn ngừa, hạn chế sự lây nhiễm của các tác nhân sinh học xuất hiện tự nhiên hoặc do con người tạo ra gây hại đến con người, vật nuôi, hệ sinh thái.
 
Việc chăn nuôi an toàn sinh học sẽ giúp ngăn chặn được nguồn dịch từ bên ngoài xâm nhập vào đàn vật nuôi; đồng thời giảm bớt sự lây lan những mầm bệnh từ trong đàn vật nuôi ra môi trường xung quanh.
 
Tuy nhiên, có nhiều vướng mắc trong công tác phòng chống dịch ASF mà các đại biểu đề cập tại hội thảo, đó là quá trình tiêu huỷ, các biện pháp vệ sinh chuồng trại, cách ly dịch bệnh, thời gian tái đàn sau khi công bố hết dịch…
 
Đặc biệt, đối với việc xử lý thức ăn thừa sau khi tiêu hủy heo như thế nào hay các chính sách hỗ trợ kịp thời và phù hợp đang được rất nhiều người chăn nuôi quan tâm.
 
Theo ông Huỳnh Thành Vinh, Giám đốc Sở NN-PTNT Đồng Nai, quy định bắt buộc khi heo mắc dịch ASF sẽ phải tiêu hủy hết đàn heo kể cả thức ăn chăn nuôi trong trại để ngăn ngừa dịch bệnh lây lan. Nếu đem nguồn thức ăn dư thừa hay chưa sử dụng qua trại khác cũng đồng thời mang theo mầm bệnh đến đó.
 
Tuy nhiên, ông Vinh cho rằng, nếu khi tiêu huỷ heo bệnh và tiêu huỷ luôn toàn bộ thức ăn chưa sử dụng, thì sẽ khiến chuột mất đi nguồn thức ăn, chúng sẽ di chuyển đến nơi khác tìm thức ăn khiến dịch bệnh càng lây lan nhanh và rộng.
 
“Có rất nhiều nguyên nhân khiến dịch ASF phát tán, trong đó có loài chuột. Do vậy, để ngăn ngừa dịch tả heo châu Phi lây lan thì khi tiến hành tiêu hủy heo bệnh các nông hộ có thể nên giữ lại một phần thức ăn chưa sử dụng để làm mồi giữ chân và sử dụng thuốc diệt chuột bỏ vào số thức ăn trên để tiêu diệt loài vật này”, ông Vinh nhấn mạnh.
 
Liên quan đến công tác phòng chống dịch bệnh, Công ty TNHH Anova cũng đưa ra các biện pháp thực hiện cụ thể, như cần tiêm phòng bệnh truyền nhiễm, tẩy ký sinh trùng định kỳ, công tác vệ sinh chuồng trại định kỳ, cuối kỳ theo tiêu chuẩn kỹ thuật.
 
Mặt khác, phải cách ly con bệnh để chăm sóc riêng. Vệ sinh kim, ống tiêm, thu gom, xử lý, tiêu huỷ xác chết, tăng sức kháng bệnh đặc biệt trong thời điểm khi thời tiết thay đổi, lúc có dịch bệnh trong khu vực.
 
TS.Nguyễn Văn Bắc, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đề xuất, đến nay ở Việt Nam đã có 10% heo của 60/63 tỉnh thành bị tiêu hủy nhưng thực tế vẫn chưa tìm ra nguyên nhân, do đó cần phải tìm ra nguyên nhân chính của dịch tễ ở Việt Nam là gì thì truyền thông mới có hiệu quả và đưa ra giải pháp mới chính xác.
 
“Theo tôi, cần phải nghiên cứu ngay ra phần mềm mang tính quốc gia để làm sao từng hộ chăn nuôi, từng trang trại căn cứ vào đó biết được rằng an toàn sinh học ở mức độ nào và nguy cơ nào sẽ xảy ra…”, TS.Bắc nêu vấn đề.
 
Đề cập đến vấn đề chính sách hỗ trợ cho người chăn nuôi, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Nai Nguyễn Trí Công đề nghị: “Hiện nay, tất cả các nông hộ hay trang trại chăn nuôi với quy mô lớn hay nhỏ đều có vay vốn ngân hàng, nhưng về chính sách hỗ trợ cũng chưa đi đến đâu hết. Ngân hàng thực tế không thể cho vay mới nhưng cần phải khoanh hay giãn nợ ngay cho người nuôi giúp họ giảm bớt áp lực về tài chính...”.
 
Theo ông Công, việc phòng chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Đồng Nai vẫn gặp nhiều khó khăn như chưa có vacxin phòng bệnh, đường lây truyền của mầm bệnh phức tạp, vi rút có khả năng tồn tại lâu ngoài môi trường và có sức đề kháng rất cao. Đồng thời, công tác khai báo, cung cấp thông tin của cơ sở chăn nuôi về tổng đàn vật nuôi và tình hình dịch bệnh còn chưa đầy đủ, kịp thời…
 
Bà Hạ Thúy Hạnh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đề nghị các Trung tâm Khuyến nông, Chi cục chăn nuôi - Thú y cần tiếp tục hỗ trợ cho người chăn nuôi trong các vấn đề phòng chống dịch bệnh, tiêu hủy heo bệnh theo đúng quy trình, giúp người dân tối ưu hoá giải pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi heo, nhất là những trang trại chưa có dịch bệnh. Đặc biệt, tại thủ phủ chăn nuôi heo Đồng Nai càng phải thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp phòng chống dịch ASF nhằm giảm thiểu thiệt hại...
Theo Nongnghiep.vn

VÌ SAO LỢN HỮU CƠ QUẾ LÂM VẪN AN TOÀN GIỮA TÂM BÃO DỊCH TẢ CHÂU PHI?

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Mặc d&ugrave; dịch tả lợn Ch&acirc;u Phi b&ugrave;ng ph&aacute;t v&agrave; bao v&acirc;y tứ ph&iacute;a nhưng h&agrave;ng chục trang trại với quy m&ocirc; h&agrave;ng ng&agrave;n con lợn nu&ocirc;i theo hữu cơ của Tập đo&agrave;n Quế L&acirc;m vẫn an to&agrave;n, &iacute;t nhất l&agrave; đến thời điểm n&agrave;y.</div> <div> &nbsp;</div>
Mặc dù dịch tả lợn Châu Phi bùng phát và bao vây tứ phía nhưng hàng chục trang trại với quy mô hàng ngàn con lợn nuôi theo hữu cơ của Tập đoàn Quế Lâm vẫn an toàn, ít nhất là đến thời điểm này.
Xung quanh bị hết rồi, còn mỗi đàn nhà tôi
Cả 8 thôn trên địa bàn xã Phong Thu (huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế) đều đã xuất hiện dịch tả lợn Châu Phi. Vậy mà chuồng lợn gia đình ông Nguyễn Văn Lịch ở thôn Trạch Hữu vẫn an toàn, kể cả khi 4 hộ chăn nuôi hàng xóm, cách nhau bờ rào dậu đều đã bị hết.
 
 Gia đình ông Lịch liên kết chăn nuôi lợn hữu cơ với Tập đoàn Quế Lâm từ 2 năm nay. Ban đầu chỉ vì tò mò khi doanh nghiệp này tuyên truyền hình thức chăn nuôi lợn không có mùi hôi, không ô nhiễm môi trường và thu mua lại lợn cho các hộ dân với giá cao hơn thị trường.
 
20 hộ dân trong xã, dẫn đầu là ông Lịch đi tham quan mô hình, nhưng bước đầu, không nhiều người tin lắm, nên chỉ có 3 hộ dân thực hiện cam kết.
 
 

 
Lợn hữu cơ Quế Lâm vẫn an toàn dù những đàn xung quanh đã nhiễm dịch tả Châu Phi.
Để thực hiện mô hình chăn nuôi này, phía Tập đoàn Quế Lâm hỗ trợ cho người dân vay vốn với lãi suất 0%, cung cấp nguồn giống, hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp thức ăn chăn nuôi và giám sát quy trình chăn nuôi bằng hệ thống camera, sau đó thu mua lợn cho người dân khi đến hạn xuất chuồng.
 
