Chăn nuôi-Gia súc

Yên Thế: Đồng Hưu nâng tầm sản phẩm nhung hươu

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: &quot;Times New Roman&quot;, serif; text-align: justify;">Đồng Hưu l&agrave; x&atilde; miền n&uacute;i của huyện Y&ecirc;n Thế, điều kiện tự nhi&ecirc;n kh&aacute; thuận lợi cho ph&aacute;t triển vườn đồi, trang trại, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, phong ph&uacute;, c&oacute; gi&aacute; trị kinh tế cao như nhung hươu, mật ong, g&agrave; đồi, c&acirc;y l&acirc;m nghiệp v&agrave; c&aacute;c loại c&acirc;y ăn quả c&oacute; m&uacute;i. Đặc biệt, n&oacute;i đến Đồng Hưu, kh&ocirc;ng thể kh&ocirc;ng nhắc sản phẩm nổi tiếng l&agrave; nhung hươu.</span></p>

Mỗi con hươu đực được nhốt vào từng ô chuồng riêng để tránh hiện tượng đánh nhau

Đồng Hưu là xã miền núi của huyện Yên Thế, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho phát triển vườn đồi, trang trại, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú, có giá trị kinh tế cao như nhung hươu, mật ong, gà đồi, cây lâm nghiệp và các loại cây ăn quả có múi. Đặc biệt, nói đến Đồng Hưu, không thể không nhắc sản phẩm nổi tiếng là nhung hươu.

Nuôi hươu lấy nhung ở Đồng Hưu đang phát triển khá mạnh, là sản phẩm thế mạnh, riêng biệt không phải vùng nào cũng có. Tuy nhiên, trước đây giá trị mang lại chưa thật sự xứng với tiềm năng. Vài năm trở lại đây, được sự quan tâm của các cấp, ngành, xã Đồng Hưu lựa chọn sản phẩm nhung hươu là sản phẩm chủ lực tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) để nâng tầm sản phẩm.

Được biết đến là một trong những hộ chăn nuôi hươu quy mô lớn ở xã Đồng Hưu, gia đình ông Lê Văn Cường ở thôn Trại Vanh hiện đang nuôi hươu cho biết: do ít vốn nên ban đầu gia đình chỉ đầu tư mua 5 con hươu sao giống về nuôi. Nhờ áp dụng kiến thức nuôi hươu học được sau lần tham quan mô hình tại các mô hình nuôi hươu khác, đàn hươu phát triển, sinh sản tốt. Sang năm thứ hai, đàn hươu bắt đầu sinh sản lứa thứ nhất.

Những năm đầu, ông Cường chủ yếu gây giống để nhân đàn. Sau đó, mở rộng quy mô chuồng nuôi, đến nay đàn hươu phát triển lên 21 con, trong đó 13 con đực đang cho khai thác nhung, 6 con nái và 2 hươu con được 5 tháng tuổi. Mỗi con đực sau khoảng 18 tháng tuổi bắt đầu cho khai thác nhung. Lần đầu khai thác, mỗi con cho từ 1- 2 lạng nhung. Những năm tiếp theo sản lượng đạt cao dần lên và đến năm thứ 7 thì sản lượng nhung đạt cao nhất, mỗi con đạt 1,5kg nhung/năm, cá biệt, những con to đạt 1 – 1,1 kg nhung/con/ lần khai thác.

Thời gian khai thác nhung theo mùa, mỗi con hươu cho 2 đợt nhung. Hươu ra nhung khoảng từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau là cắt mẻ nhung cuối cùng. Nhung ra nhiều nhất là tháng 2, khi mùa xuân đến, mùa của đâm chồi nảy lộc nên con nào cũng ra nhung bất kể là ra lần một hay lần hai. Nếu tháng 2 ra nhung thì đến tháng 5 được cắt nhung.

Trong quá trình chăn nuôi, ngoài kinh nghiệm thực tế, ông Cường còn chịu khó tìm học tài liệu kỹ thuật chăm sóc. Do vậy, ông đã nắm được đặc tính của hươu. Chăm sóc hươu không khó, thức ăn của chúng chủ yếu là lá cây rừng, cỏ voi và các loại rau, củ, quả. Từ tháng 10 trở đi, giai đoạn trước khi lên nhung khoảng 3 tháng thì người nuôi nên chăm sóc bổ sung dinh dưỡng cho hươu để nhung được to, phát triển tốt. Đến giai đoạn này, người nuôi hươu nên bổ sung thêm mầm ngô, đậu tương bằng cách ngâm ủ hạt giống như làm giá đỗ để cho hươu ăn và cần cho ăn cà dốt để có được màu nhung đẹp hơn, chất lượng nhung tốt.

Ông Cường bật mí, “Hươu là loài vật dễ nuôi, chủ yếu nuôi nhốt. Vốn đầu tư ban đầu không lớn, chỉ từ 20 triệu đồng/cặp giống. Khi hươu đủ 2 tuổi bắt đầu sinh sản, trong khi hươu đực cũng cho khai thác nhung lần đầu. Đợt khai thác nhung vừa qua, gia đình tôi thu hoạch được 13kg nhung, với giá bán tại nhà dao động từ 17 – 20 triệu đồng/kg tùy thời điểm, trừ các khoản chi phí đem lại thu nhập trên 200 triệu đồng/năm. Ngoài khai thác nhung, hàng năm gia đình tôi còn thu được hàng chục triệu đồng từ việc bán con giống”.

Học tập mô hình của ông Cường, hiện nay trên địa bàn xã Đồng Hưu có 45 hộ nuôi hươu, quy mô mỗi hộ khoảng từ 5- 20 con. Cùng đó, ông Cường cũng hỗ trợ kỹ thuật và bán giống cho các hộ trên địa bàn để mở rộng quy mô, phát triển mô hình và cho hiệu quả khá tốt.

Anh Nguyễn Khắc Hải- Chủ tịch Hội Nông dân xã Đồng Hưu cho biết, “ông Lê Văn Cường nuôi hươu được gần 20 năm, đây là mô hình chăn nuôi hươu tiêu biểu của xã. Thực tế nuôi hươu của ông Cường cho hiệu quả rõ rệt. Tới đây, xã Đồng Hưu đăng ký thành lập Tổ hợp tác, Hợp tác xã chăn nuôi hươu nhằm liên kết các hộ trong sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm. Từ đó, nâng tầm sản phẩm nhung hươu mà xã đã đăng ký nhung hươu là sản phẩm chủ lực tham gia chương trình mỗi xã một sản phẩm nhằm tạo việc làm tại chỗ và tăng thu nhập cho bà con ở địa phương”.

Bài, ảnh: Hương Giang

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Lục Nam: Lợn “sạch” Vô Tranh

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: &quot;Times New Roman&quot;, serif; text-align: justify;">Hiện nay, vấn đề an to&agrave;n vệ sinh thực phẩm đang được người ti&ecirc;u d&ugrave;ng quan t&acirc;m, nhất l&agrave; sản phẩm chăn nu&ocirc;i sạch theo quy tr&igrave;nh đảm bảo an to&agrave;n. Xuất ph&aacute;t từ thực tế đ&oacute;, gia đ&igrave;nh anh Ng&ocirc; Thế Cường th&ocirc;n Ao V&egrave;, x&atilde; V&ocirc; Tranh, huyện Lục Nam đ&atilde; mạnh dạn đầu tư hệ thống chuồng trại chăn nu&ocirc;i lợn theo phương ph&aacute;p hữu cơ, với mục ti&ecirc;u hướng tới sản phẩm sạch đ&aacute;p ứng nhu cầu của người ti&ecirc;u d&ugrave;ng.</span></p>

 

Hiện nay, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm đang được người tiêu dùng quan tâm, nhất là sản phẩm chăn nuôi sạch theo quy trình đảm bảo an toàn. Xuất phát từ thực tế đó, gia đình anh Ngô Thế Cường thôn Ao Vè, xã Vô Tranh, huyện Lục Nam đã mạnh dạn đầu tư hệ thống chuồng trại chăn nuôi lợn theo phương pháp hữu cơ, với mục tiêu hướng tới sản phẩm sạch đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

 

 

Theo chân cán bộ nông nghiệp xã Vô Tranh chúng tôi đến thăm trại lợn với tổng diện tích gần 2ha, chăn nuôi theo hướng hữu cơ của gia đình anh Cường, diện tích chuồng trại 500m2, diện tích còn lại được anh Cường bố trí trồng các loại rau phục vụ nuôi lợn hữu cơ và các loại cây ăn quả như bưởi, cam, hồng xiêm, chuối và chăn nuôi gà.

