Chăn nuôi-Gia súc

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI

Nhóm thông tin: 
Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, nông nghiệp Bắc Giang có tốc độ phát triển cao, đóng góp đáng kể vào phát triển KT-XH của địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, cũng dẫn đến những quan ngại về môi trường, do chất thải chăn nuôi chưa được xử lý đúng quy trình.
 
Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có khoảng 588 trang trại chăn nuôi với hàng vạn hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Nhưng việc quy hoạch phát triển chăn nuôi tổng thể vẫn chưa thống nhất, phân bố, mật độ trang trại có sự khác biệt lớn giữa các vùng, năng suất lao động không cao, các công nghệ xử lý môi trường chưa thực sự được quan tâm.
 
Cũng như vậy, quy mô chăn nuôi nông hộ cũng chỉ cho năng suất thấp, khó cạnh tranh, phân tán, nhỏ lẻ gây khó khăn trong việc quản lý dịch bệnh. Công trình khí sinh học đã được triển khai nhưng chỉ chiếm hơn 50% số hộ chăn nuôi. Với các hầm khí biogas vừa và lớn, hầu hết không sử dụng hết khí và phần lớn thải ra môi trường.
 
 

 
Ảnh: Quản lý chất thải chăn nuôi là vấn đề đặt ra với nhiều hộ chăn nuôi. (Ảnh mang tính chất minh họa)
 
Theo thống kê của các ngành chức năng, việc xử lý chất thải rắn (bao gồm: phân, thức ăn thừa, xác gia súc, dụng cụ thú y…) trong chăn nuôi vẫn còn khoảng 40 – 70% được ủ làm phân bón, khoảng 30 – 60% xả thải trực tiếp ra môi trường hoặc phần nhỏ được xử lý bằng biogas. Hầu hết các cơ sở chăn nuôi không có nhà máy xử lý hoàn chỉnh, đạt tiêu chuẩn TCVN 37775 – 83. 
 
Các chất thải rắn khác như dụng cụ chăn nuôi, vật tư thú y,… hầu như chưa được xử lý. Bên cạnh đó, việc xử lý chất thải lỏng (bao gồm: nước tiểu, nước tắm cho vật nuôi, nước rửa chuồng trại, nước từ các lò giết mổ gia súc, gia cầm) có khoảng 30% xử lý qua hầm Biogas, 30% bằng hồ sinh học, 40% còn lại là dùng trực tiếp tưới hoa màu, nuôi cá hoặc đổ ra môi trường. Ngoài ra, chất thải khí (bao gồm CO2, NH4, CH4, H2S,…) gây ô nhiễm môi trường và mùi.
 
Trước thực trạng trên, đã có nhiều ý kiến của các ngành chức năng đưa ra  để giải quyết những khó khăn tồn tại trong quản lý chất thải chăn nuôi như: cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường chăn nuôi; rà soát, bổ sung, xây dựng các tiêu chuẩn/quy chuẩn kỹ thuật, quy trình khảo, kiểm nghiệm vật nuôi phục vụ cho công tác quản lý nhà nước trong chăn nuôi và môi trường chăn nuôi; tăng ngân sách đối với các hoạt động điều tra, khảo sát về môi trường chăn nuôi, hỗ trợ bảo vệ môi trường; ưu tiên cho các chính sách tài chính, hoạt động phát triển chăn nuôi gắn liền bảo vệ môi trường; khuyến khích các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc và tầm ảnh hưởng lớn trong việc bảo vệ môi trường trong chăn nuôi. Ngoài ra, phải kịp thời báo cáo các cơ quan quản lý cấp trên về các vùng, cơ sở ô nhiễm môi trường để sớm có phương án quản lý và khắc phục hiệu quả…
 
Được biết, hiện nay, Dự án LCASP tỉnh Bắc Giang đang tiến hành lựa chọn hộ thí điểm quản lý, sử dụng chất thải chăn nuôi lợn trong hệ thống trang trại. Theo Tiến sĩ Nông học Bùi Thế Hùng, điều phối viên dự án, việc lựa chọn mô hình thí điểm này nhằm xử lý chất thải, nước thải chăn nuôi; giúp hộ chăn nuôi làm ra nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ chất lượng cao; tạo khí sinh học chạy máy phát điện; giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đồng thời qua đây, tăng thu nhập cho người dân. Mô hình sẽ được triển khai, rút kinh nghiệm trước khi nhân rộng trong thời gian tới./.
 