“Từ khi liên kết với Tập đoàn Quế Lâm chúng tôi nhận thấy có 4 sự thay đổi rõ rệt so với chăn nuôi thông thường. Thứ nhất là không dịch bệnh, từ dịch tai xanh đợt trước đến dịch tả lợn Châu Phi lần này đàn lợn đều an toàn. Thứ hai là không ô nhiễm môi trường, không có mùi hôi. Thứ ba là có nguồn phân chuồng rất phong phú.
 
Ngoài chăn nuôi, gia đình tôi còn làm 2 ha thanh trà và bưởi da xanh, trước đây mỗi năm phải mua 15-20 tấn phân hữu cơ nhưng kể từ khi tận dụng được lượng phân vi sinh từ trại lợn thì không cần mua nữa. Thứ tư là kinh tế, nuôi lợn hữu cơ hạch toán chi phí mỗi con lãi 500-700 ngàn. Nhờ tập đoàn bao tiêu sản phẩm nên đầu ra rất ổn định, trước đây giá lợn lên xuống khiến nông dân thường xuyên bỏ chuồng, nhưng sau khi chúng tôi thực hiện thành công, hiện rất nhiều hộ dân đăng ký tham gia nuôi lợn hữu cơ, bất chấp dịch tả đang hoành hành ở khắp nơi”, ông Lịch nói.
 
Ông Lịch là một trong số nhiều hộ dân liên kết với Tập đoàn Quế Lâm nuôi lợn hữu cơ, tất cả đều đang an toàn dịch bệnh và có lãi trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang bi đát như hiện nay.
 
 

 
Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Quế lâm, ông Nguyễn Hồng Lam là "cha đẻ" của mô hình chăn nuôi liên kết hữu cơ.
Việc phát triển chăn nuôi hữu cơ theo công nghệ vi sinh của Tập đoàn Quế Lâm được khởi phát và trực tiếp chỉ đạo của Chủ tịch HĐQT Nguyễn Hồng Lam  từ năm 2013. Các mô hình ban đầu chỉ nuôi 20-30 con chủ yếu đảm bảo nguồn cung cấp lợn sạch cho cán bộ công nhân viên và làm quà tặng. Đến nay, Tập đoàn đã liên kết với các Hợp tác xã, bà con nông dân đầu tư mở rộng lên hàng ngàn con có sự kiểm soát từ đầu vào đến đầu ra và đã được ngành Nông nghiệp đánh giá và chứng nhận chuỗi sản xuất chăn nuôi hữu cơ an toàn.
 
Mục tiêu chăn nuôi hữu cơ an toàn của Quế Lâm đặt ra là phải đạt hiệu quả kinh tế cao, chất lượng thịt tốt, không chất cấm và kháng sinh, bảo vệ môi trường chăn nuôi. Từ ban đầu ứng dụng một mô hình nuôi 30 con/lứa/HTX đến nay đã có 14 mô hình nuôi 500 con/lứa tại gia trại của 5 huyện thị xã, đã tiêu thụ tốt tại Huế và nhiều tỉnh thành.
 
Những kết quả chăn nuôi lợn hữu cơ theo công nghệ vi sinh đã được nhiều đối tượng, nhiều tỉnh thành đón nhận vì chất lượng thịt thơm ngon, hiệu quả chăn nuôi cao, không dịch bệnh trong chăn nuôi, người tiêu dùng yên tâm sử dụng do quy trình chuỗi chăn nuôi đạt 5 không vừa đảm bảo ATVSTP vừa an toàn sinh học.
 
Ông Nguyễn Hồng Lam, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Quế Lâm khẳng định: Với mục tiêu vì một nền nông nghiệp an toàn và hiệu quả, nên Quế Lâm không ngại bỏ ra nhiều công của để cùng với tập thể các nhà khoa học bền bỉ, tìm tòi, thực hiện các nghiên cứu và thử nghiệm nghiêm túc, lặp đi lại nhiều lần trên nhiều hộ/ nhiều lứa nuôi qua nhiều năm để hoàn thiện quy trình đáp ứng cho thực tiển sản xuất chăn nuôi và thị trường.
 
Ông Nguyễn Văn Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Thú y tỉnh Thừa Thiên – Huế cho biết: Dịch tả lợn sau khi công bố hết dịch đã tái phát ở Thừa Thiên-Huế, hơn 11% số hộ chăn nuôi, 10% tổng đàn lợn ở Huế nhiễm dịch. Nguyên nhân dịch tả Châu Phi diễn biến phức tạp ở Huế chủ yếu do nguồn thức ăn, nguồn giống và môi trường... Chính vì vậy, những mô hình chăn nuôi hữu cơ của Tập đoàn Quế Lâm có thể xem là cứu cánh của người chăn nuôi. Bằng chứng là sau thời gian dài kể từ khi dịch xuất hiện nhưung chưa có bất cứ hộ chăn nuôi liên kết với Tập đoàn nào bị nhiễm bệnh. Nguyên nhân có thể là do nguồn thức ăn chăn nuôi của những hộ dân này không lẫn từ ngoài vào. Men vi sinh trong thức ăn tăng sức đề kháng cho các đàn lợn tốt hơn nên chưa nhiễm bệnh.  
 
Cứu cánh của chăn nuôi nông hộ
Sau khi đi khảo sát thực tế tại các mô hình chăn nuôi liên kết của Tập đoàn Quế Lâm, ông Nguyễn Xuân Dương, quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi khẳng định: Đây là mô hình chăn nuôi rất tốt, rất phù hợp với tình hình chăn nuôi Việt Nam giai đoạn hiện nay, đặc biệt nhất là trong bối cảnh dịch tả lợn Châu Phi hoành hành và thị trường biến động.
 
Thực tế, những mô hình chăn nuôi nông hộ khó có khả năng miễn dịch được nên mô hình chăn nuôi của Tập đoàn Quế Lâm phù hợp với hoàn cảnh mới, xu thế mới để chăn nuôi Việt Nam tiếp tục phát triển, góp phần quan trọng vào hạn chế dịch bệnh.
 
Theo ông Dương, tất nhiên quy trình chăn nuôi vẫn phải thực hiện nghiêm túc các biện pháp thú y, phòng dịch thông thường, tuy nhiên những mô hình chăn nuôi hữu cơ tuần hoàn như thế này góp phần tích cực để nâng cao khả năng kháng bệnh. Mặt khác sản phẩm chăn nuôi của Quế Lâm cũng đang được bán với giá cao, hiện đang thu mua của dân 46 nghìn đồng/kg, trong khi đó giá lợn bình quân của Huế lúc này chỉ 30-35 nghìn đồng/kg.
 
“Chúng tôi cho rằng, nguyên nhân chính là nhờ sử dụng vi sinh trong ủ thức ăn chăn nuôi đã có tác dụng tích cực làm tăng sức đề kháng cho lợn. Bằng chứng là từ trước khi có dịch tả lợn Châu Phi, sức đề kháng của lợn hữu cơ cũng được thể hiện qua việc sử dụng men vi sinh và miễn dịch với nhiều loại bệnh khác mà không cần dùng kháng sinh.
 
Thứ hai, chăn nuôi hữu cơ tận dụng được các nguồn phụ phẩm trong nông hộ như thóc, cám, ngô, sắn... Người chăn nuôi chỉ cần đưa men vào ủ có thể trở thành thức ăn hỗn hợp, vừa đảm bảo dinh dưỡng cho vật nuôi vừa đảm bảo vấn đề nâng cao sức đề kháng. 
 
Thứ ba là vấn đề môi trường. Chăn nuôi hữu cơ sử dụng đệm lót sinh học. Vừa không phải tắm cho lợn, nước tiểu của lợn, phân của lợn thấm vào đệm lót sinh học đảm bảo môi trường không mùi, không ô nhiễm, sau mỗi chu kỳ nuôi lại tận dụng phân hữu cơ này trở thành phân vi sinh bón cho cây trồng.
 