Anh Cường cho biết, “sau khi khảo sát thị trường, tham khảo các thông tin, tôi nhận thấy, người dân ngày càng chú ý đến việc tiêu dùng các loại thực phẩm sạch mà thịt lợn là một trong những thực phẩm có nhu cầu tiêu dùng nhiều. Phần lớn người dân hiện nay đều mua thịt lợn theo kiểu tìm những chỗ thân quen, chủ yếu dựa vào sự tin tưởng lẫn nhau để mua. Tôi nghĩ tại sao mình không chuyển sang nuôi lợn sạch để đáp ứng nhu cầu của thị trường và mở hướng mới trong nghề chăn nuôi”.

Năm 2019, gia đình anh Cường bắt đầu xây dựng trang trại lợn bằng hệ thống chuồng sàn chăn nuôi lợn tiết kiệm nước giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi, mặt chuồng nuôi luôn khô ráo, lợn sạch sẽ ít bệnh, không tốn công chăm sóc, dọn dẹp và đặc biệt không tốn nước rửa chuồng. Ngoài ra gia đình anh còn xây bể biogas để vừa xử lý chất thải chăn nuôi và vừa có khí ga để đun nấu. Sau khi xây xong chuồng và dịch tả lợn Châu Phi ổn định anh bắt đầu vào chăn nuôi lợn hữu cơ, ban đầu nuôi với quy mô gần 70 con.

Khu vực nuôi lợn của gia đình anh được bố trí rất quy củ, gồm 6 chuồng, phân chia theo lứa tuổi gồm khu nuôi lợn nái sinh sản, khu nuôi lợn mới tách mẹ và đặc biệt có khu nuôi lợn con lợn con sau khi được tách mẹ và được chăm sóc ổn định khoẻ thì cho vào chuồng.

Thức ăn toàn bộ sử dụng các loại thức ăn tự nhiên hữu cơ như cám gạo, cám ngô. Rau xanh để ủ làm thức ăn cho lợn. Để bổ sung thêm chất đạm, dinh dưỡng cho lợn, anh Cường còn đầu tư xây dựng cả một khu chuồng nuôi trùn quế với diện tích 300m2. Sản phẩm trùn sẽ làm thức ăn cho lợn.

Chăn nuôi hữu cơ, công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn lợn được gia đình anh rất quan trọng. Theo anh Cường, việc phòng bệnh được anh ưu tiên hàng đầu. thực hiện chặt chẽ nghiêm ngặt công tác phòng bệnh, phun thuốc khử trùng toàn bộ và xung quanh chuồng trại thường xuyên, người ra vào chuồng cũng phải tuân thủ tiêu độc khử trùng trước khi ra vào khu vực chuồng trại. Nếu như nuôi lợn theo phương pháp công nghiệp thời gian nuôi từ khi sinh đến khi xuất chuồng chỉ mất khoảng 4- 4,5 tháng, thì nuôi lợn phương pháp hữu cơ phải mất 6 - 7 tháng, bởi khi lợn nuôi lâu, lớn chậm thì da mới dày và thịt mới chắc, thơm ngon. Đầu năm, gia đình đã bán 50 con lợn thịt, lợn này được gia đình mổ bán với giá bán 150.000 đồng/kg trừ chi phí thu lãi 400 triệu đồng, trong khi đó, thịt lợn tại địa phương bán với giá 135.000 đồng/kg.

Sau khi thấy hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi anh Cường mở rộng quy mô lên 12 lợn nái sinh sản và gần 200 con lợn thịt. Lợn nái sinh sản đến đâu gia đình để nhân giống để nuôi. Hiện, có 25 - 30 con lợn thịt đang đạt trọng lượng 90kg dự kiến 20 ngày nữa xuất chuồng với giá bán hiện tại 170.000 đồng/kg ước tính thu lãi khoảng 300 triệu.

Thịt lợn của gia đình anh bán cho bà con quanh xã mọi người đều phản hồi thịt thơm ngon. Dự kiến thời gian tới anh sẽ mở rộng thị trường và đưa sản phẩm lợn hữu cơ vào các cửa hàng thực phẩm sạch của huyện và tỉnh Bắc Giang.

Ông Tăng Văn Luật - Giám đốc trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện Lục Nam cho biết mô hình chăn nuôi lợn theo phương pháp hữu cơ là cách làm mới, mạnh dạn của gia đình anh Ngô Thế Cường. Đây là mô hình có hướng phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp, tạo ra sản phẩm an toàn cho sức khoẻ người tiêu dùng.

Bài, ảnh: Trần Vĩnh

theo http://khuyennongbacgiang.com/

 

 

Bắc Giang: Công nghệ Wetland xử lý hiệu quả môi trường chăn nuôi

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<h5 style="text-align: justify;"> <span style="font-size: 12px;">Đến thăm trang trại chăn nu&ocirc;i của gia đ&igrave;nh anh Dương Đức Việt ở th&ocirc;n Nguộn, x&atilde; Thượng Lan, huyện Việt Y&ecirc;n, mỗi năm chăn nu&ocirc;i h&agrave;ng trăm con lợn thịt kh&ocirc;ng những đem lại lợi nhuận kinh tế h&agrave;ng trăm triệu đồng m&agrave; c&ograve;n đem lại hiệu quả kinh tế cao từ thu hoạch c&aacute; v&agrave; c&acirc;y ăn quả&hellip;</span></h5> <p style="text-align: justify;"> Đ&acirc;y cũng l&agrave; hộ ti&ecirc;n phong trong việc ứng dụng m&ocirc; h&igrave;nh xử l&yacute; nước thải sau biogas bằng c&ocirc;ng nghệ Wetland đem lại hiệu quả thiết thực.</p>
Đến thăm trang trại chăn nuôi của gia đình anh Dương Đức Việt ở thôn Nguộn, xã Thượng Lan, huyện Việt Yên, mỗi năm chăn nuôi hàng trăm con lợn thịt không những đem lại lợi nhuận kinh tế hàng trăm triệu đồng mà còn đem lại hiệu quả kinh tế cao từ thu hoạch cá và cây ăn quả…

Đây cũng là hộ tiên phong trong việc ứng dụng mô hình xử lý nước thải sau biogas bằng công nghệ Wetland đem lại hiệu quả thiết thực.

Trang trại chăn nuôi của anh Việt nằm xa khu dân cư, với quy mô trang trại khoảng 3 mẫu, gia đình anh quy hoạch khoảng 2 mẫu là chuồng nuôi lợn, vườn cây ăn quả, còn lại 1 mẫu đào ao, thả cá. Từ khi bắt đầu nuôi lợn gia đình có xây dựng hầm khí sinh học để xả chất thải của lợn. Nhưng nhận thấy, để xử lý triệt để hơn mùi hôi cần xây dựng mô hình xử lý chất thải sau biogas bằng công nghệ Wetland nên anh đã được Dự án Hỗ trợ Nông nghiệp cac bon thấp tư vấn và hỗ trợ xây dựng.