 

 
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến dẫn đầu đoàn công tác Bộ NN-PTNT thị sát các mô hình chăn nuôi hữu cơ an toàn.
Đây là công nghệ chăn nuôi tuần hoàn nhất cử tam tiện. Có thể giảm chi phí trong chăn nuôi, đặc  biệt nhất, khi xẩy ra dịch thì không phải đi mua thức ăn ở bên ngoài, có thể đảm bảo, kiểm soát tốt nguồn nguyên liệu, hạn chế nguy cơ đem mầm bệnh từ bên ngoài vào khu chăn nuôi. Chính vì vậy, trong thời gian tới phải tuyên truyền người dân thay đổi thói quen, tập quán chăn nuôi, để khi người dân nhận thức đầy đủ lợi ích của phương thức chăn nuôi này sẽ tự nguyện áp dụng. Nhà nước sẽ có chính sách khuyến khích thông qua các doanh nghiệp, các mô hình hợp tác xã để nhân rộng mô hình. Tổ chức chăn nuôi theo chuỗi liên kết để đưa quy trình chăn nuôi vào và thu mua sản phẩm và bán ra với phương thức doanh nghiệp và người nông dân cùng có lãi”, quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi phân tích.  
 
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Đủ cơ sở khẳng định chế phẩm của Quế Lâm tăng sức đề kháng cho lợn
Trực tiếp thị sát các mô hình chăn nuôi, Thứ trưởng Bộ Nn-PTNT Phùng Đức Tiến khẳng định:
 
Với thời giạn dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện và việc tất cả các mô hình chăn nuôi liên kết của Tập đoàn Quế Lâm đến thời điểm này chưa nhiễm bệnh có thể đủ khẳng định chế phẩm sinh học của Tập đoàn Quế Lâm đã tăng cường sức đề kháng cho lợn giúp các đàn lợn chưa bị xâm nhiễm dịch tả lợn Châu Phi.
 
 

 
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Đủ cơ sở khẳng định "chế phẩm ông Lam" tăng sức đề kháng cho lợn.
Theo Thứ trưởng Tiến, dịch tả lợn Châu Phi hiện nay vẫn chưa có vắc xin, chưa có thuốc chữa, đã tiêu hủy hơn 100 triệu con lợn trên toàn thế giới. Là vấn nạn toàn cầu, nguy cơ của tất cả các quốc gia.
 
Ở Việt Nam, đến thời điểm hiện tại số lợn tiêu hủy đã chiếm khoảng 7% trên tổng đàn. Dịch tả lợn Châu Phi có sức sống rất mãnh liệt. Ở ngoài môi trường 56 độ C, các loại vi rút khác có thể chết nhưng vi rút dịch tả lợn Châu phi vẫn có thể tồn tại 7 phút. Trong thời gian tới diễn biến dịch sẽ tiếp tục phức tạp, chính vì vậy, những mô hình chăn nuôi như của Tập đoàn Quế Lâm là cứu cánh của chăn nuôi nông hộ.
 
Thứ trưởng chỉ đạo, trong thời gian tới,mô hình này phải được nhân rộng. Đề nghị Cục Chăn nuôi và Tập đoàn Quế Lâm tổng kết kết quả, phân tích xem chế phẩm này là cái gì, cho ăn như thế nào, tăng trọng ra sao, giá thành và chất lượng thịt như thế nào, để từ đó có căn cứ xây dựng đề cương đề tài nghiên cứu khoa học, đánh giá cơ chế tác động tăng sức đề kháng.
 
“Đề tài này sẽ thực hiện trên các đối tượng khác nhau, đưa vào sử dụng ngay những đàn lợn đang bị dịch, xem có giữ vững được không để nay mai có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn nhằm công nhận một công trình khoa học nghiên cứu đầy đủ và lan tỏa”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến chỉ đạo.  
 
Quy trình chăn nuôi lợn hữu cơ của Tập đoàn Quế Lâm như thế nào?
 

Mô hình liên kết chăn nuôi hữu cơ ngày càng được nhân rộng.
Tập đoàn Quế Lâm thực hiện quy trình chăn nuôi hữu cơ trên nền tảng áp dụng chế phẩm sinh học đã tập trung từ khâu giống: Phải có con giống sạch bệnh, xuất phát nuôi từ cơ sở ATDB, giống F2 có ¾ máu ngoại. Phải có thức ăn chất lượng tốt, phù hợp và đạt hiệu quả kinh tế cao thông qua chỉ số tiêu tốn thức ăn (FCR), cụ thể là 2 loại thức ăn QL1 cho lợn 15-30 kg và QL2 cho lợn từ 30kg đến xuất chuồng, thức ăn được phối hợp với men vi sinh cho từng giai đoạn đủ dinh dưỡng cho lợn ăn khỏe. 
 
Chuồng trại, các hộ dân liên kết phải thiết kế phải theo thiết kế của tập đoàn qua nhiều lần điều chỉnh đã được đăng ký độc quyền với cục sở hữu trí tuệ Bộ KHCN đảm bảo chuồng nuôi phải an toàn, bố trí hợp lý nơi lợn ăn/uống và nơi thải chất thải phát huy hiêu quả hoạt động của men vi sinh phân giải tốt đả bảo yêu cầu đông ấm hè mát, lợn thích nằm, chuồng nuôi phù hợp để lợn làm sao tăng được năng suất, vừa ATDB do không có chất thải ô nhiễm trong chuồng. 
 
Về quản lý dịch bệnh, ngoài thứ ăn và chuồng trại, việc sử dụng công nghệ vi sinh để làm gia tăng sức đề kháng, tăng hiệu suất sử dụng thức ăn, lợn ăn hết khẩu phần, vừa đạt hiệu quả kinh tế, vừa giảm phát thải tối đa khí độc và chất thải ra môi trường làm lây lan dịch bệnh như nuôi truyền thống phải đặt ra. 
 
Về chuỗi liên kết chăn nuôi lợn hữu cơ là một quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng phải là một khâu hoàn chỉnh, truy xuất được nguồn gốc ATVSTP.
 
Theo Nongnghiep.vn

LÀM GIÀU NHỜ SỰ NHẠY BÉN TRONG TƯ DUY SẢN XUẤT

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Đ&oacute; l&agrave; chị Đặng Thị Hạnh, 43 tuổi, ở th&ocirc;n An Điềm, x&atilde; C&aacute;t L&acirc;m, huyện Ph&ugrave; C&aacute;t, B&igrave;nh Định. Với bản t&iacute;nh si&ecirc;ng năng, chịu kh&oacute; v&agrave; sự nhạy b&eacute;n trong l&agrave;m ăn, chị đ&atilde; lựa chọn c&acirc;y trồng, vật nu&ocirc;i ph&ugrave; hợp với điều kiện đất đai ở địa phương v&agrave; đầu tư sản xuất c&oacute; hiệu quả, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đ&igrave;nh v&agrave; trở th&agrave;nh tấm gương điển h&igrave;nh về sản xuất giỏi ở địa phương.</div> <div> &nbsp;</div>
Đó là chị Đặng Thị Hạnh, 43 tuổi, ở thôn An Điềm, xã Cát Lâm, huyện Phù Cát, Bình Định. Với bản tính siêng năng, chịu khó và sự nhạy bén trong làm ăn, chị đã lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện đất đai ở địa phương và đầu tư sản xuất có hiệu quả, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình và trở thành tấm gương điển hình về sản xuất giỏi ở địa phương.
Xuất thân từ gia đình thuần nông, chồng không may bị tai nạn mất sớm nhưng với quyết tâm không cam chịu nghèo khó và mong muốn lo cho các con một cuộc sống đầy đủ, chị Đặng Thị Hạnh phát triển sản xuất các loại cây trồng cạn có hiệu quả kinh tế cao, kết hợp chăn nuôi bò sinh sản. Theo đó, với 01ha đất màu của gia đình, chị luân phiên sản xuất các loại cây trồng cạn được coi là thế mạnh của địa phương như: đậu phộng (lạc), dưa hấu, bắp lai (ngô lai), dưa leo (dưa chuột), bí đao, dưa lê, mè (vừng)… Nhờ tích cực đầu tư chăm sóc, khoan giếng khai thác mạch nước ngầm để chủ động bơm tưới; đồng thời nắm bắt được cơ cấu mùa vụ cũng như đưa các giống mới có năng suất cao và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình thâm canh chăm sóc nên diện tích cây trồng cạn và hoa màu của gia đình chị luôn phát triển tốt, cho năng suất ổn định ở mức cao. Đặc biệt, rút kinh nghiệm qua thực tiễn sản xuất cũng như tính toán được thời điểm thu hoạch, chị luôn lựa chọn đưa vào sản xuất những loại cây trồng có giá trị kinh tế cao theo từng mùa vụ. Nhờ đó, mỗi năm sau khi trừ chi phí, gia đình chị Hạnh thu lãi trên 100 triệu đồng từ cây trồng cạn.
 
Chưa dừng lại ở đó, tận dụng diện tích đất vườn và nguồn phụ phẩm từ sản xuất nông nghiệp, chị Hạnh còn đầu tư xây dựng chuồng trại, trồng cỏ chăn nuôi bò sinh sản. Hiện, đàn bò của gia đình chị có 8 con, trong đó có 2 bò đực giống và 6 bò cái sinh sản. Nhờ lựa chọn con giống kỹ lưỡng, chăm sóc, tiêm phòng đầy đủ nên đàn bò của gia định chị sinh trưởng tốt và sinh sản đều, không những tạo nguồn phân chuồng dồi dào để bón cho cây trồng mà mỗi năm gia đình chị còn bán được khoảng 6 bê con với tổng thu nhập gần 100 triệu đồng. Tổng thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi của gia đình chị gần 200 triệu đồng/năm, nhờ đó chị Hạnh có điều kiện xây dựng nhà cửa khang trang, mua sắm máy cày và lo cho các con ăn học đầy đủ. Hiện tại, con trái lớn của chị đang là sinh viên năm 2 Trường đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và con gái nhỏ đang là học sinh trung học cơ sở. Thương mẹ vất vả, các con của chị Hạnh đều chăm ngoan, học giỏi và biết giúp đỡ mẹ những công việc gia đình những lúc rảnh rỗi.
 
 

 
Tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp, chị Hạnh đầu tư chuồng trại nuôi bò sinh sản
Chị Đặng thị Hạnh cho biết: “Ở nông thôn, ngoài làm nông nghiệp thì cũng chẳng biết làm gì. Vì vậy, tôi quyết định lựa chọn trồng trọt và chăn nuôi để phát triển kinh tế gia đình. Ban đầu, khi mới làm cũng gặp rất nhiều khó khăn do sâu bệnh, mất mùa, giá cả thấp… nhưng làm rồi rút kinh nghiệm dần dần nên cũng thành công. Qua thực tế sản xuất, tôi thấy để cây trồng, vật nuôi phát triển tốt, cho năng suất và hiệu quả cao thì trước tiên phải chú trọng khâu chọn giống, giống phải tốt, đảm bảo chất lượng. Thứ hai là phải chuyên cần vì có chuyên cần, thường xuyên chăm sóc, theo dõi, phát hiện dịch bệnh kịp thời thì mới xử lý hiệu quả. Thứ ba là phải tính toán, lựa chọn cây trồng thích hợp theo từng mùa vụ, phải lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai, thời tiết ở địa phương và mùa đó, người ta ít trồng thì khi thu hoạch sẽ có giá bán cao, thu lợi nhuận lớn… Nhờ thu nhập từ chăn nuôi, trồng trọt mà gia đình tôi có được cuộc sống ổn định, thoải mái”.
 
Không những làm kinh tế giỏi, chị Đặng Thị Hạnh còn tham gia tích cực các phong trào, hoạt động xã hội ở địa phương và nhiệt tình giúp đỡ những phụ nữ khó khăn. Với kinh nghiệm và vốn hiểu biết của mình, chị luôn sẵn sàng chia sẻ, hướng dẫn để mọi người cùng học tập, áp dụng vào sản xuất có hiệu quả. Ngoài ra, chị còn sống rất chan hoà với bà con lối xóm, được mọi người quý mến và mới đây, chị vinh dự được Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Định tặng bằng khen về thành tích xuất sắc trong tổ chức triển khai thực hiện phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế”./.
 
Theo Khuyennongvn.gov.vn

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẤP BÁCH PHÒNG, CHỐNG BỆNH DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Ch&iacute;nh phủ vừa ban h&agrave;nh Nghị quyết 42/NQ-CP về việc triển khai một số giải ph&aacute;p cấp b&aacute;ch trong ph&ograve;ng, chống bệnh Dịch tả lợn Ch&acirc;u Phi theo tinh thần chỉ đạo của Ban B&iacute; thư Trung ương Đảng tại Chỉ thị số 34-CT/TW ng&agrave;y 20/5/2019.</div> <div> &nbsp;</div>
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 42/NQ-CP về việc triển khai một số giải pháp cấp bách trong phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi theo tinh thần chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 20/5/2019.
 
Nghị quyết nêu rõ: Ngay khi có thông tin về bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện tại các nước láng giềng vào tháng 8 năm 2018, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đặc biệt quan tâm, chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương quyết liệt triển khai nhiều giải pháp, phòng chống dịch bệnh; nhờ vậy, đã làm hạn chế tốc độ lây lan và thiệt hại do dịch bệnh gây ra.
 
Tuy nhiên, công tác phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi thời gian qua bộc lộ một số tồn tại, bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác phòng, chống bệnh dịch như: Chưa huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc; cấp uỷ, chính quyền ở một số địa phương chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo sát sao; tổ chức xử lý tiêu hủy lợn bệnh chưa kịp thời, không bảo đảm yêu cầu, làm lây lan dịch bệnh, gây ô nhiễm môi trường và gây bức xúc cho cộng đồng; việc bố trí nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch chưa kịp thời, thiếu nhất quán; hiện tượng trục lợi chính sách hỗ trợ tiêu hủy lợn xảy ra ở một số nơi;... Do đó, từ tháng 2/2019 đến nay, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại hầu hết các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước, phải tiêu hủy trên 2,3 triệu con lợn.
 
Do tính chất nguy hiểm của vi rút Dịch tả lợn Châu Phi, hiện chưa có vắc xin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị; vi rút có khả năng tồn tại lâu ngoài môi trường và có sức đề kháng rất cao, đường lây truyền rất đa dạng, khó kiểm soát; nước ta còn trên 2,4 triệu hộ chăn nuôi lợn nhỏ lẻ, mật độ chăn nuôi rất cao; việc thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học và ngăn chặn các yếu tố làm lan truyền mầm bệnh gặp nhiều khó khăn; thời tiết diễn biến rất phức tạp, tạo điều kiện rất thuận lợi cho vi rút Dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục lây lan, gây bệnh. Nhận định trong thời gian tới, nguy cơ bệnh Dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục phát sinh và lây lan nhanh và lan tỏa đến các địa bàn chưa có dịch; tái phát tại các địa phương đã qua 30 ngày; xâm nhiễm vào các cơ sở chăn nuôi lợn tập trung, quy mô lớn; ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến phát triển chăn nuôi lợn, gây thiệt hại to lớn về kinh tế, ảnh hưởng lớn đến môi trường và đời sống của người dân.
 
Để khắc phục tình trạng trên và thực hiện nghiêm chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 20/5/2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết về việc triển khai một số giải pháp cấp bách trong phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi.
 
Trong đó, Chính phủ yêu cầu từng thành viên Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tích cực, trách nhiệm, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi theo đúng tinh thần chỉ đạo của Ban Bí thư tại Chỉ thị số 34-CT/TW; chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 7/3/2019; chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 2/2/2019, Công điện 1194/CĐ-TTg ngày 12/9/2018, Công điện 667/CĐ-TTg ngày 4/6/2019.
 
Ban chỉ đạo quốc gia về phòng chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi phải xây dựng kế hoạch tổng thể và kịch bản phòng, chống bệnh dịch với nhiều tình huống khác nhau; các cấp địa phương từ tỉnh đến huyện, xã, thôn, doanh nghiệp chăn nuôi và hộ gia đình phải có kế hoạch phòng chống dịch phù hợp với tình hình cụ thể và từng giai đoạn.  
 