Hệ thống bể Wetland của gia đình anh Dương Đức Việt 

Đây là mô hình xử lý nước thải sau biogas bằng phương pháp sinh học và cơ học không sử dụng hóa chất nhờ những loại cây thủy sinh như cỏ voi, cỏ Vetiver... Xử lý nước bằng cách lợi dụng khả năng hấp thụ các chất ô nhiễm của các loại thủy sinh như các chất hữu cơ, amoni, các kim loại nặng, As, Fe …, chúng hấp thụ các chất khó phân giải này như nguồn thức ăn từ đó phát triển thành sinh khối. Từ đó, các chất ô nhiễm sẽ bị loại bỏ trong quá trình chúng phát triển.

Theo đánh giá của anh Dương Đức Việt, từ khi xây dựng bể xử lý nước thải sau biogas mùi hôi từ môi chuồng trại không còn nữa. Đặc biệt, nước thải sau biogas được chảy xuống bể và qua các ngăn lọc đến bể chứa có thể tận dụng làm nước tưới cho vườn cây ăn quả và định kỳ xả xuống ao nuôi cá.

Thăm quan vườn cây ăn quả của anh Việt để cảm nhận được màu xanh tốt của cây bưởi, hồng xiêm, chanh và đặc biệt dưới những tán cây đó hàng năm, gia đình thu hoạch được hàng tấn sả, đem lại lợi nhuận khoảng 30-40 triệu đồng. Xung quanh vườn, các loại rau ăn lá mọc xanh tốt, xum xuê, đó thực sự là nguồn rau hữu cơ được tưới nước ở bể nước thải sau biogas. Toàn bộ khu vườn vẫn xanh tốt mà không cần mất tiền mua phân hóa học, mỗi năm cũng tiết kiệm được một khoản chi phí cho gia đình.

Vườn cây nhà anh Dương Đức Việt xanh tốt nhờ nước tưới sau biogas

Anh Ngô Văn Cường, kỹ thuật viên Dự án LCASP huyện Việt Yên cho biết, hiện công nghệ Wetland đang được đánh giá là công nghệ xử lý nước thải mới nhất, hiện đại nhất, ứng dụng rộng rãi, như một giải pháp cho phương án xử lý nước cấp, nước thải mà yêu cầu không dùng hóa chất, thân thiện với môi trường và phù hợp với xu thế phát triển. Với khả năng xử lý làm sạch môi trường nước sau biogas, thì hệ thống này còn làm cho khuôn viên xanh sạch, mang lại cho người dân sống trong khu vực bầu không khí trong lành. Công nghệ Wetland được ứng dụng rộng rãi sẽ giúp việc xử lý hiệu quả nước thải sau biogas, thân thiện với môi trường. Mô hình cần được tuyên truyền và nhân ra diện rộng để các trang trại, gia trại chăn nuôi đều được tiếp cận.

Theo https://snnptnt.bacgiang.gov.vn/

XÂY DỰNG VÙNG CHĂN NUÔI BÒ SỮA AN TOÀN ĐỂ CHIẾM LĨNH THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Ti&ecirc;u thụ sữa tại Trung Quốc hiện xếp thứ 2 thế giới, với tổng gi&aacute; trị 60 tỷ USD. Thế nhưng, nguồn cung nội địa mới chỉ đ&aacute;p ứng được 75% nhu cầu.</div> <div> &nbsp;</div>
Tiêu thụ sữa tại Trung Quốc hiện xếp thứ 2 thế giới, với tổng giá trị 60 tỷ USD. Thế nhưng, nguồn cung nội địa mới chỉ đáp ứng được 75% nhu cầu.
 

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến phát biểu tại lễ ký thỏa thuận hợp tác “Xây dựng chuỗi sản xuất sữa và vùng chăn nuôi bò sữa an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm để xuất khẩu, giai đoạn 2019 – 2022”.
Việc Nghị định thư về “Các yêu cầu thú y và sức khỏe cộng đồng đối với các sản phẩm sữa xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc” được Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường và Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Trung Quốc ký ngày 26/4/2019 có một ý nghĩa rất quan trọng đối với ngành chăn nuôi của Việt Nam nói chung, đặc biệt là ngành nuôi bò sữa, sản xuất, chế biến sữa.
 
Điều này mang đến những vận hội mới cho các doanh nghiệp sản xuất sữa, chế biến các sản phẩm từ sữa trong nước có cơ hội để đưa các sản phẩm của mình tiếp cận thị trường tiêu thụ “khổng lồ” với dân số hơn 1,4 tỷ dân của Trung Quốc.  
 
Thị trường lớn đã rộng mở
Là quốc gia có nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới với quy mô dân số chiếm hơn 18,4% dân số toàn thế giới, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ hàng hóa đầy tiềm năng, là đích nhắm đến đối với bất kỳ quốc gia nào không chỉ riêng Việt Nam.
 
Từ nhiều năm nay, Trung Quốc luôn là thị trường lớn, rất quan trọng đối với việc tiêu thụ các sản phẩm nông thủy, hải sản của Việt Nam.
 
Đặc biệt với việc Trung Quốc chính thức mở cửa thị trường với sản phẩm sữa của Việt Nam thực sự là một bước ngoặt lớn đối với ngành nông nghiệp nước ta, cụ thể là các doanh nghiệp chăn nuôi bò sữa, sản xuất, chế biến sữa.
 
 

Cần xây dựng vùng chăn nuôi bò sữa an toàn để chiếm lĩnh thị trường Trung Quốc.
Bởi mỗi năm, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ các sản phẩm sữa ước tính có giá trị lên đến 30 tỷ USD. Theo số liệu thống kê, năm 2018 quốc gia này đã phải nhập khẩu các sản phẩm sữa lên tới 10 tỷ USD.
 
Gần đây, phát biểu tại sự kiện lô sữa đầu tiên của Tập đoàn TH True Milk được xuất khẩu sang Trung Quốc, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường không giấu được niềm vui.
 
Ông cho rằng: “Đây chính là “trái ngọt” của ngành nông nghiệp Việt Nam. Không chỉ đơn thuần là nghi thức xuất khẩu một lô hàng của một doanh nghiệp ra thị trường nước ngoài, mà là sự kiện hết sức quan trọng đánh dấu bước ngoặt của nền nông nghiệp Việt Nam”.
 
Trước đó, xác định Trung Quốc là một thị trường tiềm năng cho nông sản Việt Nam nói chung, trong đó có sản phẩm sữa, Bộ NN-PTNT cùng một số doanh nghiệp đã thành lập nhiều đoàn công tác sang Trung Quốc nhằm xúc tiến thương mại.
 
 

 
Tổng đàn bò sữa Việt Nam hiện vào khoảng 300.000 con.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ NN-PTNT, từ năm 2016, Cục Thú y đã phối hợp với các đơn vị liên quan chuẩn bị, cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc các tài liệu, chương trình, kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc quản lý, kiểm tra, giám sát việc sản xuất sữa và sản phẩm sữa tại Việt Nam để phục vụ việc đánh giá, mở cửa thị trường sản phẩm sữa từ Việt Nam.  
 
Không còn dễ dãi
Cơ hội để đưa các mặt hàng sữa của Việt Nam vào thị trường có dân số chiếm gần 1/5 dân số thế giới đã mở ra. Trước đây, Trung Quốc là thị trường truyền thống, chủ yếu, dễ dãi của các mặt hàng nông sản Việt Nam, thậm chí là “bán gì cũng mua”.
 
Tuy nhiên, gần đây, Trung Quốc đã đưa ra nhiều yêu cầu khắt khe về chất lượng đối với các mặt hàng nông sản nhập khẩu. Theo đó, Trung Quốc thực hiện siết chặt nhập khẩu tiểu ngạch, đưa các tiêu chuẩn nghiêm ngặt đối với hàng hóa nhập khẩu.
 
 

 
Ông Nguyễn Văn Long, Phó Cục trưởng Cục Thú y, phát biểu tại lễ ký thỏa thuận hợp tác.
Cụ thể đối với các sản phẩm sữa của Việt Nam, Hải quan Trung Quốc yêu cầu phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kiểm nghiệm liên quan theo Luật An toàn thực phẩm và Luật kiểm dịch động thực vật của Trung Quốc; Nghị định thư giữa hai nước cũng như các quy định về giám sát, quản lý kiểm nghiệm, kiểm dịch...
 
Ngoài ra các cơ quan chức năng của trung Quốc cũng đưa ra yêu cầu đối với các doanh nghiệp sữa của Việt Nam phải tiến hành các thủ tục đăng ký với Hải quan Trung Quốc và phải được sự chấp thuận của các cơ quan quản lý của Việt Nam; phải thẩm định về kiểm dịch để được cấp Giấy phép kiểm dịch động thực vật của trong nước, sau đó mới có thể chính thức xuất khẩu được sữa sang thị trường Trung Quốc...
 
Thêm một khó khăn nữa là, các doanh nghiệp sữa Việt Nam phải cạnh tranh với hàng trăm thương hiệu sữa nổi tiếng của các quốc gia khác trên thế giới đang hiện diện Trung Quốc.
 
 

 
Thị trường Trung Quốc ngày càng yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn sữa và các sản phẩm từ sữa.
 
Đảm bảo đủ điều kiện an toàn để xuất khẩu
Để hiện thực hóa Nghị định thư, Bộ NN-PTNN đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, Thông tư hướng dẫn. Các cơ quan chức năng của Bộ đã chỉ đạo, phối hợp các địa phương, doanh nghiệp tổ chức thực hiện nghiêm theo các nội dung đã được ký kết.
 
Theo Nghị định thư, sữa Việt Nam khi xuất sang Trung Quốc phải đến từ các vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh.
 
Đây là một thách thức không nhỏ vì gần 1/2 trong tổng đàn khoảng 300 nghìn con bò sữa của nước ta được nuôi ở quy mô nông hộ. Và các doanh nghiệp sữa đang gặp khó khăn trong việc kiểm soát dịch bệnh.
 
Phát biểu tại Lễ ký thỏa thuận hợp tác “Xây dựng chuỗi sản xuất sữa và vùng chăn nuôi bò sữa an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm để xuất khẩu, giai đoạn 2019 – 2022” vừa qua giữa Cục Thú y, Sở NN-PTNT tỉnh Sơn La và Công ty CP Giống bò sữa Mộc Châu, Thứ trưởng Bộ NN – PTNT Phùng Đức Tiến chỉ đạo Cục Thú y tăng cường hơn nữa công tác chỉ đạo cũng như phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp để xây dựng vùng an toàn dịch bệnh và an toàn thực phẩm.
 
Đây vừa là để chủ động phòng chống dịch bệnh, vừa tái cơ cấu chăn nuôi theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, đảm bảo các điều kiện để đẩy mạnh xuất khẩu.  
 
“Mặc dù ngành sữa của nước ta hiện nay là ngành đang đi tiên phong khi có trình độ công nghệ và trang thiết bị như các nước tiên tiến khác, với mức tăng trưởng liên tục nhiều năm (có năm tăng tới 21%, đạt 960 nghìn tấn sữa năm 2018); tuy nhiên, mục tiêu xây dựng thành công vùng chăn nuôi bò sữa an toàn dịch bệnh rất quan trọng.
 
Bởi lẽ: Các sản phẩm sữa chỉ xuất khẩu được khi đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu theo quy định của Việt Nam, của Tổ chức Thú y thế giới (OIE) và yêu cầu của quốc gia nhập khẩu” – Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định.
 
Theo: nongnghiep.vn

YÊN BÁI BÀN VIỆC TÁI ĐÀN LỢN

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Dịch tả lợn Ch&acirc;u Phi (DTLCP) xảy ra từ ng&agrave;y 4/5/2019 đến nay đ&atilde; ph&aacute;t sinh tại 5.157 hộ, 519 th&ocirc;n, bản ở 123 x&atilde;, phường, thị trấn ở tất cả 9 huyện, thị của tỉnh Y&ecirc;n B&aacute;i.</div> <div> &nbsp;</div>
Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) xảy ra từ ngày 4/5/2019 đến nay đã phát sinh tại 5.157 hộ, 519 thôn, bản ở 123 xã, phường, thị trấn ở tất cả 9 huyện, thị của tỉnh Yên Bái.
 

Phun thuốc khử trùng chuồng trại.
Tổng đàn lợn mắc dịch buộc phải tiêu hủy 27.712 con, trọng lượng 1.248 tấn. Việc tái đàn đang cấp thiết đối với người chăn nuôi để bù vào số lợn đã thiếu hụt nghiêm trọng…
 
Cơn bão DTLCP quét qua tỉnh Yên Bái đã gây thiệt hại rất nặng nề cho các địa phương của tỉnh Yên Bái, theo thống kê những huyện bị thiệt hại nặng nề nhất là Văn Yên bị 11.144 con lợn nhiễm dịch, buộc tiêu hủy, trọng lượng 469,9 tấn; Trấn Yên có 7.247 con buộc tiêu hủy, trọng lượng 302,55 tấn; Lục Yên có 2.663 con nhiễm dịch buộc tiêu hủy, trọng lượng 154,7 tấn; Văn Chấn có 2.183 con nhiễm dịch buộc tiêu hủy, trọng lượng 111,36 tấn… Đàn lợn bị thiệt hại 6%, không tái đàn 6%, đàn lợn thiếu hụt 12%.
 
Tỉnh Yên Bái đã tổ chức 77 chốt kiểm soát dịch bệnh, phun 13.030 lít thuốc sát trùng, 41,5 tấn vôi sát trùng. Tổ kiểm soát liên ngành đã kiểm tra 230 lượt cơ sở, phương tiện trong đó có 9 cơ sở chăn nuôi, 31 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, 185 lượt phương tiện vận chuyển… Xử phạt hành chính 69,5 triệu đối với 18 trường hợp vi phạm vận chuyển lợn, thịt lợn không rõ nguồn gốc. Đây là biện pháp cứng rắn và quyết liệt để ngăn chặn việc vận chuyển lợn qua địa bàn tỉnh Yên Bái.
 
Hiện hai huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải và Văn Chấn sau 30 ngày không phát dịch, 55/123 xã đã qua 30 ngày không phát dịch.
 
Kinh phí hỗ trợ cho công tác chống dịch 44,3 tỷ, trong đó hỗ trợ cho các hộ có lợn bị tiêu hủy là 27,72 tỷ, hỗ trợ công tác phòng chống dịch 3,125 tỷ. Thiệt hại do tiêu hủy và hỗ trợ người chăn nuôi khoảng 80 tỷ, tổng thiệt hại do tiêu hủy và thời gian ngừng tái đàn ước tính 100 tỷ. Đây là sự thiệt hại rất lớn đối với một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn như Yên Bái.
 
Nhu cầu tái đàn đang là yêu cầu cấp thiết của người chăn nuôi cũng như yêu cầu thị trường để phục hồi ngành chăn nuôi. Theo thống kê, hiện nay tỉnh Yên Bái còn 440.000 con lợn, trong đó có 52.325 con lợn nái, 1.253 con lợn đực giống. Đàn lợn ở 16 trang trại có quy mô lớn còn 38.673 con chiếm 10% tổng đàn; 308 cơ sở chăn nuôi quy mô 50 con trở lên chiếm 35% tổng đàn; Hộ chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm 65% tổng đàn. DTLCP bùng phát chủ yếu ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, đã khiến cho việc kiểm soát dịch bệnh vô cùng khó khăn.
 
Tại Hội nghị triển khai phương án sản xuất chăn nuôi lợn cuối năm 2019 đầu năm 2020, ngành Nông nghiệp tỉnh Yên Bái đề ra các yêu cầu: Chỉ tái đàn ở các địa phương DTLCP đã qua 30 ngày không phát dịch chỉ tái đàn 10%, sau 30 ngày lấy mẫu xét nghiệm âm tính với DTLCP thì mới tái đàn 100%; nhập giống tái đàn ở các cơ sở an toàn dịch bệnh; chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học; phòng dịch bệnh theo hướng dẫn của cơ quan Thú y; định kỳ phun tiêu độc khử trùng…
 
Theo: nongnghiep.vn

GIÁ HEO HƠI NGÀY HÔM NAY 27/11: THỰC HƯ GIÁ THỊT HEO CAO HƠN THỊT BÒ?