Hỗ trợ kinh phí phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi
Nghị quyết nêu rõ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ kinh phí trong phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, cụ thể, hỗ trợ người chăn nuôi, hộ nông dân, chủ trang trại, gia trại, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất trong lĩnh vực chăn nuôi (gọi chung là cơ sở chăn nuôi) có lợn buộc phải tiêu hủy do bệnh Dịch tả lợn Châu Phi với mức hợp lý trên cơ sở giá thành, chi phí chăn nuôi lợn và phù hợp cho từng loại lợn (đối với lợn nái, lợn đực giống đang khai thác được mức hỗ trợ cao hơn các loại lợn khác).
 
Việc triển khai hỗ trợ phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, dưới sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc các cấp và người dân, không để xảy ra hiện tượng trục lợi chính sách
 
Cân lợn để xác định mức hỗ trợ trước khi đem đi tiêu hủy.
Hỗ trợ doanh nghiệp chăn nuôi nhỏ và vừa theo tiêu chí quy định của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017 (không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa là công ty con hoặc là công ty có vốn cổ phần chi phối của doanh nghiệp lớn) có lợn buộc phải tiêu hủy do bệnh dịch tả lợn châu Phi với mức hỗ trợ bằng 30% mức hỗ trợ cho chủ cơ sở chăn nuôi nêu trên nhưng tối đa không quá 30% số lỗ do dịch bệnh sau khi đã sử dụng các quỹ dự phòng và tiền bồi thường bảo hiểm (nếu có).
 
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tiêu chí quy định của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017 (không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa là công ty con hoặc là công ty có vốn cổ phần chi phối của doanh nghiệp lớn) và chủ hộ nuôi giữ lợn giống cụ kỵ, ông bà với mức 500.000 đồng/con lợn đến ngày 31/12/2019 nhằm nâng cao các biện pháp an toàn sinh học, sát trùng tiêu diệt các loại mầm bệnh đảm bảo duy trì đàn lợn giống phục vụ tái đàn khi kiểm soát được dịch bệnh.
 
Nguyên tắc, trình tự, thủ tục hỗ trợ được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 02/2017/NĐ-CP ngày 09/01/2017 của Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.
 
Về cơ chế hỗ trợ từ ngân sách trung ương, với các tỉnh miền núi, Tây Nguyên, ngân sách trung ương hỗ trợ 80% mức ngân sách nhà nước hỗ trợ thiệt hại.
 
Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương còn lại: Với các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương từ 50% trở lên, chủ động sử dụng dự phòng ngân sách địa phương để thực hiện; các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương dưới 50%: Ngân sách trung ương hỗ trợ 50% phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách còn lại: Ngân sách trung ương hỗ trợ 70% phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
 
Các địa phương huy động thêm tối đa 70% Quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh để hỗ trợ thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi.
 
Trường hợp các địa phương có mức độ thiệt hại lớn, nếu phần ngân sách địa phương đảm bảo vượt quá nguồn lực của địa phương (gồm: 50% nguồn dự phòng ngân sách địa phương (bao gồn cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã) và 70% Quỹ dự trữ tài chính địa phương, ngân sách trung ương sẽ bổ sung thêm phần chênh lệch vượt quá nguồn lực của địa phương để các tỉnh, thành phố có đủ nguồn để thực hiện.
 
Kiểm tra, đôn đốc các địa phương đẩy mạnh cấu trúc lại ngành chăn nuôi
 
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu Ban Chỉ đạo phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch tổng thể và kịch bản phòng, chống bệnh dịch với nhiều tình huống khác nhau; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương về công tác phòng, chống dịch.
 
Bên cạnh đó, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương đẩy mạnh cấu trúc lại ngành chăn nuôi, đa dạng hóa vật nuôi, trước mắt tập trung phát triển chăn nuôi đại gia súc, gia cầm, thủy sản,... để bù đắp thiếu hụt sản phẩm thịt lợn nhằm phục vụ tốt đời sống người dân; chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, ngành có liên quan khẩn trương tổ chức triển khai nghiên cứu, sản xuất vắc xin và hệ sinh thái các biện pháp phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi.
 
Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Quyết định về cơ chế, chính sách, đối tượng hỗ trợ, mức hỗ trợ kinh phí trong phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trước ngày 25/6/2019.
 
Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện việc duy trì, kiện toàn, củng cố, nâng cao năng lực hệ thống các cơ quan thú y Trung ương như hiện nay và các địa phương theo quy định của Luật thú y, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư, Chỉ thị số 04/CT-TTg và Công điện số 667/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
 
Tổ chức thông tin, tuyên truyền và giải thích rõ cho người dân về chính sách và mức hỗ trợ có liên quan đến Nghị định số 02/2017/NĐ-CP, Nghị quyết số 16/NQ-CP và các nội dung của Nghị quyết này.  
 
Khuyến khích thu mua lợn sạch, không nhiễm bệnh để tiêu thụ, cấp trữ đông
Bộ Công Thương chỉ đạo Sở Công Thương đôn đốc, theo dõi việc khuyến khích các cơ sở, doanh nghiệp trên địa bàn triển khai thực hiện việc thu mua lợn sạch, không nhiễm bệnh để tiêu thụ, cấp trữ đông nhằm giảm thiểu lây lan dịch bệnh, giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi để giữ ổn định giá lợn không bị xuống thấp trong giai đoạn trước mắt và có nguồn thực phẩm an toàn cung cấp cho nhu cầu thị trường trong thời gian tới; tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường nhằm ngăn chặn việc buôn bán, vận chuyển lợn, sản phẩm lợn không rõ nguồn gốc, không bảo đảm các yêu cầu vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm.
 
Cấp đông tạm trữ thịt lợn được kỳ vọng sẽ mở lối thoát cho chăn nuôi lợn trong bối cảnh DTLCP tiếp tục diễn biến phức tạp.
Bộ Tài chính căn cứ quy định tại Nghị quyết này và số thực chi từ ngân sách nhà nước cho các đối tượng bị thiệt hại do dịch bệnh gây ra do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp, báo cáo (có xác nhận của Kho bạc Nhà nước), xem xét, hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho từng địa phương và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện. Trường hợp dịch bệnh xảy ra ở phạm vi lớn, ngân sách địa phương không đủ nguồn lực để thực hiện phòng, chống dịch, căn cứ đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tài chính thực hiện bổ sung một phần kinh phí cho địa phương để thực hiện (tối đa 70% mức ngân sách trung ương hỗ trợ). Sau khi địa phương có báo cáo kết quả thực hiện chi ngân sách cho công tác phòng, chống dịch tả lợn châu Phi, Bộ Tài chính sẽ bổ sung thêm (trường hợp thiếu kinh phí) hoặc thu hồi (trường hợp dư kinh phí) theo quy định.
 
Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn các giải pháp tổng thể về xử lý tiêu hủy lợn phù hợp với từng quy mô, cấp độ và địa bàn nhằm bảo đảm không làm lây lan dịch bệnh và không làm ô nhiễm môi trường.
 
Ngân hàng nhà nước Việt Nam tiếp tục chỉ đạo thực hiện các chính sách, biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi và doanh nghiệp bị thiệt hại do ảnh hưởng của bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, đặc biệt hỗ trợ cho các cơ sở nuôi giữ đàn giống cụ kỵ, ông bà để cung cấp con giống phát triển sản xuất sau khi dịch bệnh được khống chế.  
 
Thông tin, tuyên truyền kịp thời, chính xác cho người dân
Chính phủ yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức thông tin, tuyên truyền kịp thời, chính xác cho người dân theo nguyên tắc vừa đảm bảo yêu cầu phòng, chống dịch bệnh, vừa bảo vệ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thịt lợn, tránh gây hoang mang trong xã hội; về chính sách hỗ trợ của nhà nước theo nguyên tắc nhà nước và người chăn nuôi cùng chia sẻ những gánh nặng về kinh tế do phát sinh dịch bệnh.
 