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Gi&aacute; heo hơi h&ocirc;m nay 27/11 ở miền Bắc tuy c&oacute; giảm nhẹ nhưng vẫn ở mức tr&ecirc;n 70.000 đồng/kg, trong khi gi&aacute; heo hơi h&ocirc;m nay ở miền Nam kh&aacute; ổn định, cao nhất l&ecirc;n đến 75.000 đồng/kg. Tuy nhi&ecirc;n, theo ghi nhận, gi&aacute; thịt heo tr&ecirc;n thị trường đang tăng ch&oacute;ng mặt, c&oacute; nơi cao hơn cả thịt b&ograve;. Nhận định về t&igrave;nh h&igrave;nh n&agrave;y, đại diện Vụ Thị trường trong nước (Bộ C&ocirc;ng Thương) cho rằng, đ&oacute; chỉ l&agrave; hiện tượng c&aacute; biệt.</div> <div> &nbsp;</div>
Giá heo hơi hôm nay 27/11 ở miền Bắc tuy có giảm nhẹ nhưng vẫn ở mức trên 70.000 đồng/kg, trong khi giá heo hơi hôm nay ở miền Nam khá ổn định, cao nhất lên đến 75.000 đồng/kg. Tuy nhiên, theo ghi nhận, giá thịt heo trên thị trường đang tăng chóng mặt, có nơi cao hơn cả thịt bò. Nhận định về tình hình này, đại diện Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho rằng, đó chỉ là hiện tượng cá biệt.
 
Giá heo hơi hôm nay 27/11 tại miền Bắc: Giảm ở nhiều nơi                                 
 
Trái ngược với sự tăng quá nóng của tuần trước, giá heo hơi hôm nay 27/11 ở nhiều địa phương miền Bắc có xu hướng giảm nhẹ, tuy nhiên, mức giá heo hơi vẫn trên 70.000 đồng/kg.
 
Cụ thể, giá heo hơi hôm nay ở Tuyên Quang, Hà Nội, Hà Nam giảm 1.000 đồng/kg, xuống mức 72.000 - 74.000 đồng/kg.
 
Cá biệt, giá heo hơi ở Phú Thọ giảm tới 5.000 đồng/kg, còn 70.000 đồng/kg, trong khi giá heo hơi ở Vĩnh Phúc còn 72.000 đồng/kg, giảm 3.000 đồng/kg so với vài ngày trước.
 
Bên cạnh những địa phương ghi nhận mức giảm nhẹ, ở nhiều nơi, giá heo hơi vẫn đứng ở mức cao. Cụ thể, giá heo hơi ở Ninh Bình, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên vẫn đạt 77.000 đồng/kg; giá heo hơi ở Hưng Yên đạt 75.000 đồng/kg.
Giá heo hơi hôm nay 27/11 ở miền Bắc chững lại, trong khi giá heo hơi ở miền Nam vẫn ổn định. Ảnh: I.T
 
Giá heo hơi hôm nay 27/11 tại miền Trung - Tây Nguyên: Ổn định
 
Giá heo hơi hôm nay 27/11 tại các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên vẫn tiếp tục ổn định ở mức cao. Theo đó, giá heo hơi hôm nay tại Thanh Hóa, Nghệ An vẫn đạt mức 75.000 - 76.000 đồng/kg; trong khi Bình Định, Quảng Trị giá heo hơi duy trì mức 69.000 - 70.000 đồng/kg. Giá heo hơi tại Đăk Lăk đạt 72.000 đồng/kg.
 
Điều đáng nói là, giá heo hơi tăng cao, đẩy giá thịt heo tăng chóng mặt khiến sức mua mặt hàng này giảm. Ghi nhận tại TP.Quy Nhơn (Bình Định), các quầy bán thịt heo khá ảm đạm, nhiều tiểu thương thừa nhận, sức mua giảm đáng kể. 
 
Đại diện Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Bình Định cho biết: Tổng đàn heo toàn tỉnh tính đến tháng 10 là trên 628.000 con, giảm 15% so với cùng kỳ năm ngoái, giảm 7,3% so với tháng 4/2019 nhưng tăng 1,2% so với tháng 7/2019.
 
Tại sao số lượng heo không giảm nhiều nhưng giá heo hơi lại tăng quá cao, gần gấp đôi so với 5 tháng trước. Nguyên nhân chính là do nhu cầu thịt heo ở thị trường Trung Quốc quá lớn khiến một lượng rất lớn thịt heo từ Việt Nam “chảy” sang Trung Quốc, giá heo hơi vì vậy biến động liên tục. 
 
Giá heo hơi hôm nay 27/11 tại miền Nam: Nhiều mặt hàng nhảy múa theo giá heo hơi
 
Giá heo hơi hôm nay 27/11 ở các tỉnh miền Nam khá ổn định, duy trì mức giá phổ biến 71.000 - 73.000 đồng/kg, cao nhất là tại Trà Vinh, giá heo hơi đạt 75.000 đồng/kg.
 
Giá heo hơi tại Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu đạt 73.000 đồng/kg; các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, giá heo hơi bình quân 71.000 - 72.000 đồng/kg.
 

Giá heo hơi tăng cao, đẩy giá thịt heo lên mặt bằng mới, ảnh hưởng đến nhiều mặt hàng khác. Ảnh: I.T
 
Giá heo hơi tăng cao khiến giá thịt heo tăng phi mã, các món ăn, sản phẩm được chế biến từ thịt heo cũng tăng giá theo.
 
Khảo sát tại các chợ và cửa hàng thực phẩm tại TP. Mỹ Tho (Tiền Giang), giá nhiều sản phẩm làm từ thịt heo tăng khoảng 15 - 20% so với cách đây gần 2 tháng.
 
Cụ thể, giá chả lụa, chả quế từ 170.000 đồng/kg tăng lên 190.000 đồng/kg; lạp xưởng tươi từ 150.000 đồng/kg lên 170.000 đồng/kg; chà bông thịt heo từ 280.000 đồng/kg nay tăng thêm 20.000 đồng/kg.a
 
Giá thịt heo có đắt hơn thịt bò?
 
Trước thông tin một số tờ báo đưa giá thịt heo tại siêu thị Aeon Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh có loại đã lên đến 280.000 đồng/kg, trong khi thịt bò được niêm yết bên cạnh chỉ 260.000 đồng/kg, ông Hoàng Anh Tuấn - Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước, Bộ Công Thương cho biết, qua trao đổi với một số địa phương có nguồn cung lớn như: Hà Nội, TP.HCM, Đồng Nai, Hưng Yên, Bình Dương…; các khu chợ đầu mối điểm giết mổ lớn tại địa bàn này và các tỉnh lân cận, hiện, giá lợn hơi đang ở mức ổn định không tăng, Công ty CP báo giá 69.000 đồng/kg, ở nơi nay nơi khác, cộng chi phí vận chuyển thì lên đến 70.000 - 73.000 đồng/kg.
 
"Tôi đã trực tiếp đi chợ, nắm tình hình tại chợ Phùng Khoang (Hà Nội) nhưng chưa thấy có mức giá cao như thông tin báo chí vừa đưa" - ông Tuấn khẳng định.
Theo: tintucnongnghiep.com

BÍ QUYẾT NUÔI BÒ VỖ BÉO

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Gia đ&igrave;nh anh B&ugrave;i Tấn Kh&aacute;nh (th&ocirc;n 4, x&atilde; Ho&agrave; Sơn) c&oacute; 8 con b&ograve; nu&ocirc;i nhốt trong chuồng. Hằng ng&agrave;y, anh tranh thủ buổi trưa hoặc ng&agrave;y nghỉ ra đồng cắt cỏ cho đ&agrave;n b&ograve;. Nh&agrave; anh c&oacute; th&acirc;m ni&ecirc;n nu&ocirc;i b&ograve; hơn 15 năm, chủ yếu chăn thả tự nhi&ecirc;n. Về sau, đồng cỏ bị thu hẹp dần đến mức kh&ocirc;ng c&ograve;n chỗ để chăn, gia đ&igrave;nh phải giảm đ&agrave;n, giữ lại 4-5 con chuyển sang h&igrave;nh thức nu&ocirc;i b&ograve; vỗ b&eacute;o.</div> <div> &nbsp;</div>
Từ lâu, nuôi bò vỗ béo nhốt chuồng đã trở thành sinh kế của nông dân ở xã Hòa Sơn (huyện Krông Bông, Đắk Lắk).
 

Anh Bùi Tấn Khánh mua bò “lỡ” về vỗ béo.
Tuy nhiên để đàn bò đạt năng suất, chất lượng thịt cao, người nuôi phải có bí quyết riêng.
 
Gia đình anh Bùi Tấn Khánh (thôn 4, xã Hoà Sơn) có 8 con bò nuôi nhốt trong chuồng. Hằng ngày, anh tranh thủ buổi trưa hoặc ngày nghỉ ra đồng cắt cỏ cho đàn bò. Nhà anh có thâm niên nuôi bò hơn 15 năm, chủ yếu chăn thả tự nhiên. Về sau, đồng cỏ bị thu hẹp dần đến mức không còn chỗ để chăn, gia đình phải giảm đàn, giữ lại 4-5 con chuyển sang hình thức nuôi bò vỗ béo.
 
Anh Khánh tâm sự, nuôi bò nhốt chuồng không phải tốn thời gian đi chăn nên rất phù hợp với mục đích vỗ béo lấy thịt. Tuy nhiên 100% nguồn thức ăn người nuôi phải cung ứng đủ thì đàn bò mới nhanh lớn. Để rút ngắn thời gian nuôi, anh Khánh chọn loại bò “lỡ” (bò gầy, ốm) về vỗ béo. Chọn giống bò đực lai vì chúng có bộ xương to, vai rộng, bản lưng lớn cho lượng thịt nhiều, săn chắc.
 
Việc đầu tiên sau khi mua bò “lỡ” về là tẩy giun sán, tiêm phòng vacxin đầy đủ rồi mới tiến hành vỗ béo. Quy trình vỗ béo cần tuân thủ thời gian cho ăn, chế độ ăn với khẩu phần phù hợp, một con bò nặng khoảng 2 tạ cần 15 - 20 kg thức ăn thô (gồm cỏ xanh, thân cây chuối, bã đậu, mía...) và khoảng 5 kg thức ăn tinh (bột bắp, cám gạo...).
 
Nếu chăm sóc tốt chẳng mấy chốc, bò “da bọc xương” sẽ mập ú lên nhanh xuất chồng. Để có đủ thức ăn cho đàn bò, nhà anh Khánh chủ động chuyển 2 sào lúa nước sang trồng cỏ, tận dụng đất trống trong vườn cà phê trồng xen cỏ voi đồng thời dự trữ rơm rạ cho mùa khô.
 
Cũng xác định gắn bó lâu dài với mô hình nuôi bò nhốt chuồng vỗ béo, anh Phan Thanh Tri (xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông) vừa đầu tư hơn 20 triệu đồng xây lại hệ thống chuồng trại thật bài bản. Anh chọn mảnh đất cao ráo phía sau xa nhà làm chuồng bò, nền chuồng láng xi măng, xung quanh đóng bằng thanh gỗ rất chắc chắn và thoáng mát. Anh cũng lắp đặt riêng một bồn chứa nước bằng và mua máy băm thức ăn phục vụ đàn bò.
 
Theo anh Tri, ngoài chất lượng con giống thì hệ thống chuồng trại rất quan trọng quyết định đến thành công của mô hình nuôi bò nhốt chuồng vỗ béo. Bởi chuồng trại sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông thì đàn bò mới phát triển tốt, không bị bệnh dịch tấn công.
 
Anh Tri tâm sự, giá bò có lúc lên, xuống nhưng nhìn chung vẫn ổn định hơn các vật nuôi khác và nuôi bò lấy thịt nhanh lời hơn nuôi bò sinh sản. Anh Tri tính toán: Bò cái nuôi 18 tháng mới đẻ được bê con, nuôi thêm 6 tháng nữa mới có con nghé xuất chuồng. Giá 1 con nghé hiện nay khoảng 10 - 12 triệu đồng, sau khi trừ chi phí thức ăn, công chăm sóc thì thu nhập không được bao nhiêu.
 
 

 
Anh Phan Thanh Tri dùng máy băm cắt nhỏ cây chuối cho bò ăn.
Trong khi đó, nuôi bò vỗ béo, từ khi nhập đến khi xuất chuồng chỉ trong vòng 6 - 8 tháng, người nuôi có chắc khoản lãi hơn 4 triệu đồng/con. Mỗi lứa xuất chuồng khoảng 4 - 5 con thì kiếm được vài chục triệu đồng, đây là số tiền lớn đối với nông dân. Anh Tri xem đàn bò là “của để dành”, có việc quan trọng mới bán, còn lại cứ có tiền anh lại mua thêm bò về nuôi
 
Theo: nongnghiep.vn

HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH LAI GIỐNG, CẢI TẠO ĐÀN BÒ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Nhằm ph&aacute;t huy lợi thế v&agrave; tiềm năng của tỉnh về chăn nu&ocirc;i b&ograve; giai đoạn 2016-2020, tỉnh Bắc Giang tiếp tục c&oacute; cơ chế hỗ trợ tinh b&ograve; nh&acirc;n tạo cho đ&agrave;n b&ograve; n&aacute;i sinh sản chăn nu&ocirc;i n&ocirc;ng hộ bằng giống ngoại, tr&uacute; trọng đến c&ocirc;ng t&aacute;c tuy&ecirc;n truyền v&agrave; hướng dẫn người d&acirc;n &aacute;p dụng khoa học kỹ thuật v&agrave;o chăn nu&ocirc;i nhằm g&oacute;p phần n&acirc;ng cao chất lượng v&agrave; cải tạo đ&agrave;n b&ograve; địa phương.</div> <div> &nbsp;</div>
Nhằm phát huy lợi thế và tiềm năng của tỉnh về chăn nuôi bò giai đoạn 2016-2020, tỉnh Bắc Giang tiếp tục có cơ chế hỗ trợ tinh bò nhân tạo cho đàn bò nái sinh sản chăn nuôi nông hộ bằng giống ngoại, trú trọng đến công tác tuyên truyền và hướng dẫn người dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi nhằm góp phần nâng cao chất lượng và cải tạo đàn bò địa phương.
 
Từ năm 2016 đến nay, thực hiện Quyết định 50 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 668 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc hỗ trợ chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2016-2020. Trung tâm Khuyến nông phối hợp với các Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật nông nghiệp các huyện triển khai hỗ trợ, đến nay được trên 30 nghìn liều tinh bò BBB, Brahman đỏ của Mỹ và tinh bò Charolais của Pháp và vật tư cho 40 dẫn tinh viên thực hiện thụ tinh nhân tạo cho đàn bò sinh sản trên địa bàn. Toàn bộ bê con khi sinh ra đều đáp ứng được mong muốn của người dân.
 
Gia đình bà Nguyễn Thị Luận ở thôn Cao Thượng, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, nuôi bò nái sinh sản từ năm 2011 đến nay, năm nào bà cũng đăng ký phối giống bò BBB. Bà Luận nhận thấy, giống bò này, bê con sinh ra có trọng lượng lớn hơn bò nội, ngoại hình đẹp, phàm ăn, dễ nuôi, tăng trọng nhanh. Chính vì vậy mà đến nay bà đã gây thêm hai bò nái sinh sản, bình quân mỗi năm bò nái đẻ một lứa, tùy theo giá cả thị trường và bê đực hay bê cái thì bà cũng thu về gần 60 triệu đồng/năm.
 