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉ đạo của Ban Bí thư về việc kiện toàn, củng cố hệ thống thú y các cấp theo đúng quy định của Luật thú y, tăng cường năng lực thú y các cấp đủ sức thực thi nhiệm vụ; chủ động sử dụng dự phòng ngân sách địa phương và các nguồn tài chính hợp pháp khác để thực hiện công tác phòng, chống dịch tả lợn Châu Phi và hỗ trợ chủ chăn nuôi có lợn bị tiêu hủy.
 
Quyết định hoặc trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định mức hỗ trợ kinh phí cho cán bộ thú y và những người tham gia phòng, chống dịch bệnh động vật, với mức không thấp hơn ngày công lao động phổ thông tại địa phương; khuyến khích các cơ sở, doanh nghiệp tổ chức thu mua, giết mổ, cấp đông thịt lợn sạch nhằm bình ổn thị trường.
 
Thực hiện công khai chính sách và mức hỗ trợ trên các phương tiện thông tin đại chúng và tại thôn, xã, bảo đảm hỗ trợ trực tiếp đến chủ chăn nuôi bị thiệt hại; kinh phí cho công tác phòng, chống dịch và mức bồi dưỡng cho các lực lượng tham gia phòng, chống dịch theo quy định. Sử dụng kinh phí hỗ trợ đúng mục đích, có hiệu quả, không để thất thoát lãng phí và xảy ra tiêu cực.
 
Tổ chức xử lý tiêu hủy lợn bệnh kịp thời, bảo đảm yêu cầu không để lây lan dịch bệnh, không để gây ô nhiễm môi trường; tổ chức tốt công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, kiểm soát giết mổ, mua bán thịt lợn và các sản phẩm thịt lợn đúng quy định của pháp luật hiện hành, theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
 
Theo Nongnghiep.vn

BIỆN PHÁP CHĂN NUÔI LỢN AN TOÀN SINH HỌC

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Trước diễn biến phức tạp của bệnh dịch tả lợn Ch&acirc;u Phi, g&acirc;y tổn thất lớn cho ng&agrave;nh chăn nu&ocirc;i nước ta, song song với việc ph&ograve;ng chống dịch bệnh, người chăn nu&ocirc;i cần thực hiện chăn nu&ocirc;i an to&agrave;n sinh học để tiếp tục duy tr&igrave;, ổn định, ph&aacute;t triển đ&agrave;n lợn, đ&aacute;p ứng y&ecirc;u cầu cung cấp thực phẩm cho ti&ecirc;u d&ugrave;ng trong nước v&agrave; xuất khẩu, bảo vệ sức khỏe cộng động v&agrave; bảo vệ m&ocirc;i trường.</div> <div> &nbsp;</div>
Trước diễn biến phức tạp của bệnh dịch tả lợn Châu Phi, gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi nước ta, song song với việc phòng chống dịch bệnh, người chăn nuôi cần thực hiện chăn nuôi an toàn sinh học để tiếp tục duy trì, ổn định, phát triển đàn lợn, đáp ứng yêu cầu cung cấp thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, bảo vệ sức khỏe cộng động và bảo vệ môi trường.
Chăn nuôi an toàn là việc áp dụng đồng bộ các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự tiếp xúc của vật nuôi với các mầm bệnh. Một số lưu ý về kỹ thuật chăn nuôi lợn an toàn sinh học như sau:
 
1. Yêu cầu về chuồng trại
 
Vị trí xây dựng trang trại phải phù hợp với quy hoạch của địa phương, hoặc được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép. Khoảng cách từ trang trại đến trường học, bệnh viện, khu dân cư, nơi thường xuyên tập trung đông người, đường giao thông chính, nguồn nước mặt tối thiểu 100m; cách nhà máy chế biến, giết mổ lợn, chợ buôn bán lợn tối thiểu 1 km. Nơi xây dựng trang trại phải có nguồn nước sạch; đảm bảo điều kiện xử lý chất thải theo quy định.
 
Trại chăn nuôi phải có tường hoặc hàng rào bao quanh nhằm kiểm soát được người và động vật ra vào trại và phải bố trí riêng biệt các khu: khu chăn nuôi; khu vệ sinh, sát trùng thiết bị chăn nuôi; khu cách ly lợn ốm... Phải có hố khử trùng ở cổng ra vào trại chăn nuôi, khu chuồng nuôi và tại lối ra vào mỗi dãy chuồng nuôi.
 
Chuồng nuôi lợn phải bố trí hợp lý theo các kiểu chuồng về vị trí, hướng, kích thước, khoảng cách giữa các dãy chuồng. Nền chuồng phải đảm bảo không trơn trượt và phải có rãnh thoát nước, có độ dốc từ 3-5%.
 
Đường thoát nước thải từ chuồng nuôi đến khu xử lý chất thải phải kín, đảm bảo dễ thoát nước và không trùng với đường thoát nước khác.
 
Các thiết bị, dụng cụ chứa thức ăn, nước uống phải đảm bảo không gây độc và dễ vệ sinh tẩy rửa. Các dụng cụ khác trong chuồng phải đảm bảo dễ vệ sinh, tẩy rửa sau mỗi lần sử dụng.
 
Các kho thức ăn, kho thuốc thú y, kho hoá chất và thuốc sát trùng, kho thiết bị, ... phải được thiết kế đảm bảo thông thoáng, không ẩm thấp và dễ vệ sinh, tiêu độc khử trùng.
 
2. Yêu cầu về con giống
 
Lợn giống mua về nuôi phải có nguồn gốc rõ ràng, khoẻ mạnh, có đầy đủ giấy kiểm dịch và phải có bản công bố tiêu chuẩn chất lượng kèm theo. Trước khi nhập đàn, lợn phải được nuôi cách ly theo quy định hiện hành.
 
Lợn giống sản xuất tại cơ sở phải thực hiện công bố tiêu chuẩn. Chất lượng con giống phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn đã công bố. Lợn giống phải được quản lý và sử dụng phù hợp theo quy định hiện hành.
 
3. Yêu cầu về thức ăn, nước uống
 
Thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn và khẩu phần ăn của các loại lợn.
 
Không sử dụng thức ăn thừa của đàn lợn đã xuất chuồng, thức ăn của đàn lợn đã bị dịch cho đàn lợn mới. Bao bì, dụng cụ đựng thức ăn của đàn lợn bị dịch bệnh phải được tiêu độc, khử trùng.
 
Nước dùng cho lợn uống phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng. Thành phần vô cơ (Asen, xianua, chì và thủy ngân), vi sinh vật (vi khuẩn hiếu khí và coliform tổng số) dưới mức cho phép.
 
 

Tuyệt đối không sử dụng thức ăn thừa cho lợn ăn, kể cả khi nấu chín
4. Chăm sóc, nuôi dưỡng
 
Các trại chăn nuôi phải áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp với các loại lợn và giai đoạn sinh trưởng phát triển.
 
5. Yêu cầu về vệ sinh thú y
 
Chất sát trùng tại các hố sát trùng ở cổng ra vào trại chăn nuôi, khu chăn nuôi và chuồng nuôi phải bổ sung hoặc thay hàng ngày.
 
Tất cả các phương tiện vận chuyển khi vào trại chăn nuôi, khu chăn nuôi phải đi qua hố khử trùng và phải được phun thuốc sát trùng. Mọi người trước khi vào khu chăn nuôi phải thay quần áo, giầy dép và mặc quần áo bảo hộ của trại.
 
Định kỳ phun thuốc sát trùng xung quanh khu chăn nuôi, các chuồng nuôi ít nhất 2 tuần/1 lần; phun thuốc sát trùng lối đi trong khu chăn nuôi và các dãy chuồng nuôi ít nhất 1 lần/tuần khi không có dịch bệnh, và ít nhất 1 lần/ngày khi có dịch bệnh; phun thuốc sát trùng trên lợn 1 lần/tuần khi có dịch bệnh bằng các dung dịch sát trùng thích hợp theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
 
Định kỳ phun thuốc sát trùng các dãy chuồng nuôi 
Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông và vệ sinh cống rãnh trong khu chăn nuôi ít nhất 1 lần/tháng.
 
Không vận chuyển lợn, thức ăn, chất thải hay vật dụng khác chung một phương tiện; phải thực hiện sát trùng phương tiện vận chuyển trước và sau khi vận chuyển. Phải vệ sinh máng ăn, máng uống hàng ngày.
 