Bà Luận cho biết, chăn nuôi bò đỡ dịch bệnh hơn chăn nuôi lợn, có điều cần phải có một quỹ đất nhất định để trồng cỏ nuôi bò... Để cho đàn bò sinh trưởng phát triển khỏe mạnh, hàng năm cần tiêm phòng bệnh cho bò nái bằng các loại vacxin như tụ huyết trùng, lở mồm long móng...
 
Cũng giống như gia đình bà Luận, gia đình bà Bùi Thị Liên ở thôn Trung Phụng ngoài, xã Tân Hưng nuôi bò nái cũng chỉ mang tính chất tận dụng cỏ dại ở vườn đồi, bờ ruộng hay các phụ phẩm nông nghiệp như cám gạo, rơm rạ... Thế nhưng 3 năm qua được dẫn tinh viên tuyên truyền lấy tinh nhân tạo về phối giống cho bò thì bà Liên đã thấy được những ưu điểm vượt trội. Thực tế, bê lai sau khi sinh đều có trọng lượng đạt từ 23-27 kg/con, nặng hơn bê nội từ 5-7 kg/con, khả năng sinh trưởng nhanh hơn bê nội. Trong thời gian 6 tháng đạt trọng lượng từ 80-100kg/con bằng giống bê nội nuôi trong vòng gần 1 năm. Không những vậy giá bán bê lai cao hơn bê nội khoảng 5 triệu đồng.
 
Song song với kết quả về giá trị kinh tế mà chương trình mang lại, trong những năm qua Trung tâm KN còn đào tạo được đội ngũ dẫn tinh viên có tay nghề cao để thực hiện chương trình cải tạo đàn bò. Đến nay, toàn tỉnh có khoảng 40 dẫn tinh viên đang thực hiện rất tốt công tác thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ phối giống đạt 70-75%. Đồng thời, mở nhiều lớp tập huấn cho các hộ chăn nuôi giúp họ nhận biết một số giống bò lai, phát hiện bò động dục, hướng dẫn chăm sóc bò có chửa và bê sơ sinh đến trưởng thành. Cán bộ khuyến nông thường xuyên xuống kiểm tra theo dõi tình hình dịch bệnh để đảm bảo con giống phát triển theo đúng yêu cầu và tiêu chuẩn. Việc triển khai chương trình cải tạo đàn bò không chỉ tăng tổng đàn mà chất lượng đàn bò của tỉnh cũng ngày càng được nâng cao. Hiện tổng đàn bò của tỉnh có trên 141 nghìn con, trong đó có trên 100 nghìn con bò nái sinh sản, vậy một năm tỉnh hỗ trợ 10 nghìn liều tinh thì mới đáp ứng được 10%.
 
Ông Nguyễn Văn Thành- Giám đốc Trung tâm KN tỉnh cho biết để phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ cần điều chỉnh cơ cấu chăn nuôi, giảm tỷ lệ thịt lợn, tăng thịt của gia súc ăn cỏ; đa dạng hóa sản phẩm tùy theo lợi thế của từng vùng trong đó có các đối tượng như trâu, bò ngựa, dê... Thời gian tới, Trung tâm tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quyết định 50. Xây dựng kế hoạch chăn nuôi tập trung theo vùng, xã trọng điểm, xa khu dân cư, gắn với ứng dụng khoa học công nghệ. Nghiên cứu, phát triển các giống bò mới có khả năng miễn dịch cao, chất lượng thịt tốt. Trong điều kiện ngành chăn nuôi đang gặp một số khó khăn như dịch tai xanh, dịch tả lợn Châu Phi, lở mồm long móng trên đàn lợn, dịch cúm gia cầm trên đàn gia cầm, thủy cầm. Việc ngành nông nghiệp Bắc Giang lựa chọn bò là một trong những con chủ lực để phát triển chăn nuôi hàng hóa và đang trú trọng cải tạo đàn bò là hướng đi đúng, góp phần giúp cho người dân nắm vững phương pháp chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng chăn nuôi và tăng thu nhập cho người dân.
 
khuyennongbacgiang.com

BIỆN PHÁP XỬ LÝ, TIÊU HỦY LỢN MẮC BỆNH DTLCP BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỐT

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Thời gian vừa qua, bệnh Dịch tả lợn Ch&acirc;u Phi (DTLCP) đ&atilde; xảy ra tại c&aacute;c địa phương thuộc Đồng bằng s&ocirc;ng Cửu Long - nơi c&oacute; nhiều k&ecirc;nh rạch, việc ti&ecirc;u hủy lợn bệnh bằng phương ph&aacute;p ch&ocirc;n lấp gặp kh&oacute; khăn. Do đ&oacute;, Bộ N&ocirc;ng nghiệp v&agrave; Ph&aacute;t triển n&ocirc;ng th&ocirc;n hướng dẫn cụ thể biện ph&aacute;p xử l&yacute;, ti&ecirc;u hủy lợn mắc bệnh DTLCP bằng phương ph&aacute;p đốt như sau:</div> <div> &nbsp;</div>
Thời gian vừa qua, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại các địa phương thuộc Đồng bằng sông Cửu Long - nơi có nhiều kênh rạch, việc tiêu hủy lợn bệnh bằng phương pháp chôn lấp gặp khó khăn. Do đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn cụ thể biện pháp xử lý, tiêu hủy lợn mắc bệnh DTLCP bằng phương pháp đốt như sau:
16.jpg
1. Nguyên tắc tiêu hủy
 
- Phải làm chết động vật bằng điện hoặc phương pháp khác trước khi thực hiện tiêu hủy.
 
- Địa điểm tiêu hủy phải theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ưu tiên chọn địa điểm tiêu hủy tại khu vực chăn nuôi có động vật mắc bệnh hoặc địa điểm thích hợp khác gần khu vực có ổ dịch; không chọn địa điểm giáp với các cơ sở chăn nuôi lợn tập trung, chưa có lợn mắc bệnh DTLCP.
 
- Phương tiện, dụng cụ sử dụng để vận chuyển lợn, sản phẩm lợn, chất thải đến địa điểm tiêu hủy phải có sàn kín; phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc trước và sau khi vận chuyển đến địa điểm tiêu hủy.
 
- Người tham gia vào quá trình tiêu hủy lợn phải có bảo hộ cá nhân, thực hiện vệ sinh, sát trùng để tránh làm lây lan mầm bệnh.
 
2. Vận chuyển động vật, sản phẩm động vật đến địa điểm tiêu hủy
 
- Trường hợp địa điểm tiêu hủy ở ngoài khu vực ổ dịch, xác động vật, sản phẩm động vật phải được cho vào bao, buộc kín bao và tập trung bao chứa vào một chỗ để phun khử trùng trước khi vận chuyển; trường hợp động vật lớn không vừa bao chứa phải sử dụng tấm nilon hoặc vật liệu chống thấm khác để lót bên trong (đáy và xung quanh) thùng chứa của phương tiện vận chuyến.
 
- Phương tiện vận chuyển xác động vật, sản phẩm động vật phải có sàn kín để không làm rơi vãi các chất thải trên đường đi.
 
- Phương tiện vận chuyển xác động vật, sản phẩm động vật phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y ngay trước khi vận chuyển và sau khi đưa bao chứa xuống địa điểm tiêu hủy hoặc dời khỏi khu vực tiêu hủy.
 
3. Xử lý, tiêu hủy lợn bằng phương pháp đốt
 
a) Phương pháp đốt được thực hiện theo các bước sau:
 
- Đào hố có kích thước phù hợp với số lượng, trọng lượng xác lợn cần đốt (ví dụ: để tiêu hủy 01 tấn xác lợn, cần đào hố có kích thước sâu x rộng x dài = 1,5 x 1,0 x 1,0 (m), tương ứng l,5m3).
 
- Xếp nguyên liệu dùng để đốt (củi, than,...) xuống hố trước; sau đó sử dụng các thanh sắt, bê tông để làm giá đỡ trên miệng hố và cho xác lợn lên trên (gồm cả bao chứa và tấm lót), sau đó tưới dầu diesel lên trên lợn để đốt. Trường hố bị ngập nước, xếp cả nguyên liệu đốt và xác lợn lên trên các thanh sắt, thanh bê tông, sau đó sau đó tưới dầu diesel lên trên lợn để đốt hoặc bố trí máy bơm để hút hết nước, bảo đảm đốt thành công xác lợn.
 
Ví dụ về cách tính nguyên liệu để tiêu hủy 01 tấn xác lợn như sau: 50 kg củi khô, 200 kg than,...., 10 lít dầu diesel. Tỷ lệ các nguyên vật liệu để đốt có thể điều chỉnh phù hợp với thực tế.
 
- Sử dụng vật liệu phù hợp để quây quanh hố chôn trước khi đốt xác lợn.
 
- Xếp xác lợn lên trên vật liệu đốt theo thứ tự lợn to trước, lợn nhỏ sau (lợn phải được gây chết hẳn trước khi đưa đi đốt).
 
- Tiến hành đốt xác lợn và chôn tro cốt tại hố chôn với yêu cầu khoảng cách từ bề mặt tro cốt đến mặt đất tối thiểu là 0,5m và phun thuốc sát trùng, rắc vôi bột khu vực hố chôn. Quản lý hố chôn như đối với phương pháp chôn lấp. Thời gian đốt cần bảo đảm xác lợn được cháy hết.
 
b) Ở các địa phương có điều kiện, có thể sử dụng lò đốt chuyên dụng để xử lý đốt xác lợn.
 
Trên cơ sở hướng dẫn này, các địa phương hướng dẫn cụ thể việc xử lý, tiêu hủy lợn bằng phương pháp đốt cho phù họp với điều kiện thực tế, bảo đảm không làm lây lan dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng măc, thông báo về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để phối hợp xử lý kịp thời./.
 
Theo Khuyennongvn.gov.vn

NGƯỜI MÔNG 'NUÔI BÒ TRÊN LƯNG' THOÁT NGHÈO

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Tỉnh H&agrave; Giang đang nỗ lực x&acirc;y dựng thương hiệu b&ograve; v&agrave;ng đặc sản, th&uacute;c đẩy ng&agrave;nh chăn nu&ocirc;i của địa phương ph&aacute;t triển.</div> <div> &nbsp;</div>
Tỉnh Hà Giang đang nỗ lực xây dựng thương hiệu bò vàng đặc sản, thúc đẩy ngành chăn nuôi của địa phương phát triển.
Theo báo cáo Sở NN-PTNT Hà Giang, bò vàng nơi đây có thân hình cao to, cân đối, màu lông chủ yếu là màu vàng tơ, số ít có đỏ hung, màu cánh gián. Bò vàng Hà Giang đã có từ lúc cộng đồng cư dân người Mông đầu tiên đến và cư trú trên các bản làng nơi đây khoảng hơn 300 năm trước. 
 
Ở miền xuôi, “con trâu là đầu cơ nghiệp”, còn với người Hà Giang, con bò vàng biểu trưng cho sức mạnh, vị thế và sự giàu có của gia chủ.
 
 

 
Đến nay tỉnh Hà Giang có 115.000 con bò vàng.
Ông Nguyễn Đức Vinh, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Hà Giang, cho biết, hiện toàn tỉnh Hà Giang có 115.000 con bò. Giống bò vàng bản địa đang nằm trong danh sách bảo tồn nguồn gen quý do có các đặc điểm chịu được điều kiện khắc nghiệt của vùng cao núi đá như khí hậu lạnh giá của mùa đông, địa hình hiểm trở, độ dốc cao, đặc biệt là khan hiếm nước, nhất là vào mùa khô và thiếu thức ăn.
 
Với sức vóc to lớn, trọng lượng bò đực trưởng thành có thể đạt trên 500kg, cá biệt có con nặng gần 800kg. Bò vàng cho năng suất thịt tốt, đạt tỷ lệ thịt xẻ từ 50 đến trên 52%. Thịt bò có đặc điểm mềm và thơm ngon hơn so với nhiều loại thịt bò khác, có hàm lượng dinh dưỡng cao, được người tiêu dùng ưa chuộng…
 
Ở Hà Giang, việc nuôi bò “trên lưng” đã trở thành thương hiệu của mảnh đất cao nguyên đá. Giữa vùng đá núi với đặc điểm tự nhiên 3/4 diện tích là đá, địa hình chia cắt, thiếu đất canh tác và không thể chăn thả, người dân chỉ còn cách nuôi bò nhốt chuồng.
 
Để nuôi được bò, hằng ngày người dân phải đi bộ nhiều giờ đồng hồ treo mình nơi triền đá, vực sâu, lượm từng ngọn cỏ, đùm lá rồi gùi trên lưng về làm thức ăn cho bò. Có lẽ cũng vì thế, cách ví đồng bào “nuôi bò trên lưng” là cực kỳ chính xác.
 
Nguồn thức ăn hoàn toàn tự nhiên là yếu tố quan trọng giúp sản phẩm thịt bò vàng thơm ngon và dần khẳng định được thương hiệu.
 
Thôn Há Đề, xã Lũng Thầu, huyện Đồng Văn, thôn có 37 hộ đồng bào Mông. Đây cũng là thôn có phong trào “nuôi bò trên lưng” phát triển khá mạnh. Đến nay, trung bình mỗi hộ có 2 con bò vàng. Từ nuôi bò, nhiều hộ trong thôn có cuộc sống ấm no.
 
 

 
Chăn nuôi bò vẫn là hướng phát triển kinh tế chính của người dân xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn.
Hộ chị Giàng Thị Sùng có 4 con bò, tổng giá trị đàn bò ước trên 100 triệu đồng. Chị Sùng cho biết, để có thức ăn cho bò, hằng ngày các thành viên trong gia đình chia nhau lên núi kiếm cỏ gùi về làm thức ăn. Lên núi đá lấy cỏ cũng nhiều gian nan. Những ngọn núi đá téo mèo nhọn hoắt nếu không đi quen đường thì tai nạn như chơi, nhất là vào những hôm trời mưa trơn trượt. Ấy vậy mà bao năm nay, đàn bò nhà chị Sùng không bao giờ bị bỏ đói, vẫn béo tốt. Biết tin bò vàng đã được chính quyền tỉnh Hà Giang xây dựng Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý, dân trong bản của chị Sùng nghe thế mừng lắm và sẽ yên tâm hơn để chăn nuôi và phát triển đàn bò.
 
Bà Đào Thị Lan Anh, Giám đốc Ban Điều phối Chương trình giảm nghèo dựa trên phát triển hàng hóa tỉnh Hà Giang, đơn vị đồng triển khai xây dựng Chỉ dẫn địa lý thịt bò vàng Hà Giang cho biết, được cấp Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý là cơ hội để người dân, các doanh nghiệp trên vùng cao nguyên đá nắm bắt cơ hội để có chiến lược, kế hoạch đầu tư, mở rộng hơn quy mô chăn nuôi, chế biến sản phẩm thịt bò, tạo ra chuỗi giá trị thịt bò Hà Giang mang thương hiệu mạnh. 
 
Tháng 5/2019, sản phẩm thịt bò vàng Hà Giang được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý. Đây là kết quả sau nhiều năm xây dựng, bảo tồn giống bò vàng vùng cao của tỉnh này. Chỉ dẫn địa lý cũng chính là công cụ nhằm thỏa mãn các thông tin về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng sản phẩm, phương thức sản xuất trước yêu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng.
 
Theo Nongnghiep.vn