Có biện pháp để kiểm soát côn trùng, loài gặm nhấm và động vật khác (nếu có) trong khu chăn nuôi. Khi sử dụng bẫy, bả phải có biển thông báo và ghi sơ đồ chi tiết vị trí đặt bẫy, bả và thường xuyên kiểm tra thu gom để xử lý.
 
Thực hiện các quy định về tiêm phòng cho đàn lợn theo quy định. Trong trường hợp trại có dịch, phải thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành về chống dịch.
 
Áp dụng phương thức chăn nuôi “cùng vào cùng ra” theo thứ tự ưu tiên cả khu, từng dãy, từng chuồng, từng ô. Sau mỗi đợt nuôi phải làm vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng, dụng cụ chăn nuôi và để trống chuồng ít nhất 7 ngày trước khi đưa lợn mới đến. Trong trường hợp trại bị dịch, phải để trống chuồng ít nhất 21 ngày.
 
6. Xử lý chất thải và bảo vệ môi trường
 
Các trại chăn nuôi bắt buộc phải có hệ thống xử lý chất thải trong quá trình chăn nuôi. Chất thải rắn phải được thu gom hàng ngày và xử lý bằng nhiệt, hoặc bằng hoá chất, hoặc bằng chế phẩm sinh học phù hợp. Chất thải rắn trước khi đưa ra ngoài phải được xử lý đảm bảo vệ sinh dịch tễ theo quy định hiện hành của thú y. Chất thải lỏng phải được xử lý bằng hoá chất hoặc bằng phương pháp xử lý sinh học phù hợp.
 
Theo Khuyennongvn.gov.vn

GẦN 20 NGHÌN TẤN VÔI BỘT VÀ HÓA CHẤT ĐỂ PHÒNG, CHỐNG DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Theo th&ocirc;ng tin từ Chi cục Chăn nu&ocirc;i v&agrave; Th&uacute; y tỉnh Bắc Giang, đến ng&agrave;y 9-3, bệnh dịch tả lợn ch&acirc;u Phi (DTLCP) đ&atilde; xảy ra tại 33 huyện của 13 tỉnh, th&agrave;nh phố trong cả nước l&agrave;: Hưng Y&ecirc;n, Th&aacute;i B&igrave;nh, Hải Ph&ograve;ng, Thanh H&oacute;a, H&agrave; Nội, H&agrave; Nam, Hải Dương, Điện Bi&ecirc;n, H&ograve;a B&igrave;nh, Th&aacute;i Nguy&ecirc;n, Quảng Ninh, Ninh B&igrave;nh v&agrave; Nam Định. Tổng số lợn bệnh v&agrave; ti&ecirc;u hủy hơn 11,3 ngh&igrave;n con.</div> <div> &nbsp;</div>
Theo thông tin từ Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Bắc Giang, đến ngày 9-3, bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại 33 huyện của 13 tỉnh, thành phố trong cả nước là: Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Nội, Hà Nam, Hải Dương, Điện Biên, Hòa Bình, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Ninh Bình và Nam Định. Tổng số lợn bệnh và tiêu hủy hơn 11,3 nghìn con.
 
 
 

 
Ông Ngô Xuân Lương, Chủ tịch Hội chăn nuôi lợn sạch Tân Yên hướng dẫn hội viên kê khai, ký cam kết chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh DTLCP.
 
 Đặc biệt, dịch đã xuất hiện tại huyện Phú Bình (Thái Nguyên) là địa phương tiếp giáp với huyện Hiệp Hòa và thị xã Đông Triều (Quảng Ninh) tiếp giáp với huyện Sơn Động (Bắc Giang).
 
Quyết tâm ngăn chặn bệnh dịch, UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT đã thành lập nhiều đoàn kiểm tra việc thực hiện phòng, chống bệnh DTLCP tại các xã, phường, thị trấn, trang trại và hộ chăn nuôi. Các huyện, TP yêu cầu các hộ chăn nuôi ký cam kết chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh DTLCP. Đồng thời thành lập nhiều tổ kiểm tra liên ngành cơ động kiểm tra việc phòng, chống bệnh dịch tại các điểm giết mổ, vận chuyển lợn, sản phẩm từ lợn trên các trục đường giao thông qua địa bàn.
 
 
Cán bộ thú y xã Cao Xá (Tân Yên) hướng dẫn các hộ chăn nuôi phun hóa chất tiêu độc, khử trùng.
 
Ông Lê Văn Dương, Chi cục Phó Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh cho biết, cùng với huyện Lạng Giang và Sơn Động, Hiệp Hòa đã thành lập 5 chốt kiểm soát việc vận chuyển lợn trên quốc lộ 37 đi Thái Nguyên và các xã tiếp giáp với các xã có ổ dịch của Thái Nguyên (một chốt do UBND huyện thành lập tại thôn Tam Hợp, xã Thanh Vân trên quốc lộ 37 đi huyện Phú Bình (Thái Nguyên); 4 chốt do các UBND xã Hoàng Thanh, Đồng Tân, Thanh Vân và Hoàng Lương thành lập (đây là các xã tiếp giáp với huyện Phú Bình). 
 
 
Các hộ chăn nuôi tại Hiệp Hòa chủ động rắc vôi bột, phun hóa chất khử trùng môi trường chăn nuôi.
 
Thời điểm này, các huyện, TP đang chỉ đạo cơ sở khẩn trương thực hiện tổng vệ sinh, tiêu độc khử trùng môi trường chăn nuôi; dành kinh phí mua hơn 10 nghìn tấn vôi bột. Trong đó, các xã dự trữ từ 3 đến 5 tấn vôi bột phục vụ phòng, chống dịch bệnh động vật (riêng Lạng Giang mỗi xã dự trữ từ 5-10 tấn vôi bột) để rắc vôi bột chuồng trại, khu vực chăn nuôi và đường làng, ngõ xóm... 
 
Để tăng tính chủ động, các huyện, TP đã trích ngân sách mua hơn 7 nghìn lít hóa chất thực hiện tiêu độc khử trùng phòng, chống dịch. Cụ thể: Lạng Giang 750 lít, Tân Yên 3.000 lít, Lục Nam 1.000 lít, Yên Dũng 970 lít, TP Bắc Giang 600 lít, Việt Yên 150 lít, Yên Thế 800 lít.
 
Đến nay, chưa phát hiện trường hợp lợn có dấu hiệu nghi mắc bệnh DTLCP trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
 
Theo baobacgiang.com.vn

THU NHẬP ỔN ĐỊNH QUANH NĂM TỪ NGHỀ VỖ BÉO BÒ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Để chủ động nguồn thức ăn đủ nu&ocirc;i vỗ b&eacute;o khoảng 15- 20 con b&ograve; trong điều kiện thời tiết như hiện nay quả thực rất kh&oacute;. Tuy nhi&ecirc;n với anh Chu Văn Đo&agrave;n ở th&ocirc;n B&ugrave;ng, x&atilde; Nh&atilde; Nam, huyện T&acirc;n Y&ecirc;n, Bắc Giang th&igrave; c&oacute; thể ho&agrave;n to&agrave;n chủ động được.</div> <div> &nbsp;</div>
Để chủ động nguồn thức ăn đủ nuôi vỗ béo khoảng 15- 20 con bò trong điều kiện thời tiết như hiện nay quả thực rất khó. Tuy nhiên với anh Chu Văn Đoàn ở thôn Bùng, xã Nhã Nam, huyện Tân Yên, Bắc Giang thì có thể hoàn toàn chủ động được.
Anh Đoàn nói: “Vỗ béo bò là nghề chính của gia đình, góp phần ổn định đời sống sinh hoạt cho 5 khẩu.Trung bình một năm tổng đàn bò của gia đình có khoảng 60 con, tương đương với 4 lần vào đàn, mỗi lần vào khoảng 15 con, mỗi con vỗ béo từ 2,5 – 3 tháng, sau khi trừ chi phí mỗi con cho lãi khoảng 2,5 – 3 triệu đồng/con”. Như vậy tiền lãi từ vỗ béo bò của gia đình anh Đoàn khoảng 120 – 150 triệu/năm.
 

Nghễ vỗ béo bò giúp anh Đoàn có thu nhập khá
Chị Thắm, vợ anh Đoàn tâm sự, anh chị đã gắn bó với cái nghiệp vỗ béo trâu bò cách đây hơn 10 năm và kinh tế gia đình chủ yếu dựa vào việc vỗ béo bò. Theo chị Thắm, cái khó khăn nhất trong việc vỗ béo trâu bò đó là vỗ vào thời điểm mùa đông. Khi điều kiện thời tiết rét đậm rét hại kéo dài, nguồn cỏ tự nhiên khan hiếm nếu như không chăm sóc nuôi dưỡng tốt rất có thể gây thiệt hại nặng về kinh tế.
 
Ý thức được việc trâu bò đổ ngã trong vụ đông chủ yếu do việc chăm sóc, nuôi dưỡng của chủ hộ không được tốt, chuồng nuôi không đủ ấm, nền chuồng ẩm ướt vậy nên năm nào gia đình chị cũng chuẩn bị rất kỹ lưỡng về chuồng trại, thức ăn và chủ động áp dụng tốt các biện pháp chăm sóc đàn trâu bò trước khi bước vào vụ đông.
 
Với số lượng đàn bò có thời điểm lên đến 20 con thì việc giải quyết đủ và đều thức ăn thô xanh quanh năm là hết sức quan trọng. Chính vì vậy ngoài việc dành một phần đất nông nghiệp để trồng cỏ và gieo ngô dầy cho trâu bò ăn thì anh chị còn tận dụng hết những bờ bãi bỏ hoang để trồng cỏ VA06, cỏ Ngô… Ngoài việc cho năng suất cao thì các giống cỏ này có thời gian khai thác lâu 2-3 năm sau mới phải trồng lại.
 
Vào những thời điểm cỏ sinh trưởng, phát triển mạnh như mùa hè, nguồn thức ăn dồi dào, gia đình chị thường tận dụng cỏ, rơm và thân cây ngô đem phơi khô đánh đống bảo quản trong nhà kho hoặc ủ chua để dự trữ.
 
Hàng năm anh chị thường xuyên tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật do Trạm Khuyến nông huyện, Trung tâm Khuyến nông tỉnh tổ chức nên cũng học hỏi và áp dụng được rất nhiều những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn chăn nuôi như: Tiến bộ trong việc ủ chua thức ăn, ủ rơm với urê hoặc phương pháp làm mền thân cây ngô làm mềm rơm cho trâu bò ăn.
 
Điều đặc biệt anh chị nhận thấy rằng sau khi xử lý rơm, cỏ hay thân cây ngô bằng các phương pháp trên thì trâu bò ăn được nhiều hơn, lớn nhanh hơn nên nhanh được xuất bán hơn.
 
Ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng đàn trâu bò anh chị cũng rất chú trọng việc tu sửa, che chắn chuồng trại mỗi khi mùa động về. Không những che chắn bằng bạt anh chị luôn giữ cho nền chuồng sạch sẽ, khô ráo tránh dội nước rửa nền chuồng. Việc vỗ béo bò của gia đình vào mùa đông chủ yếu là nuôi nhốt tại chuồng nhất là những ngày nhiệt độ xuống <10 độ C thì không lùa trâu bò đi chăn mà cung cấp thức ăn nước uống tại chuồng cho trâu bò ăn.
 
Một trong những công tác góp phần tạo nên thành công từ việc vỗ béo trâu bò của gia đình anh chị đó là công tác vệ sinh thú y và phòng dịch bệnh.
 
Sau mỗi lứa nuôi anh chị thường để trống chuồng khoảng 15 ngày, trong những ngày chống chuồng anh chị thường vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại và khu chăn nuôi bằng vôi bột và các loại thuốc sát trùng.
 
Hằng năm anh chị thực hiện tốt việc tiêm phòng định kỳ cho đàn trâu bò của gia đình theo đúng sự chỉ dẫn của cán bộ thú y địa phương. Chính vì làm tốt các công tác trên mà gia đình anh hầu như không bị thiệt hại về kinh tế do dịch bệnh gây ra.
Theo Nongnghiep.vn

CẢI THIỆN, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN GIỐNG

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Trong năm 2018, Trung t&acirc;m Giống chăn nu&ocirc;i Nghệ An tiếp tục đẩy mạnh c&ocirc;ng t&aacute;c phối giống cải tạo giống b&ograve; v&agrave; cải tiến giống tr&acirc;u dựa tr&ecirc;n 2 phương thức: thụ tinh nh&acirc;n tạo (v&ugrave;ng đồng bằng v&agrave; n&uacute;i thấp) v&agrave; nhảy trực tiếp (v&ugrave;ng n&uacute;i cao), kết quả đạt được rất đ&aacute;ng ghi nhận.</div> <div> &nbsp;</div>
Trong năm 2018, Trung tâm Giống chăn nuôi Nghệ An tiếp tục đẩy mạnh công tác phối giống cải tạo giống bò và cải tiến giống trâu dựa trên 2 phương thức: thụ tinh nhân tạo (vùng đồng bằng và núi thấp) và nhảy trực tiếp (vùng núi cao), kết quả đạt được rất đáng ghi nhận.
 

Chất lượng con giống tại Nghệ An ngày càng được cải thiện
Theo đó, phương thức phối bằng thụ tinh nhân tạo (TTNT) trên bò lai Zebu được thực hiện tại 16 huyện, thành thị trên địa bàn với 36.528 liều tinh, kết quả 24.352 con/kế hoạch 24.352 con có chửa, đạt 100%. Đối với bò bữa, tổng số liều tinh thực hiện là 1.300 liều, có 650 con có chửa, đạt 100% kế hoạch.
 
Về phối giống TTNT đối với trâu trong năm 2018 là 1.400 liều/kế hoạch 1.400 liều, tương ứng 700 con có chửa, đạt tỷ lệ 100% kế hoạch.
 
Áp dụng theo Quyết định 50/CP, Trung tâm Giống chăn nuôi đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tham gia cung ứng tinh lợn theo Công văn chỉ đạo của Sở và hợp đồng cung ứng với Chi cục Chăn nuôi - Thú y. Trung tâm đã cung ứng số lượng trên 50.000 liều tinh các loại cho các hộ.
 
Qua theo dõi thực tế, Trung tâm đã chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan, xây dựng thành công nhiều mô hình điểm. Điển hình là dự án “Cải tạo chất lượng đàn bò địa phương bằng kỹ thuật TTNT và vỗ béo bò thịt nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả” tại 2 xã Ngọc Sơn và Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Lưu. Kết quả phối giống thành công 200 con có chửa, đạt tỷ lệ 100 %; mô hình ứng dụng TTNT giống bò Red Angus với đàn bò cái nền lai Zebu triển khai tại các xã Hưng Long, Hưng Nhân và Hưng Lam, huyện Hưng Nguyên; phối hợp với Trung tâm nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi xây dựng mô chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học tại 3 xã Thanh Thủy, Thanh Mai, Thanh Ngọc huyện Thanh Chương quy mô 15.000 con, kết quả đã khảo sát chọn điểm, chọn hộ, hướng dẫn kỹ thuật và cấp con giống, thức ăn, nghiệm thu tổng kết mô hình đúng tiến độ...
 
Năm 2018, Trung tâm đã tổ chức thành công chuyến tham quan mô hình chăn nuôi tại các tỉnh phía Nam, qua đó giúp cho cán bộ chuyên ngành nâng cao năng lực, thay đổi cách nhìn, cách tiếp cận mới.
 
Cùng với đó, Trung tâm đã tổ chức đào tạo nâng cao chuyên môn nghiệp vụ về gia cấm cho 4 cán bộ kỹ thuật, mở lớp đào tạo cho 12 dẫn tinh viên phối giống TTNT bò. Tổ chức 15 lớp tập huấn kỹ thuật cho 900 lượt người chăn nuôi, 2 lớp TOT cho 60 cán bộ khuyến nông cấp xã, thôn bản.
 
Theo Nongnghiep.vn