Theo BGĐT
 

NUÔI LỢN LÃI TIỀN TỶ

Nhóm thông tin: 
Nhờ chăn nuôi lợn thương phẩm, mỗi năm gia đình anh Nguyễn Văn Tiệp, thôn Đồng Xứng, xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên (Bắc Giang) thu hàng tỷ đồng mỗi năm.
 
 

Trang trại chăn nuôi của gia đình anh Tiệp.
 
Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có khoảng 588 trang trại chăn nuôi với hàng vạn hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Nhưng việc quy hoạch phát triển chăn nuôi tổng thể vẫn chưa thống nhất, phân bố, mật độ trang trại có sự khác biệt lớn giữa các vùng, năng suất lao động không cao, các công nghệ xử lý môi trường chưa thực sự được quan tâm. Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có khoảng 588 trang trại chăn nuôi với hàng vạn hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Nhưng việc quy hoạch phát triển chăn nuôi tổng thể vẫn chưa thống nhất, phân bố, mật độ trang trại có sự khác biệt lớn giữa các vùng, năng suất lao động không cao, các công nghệ xử lý môi trường chưa thực sự được quan tâm. 
Từng làm thuê ở một trang trại nuôi lợn quy mô lớn tại huyện Việt Yên, do chăm chỉ làm việc và chịu khó học hỏi, anh Tiệp được tin tưởng giao nhiệm vụ quản lý. Trong thời gian làm việc, anh nhanh chóng tích lũy được kinh nghiệm chăm sóc vật nuôi cũng như phát triển thị trường. 
 
 
 
Năm 2007, trở về quê khi các con đã khôn lớn, anh Tiệp bắt đầu nuôi thử nghiệm vài chục con lợn thương phẩm. Nhờ quen việc, quen người, lại có sẵn mối nhập con giống chất lượng tốt, anh Tiệp đã thành công ngay từ năm đầu.
 
Kết quả này tạo đà cho anh tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô chăn nuôi. Hiện trang trại của anh thường xuyên có từ 500- 600 con lợn thương phẩm với khu chuồng trại nuôi khép kín kiên cố; hệ thống máng nước, thức ăn tự động, quạt thông gió thoáng mát về mùa hè và ấm về mùa đông. Để bảo đảm vệ sinh, anh xây hai hầm biogas xử lý chất thải. Theo anh Tiệp, bí quyết giúp chăn nuôi thành công là chất lượng con giống và làm tốt công tác vệ sinh phòng dịch. 
 
Trên thực tế, anh đã nhận ký kết hợp đồng với một trang trại lợn uy tín ở tỉnh ngoài chuyên cung ứng con giống và thực hiện nuôi khép kín; chỉ sử dụng thức ăn công nghiệp của hãng có uy tín. Với cách thức như trên, trang trại của ảnh mỗi năm cung cấp cho thị trường hơn 100 tấn lợn hơi cùng với làm địa lý cám, trừ chi phí anh thu về hơn 2 tỷ đồng/năm.
 
Với những thành công trong chăn nuôi, nhiều năm liền, anh Nguyễn Văn Tiệp vinh dự được Hội Nông dân, UBND huyện Tân Yên khen thưởng trong phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi.
 
                                                                                                                                                                                                                                  Theo BGĐT

TÂN YÊN: RA MẮT HTX CHĂN NUÔI, GIẾT MỔ VÀ TIÊU THỤ LỢN SẠCH

Nhóm thông tin: 
Xuất phát từ lợi thế chăn nuôi của địa phương, ngày 19/10 UBND huyện Tân Yên đã ra mắt HTX chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ lợn sạch Tân Yên.
 
HTX được thành lập với số vốn ban đầu 1,8 tỷ đồng với 60 thành viên, trong đó 45 thành viên có trang trại chăn nuôi theo mô hình chuồng kín.
 
 

 
Tân Yên là địa phương có phong trào chăn nuôi lợn phát triển, tổng đàn lợn hàng năm của huyện đạt trên 200 ngàn con. Do đó, việc hình thành HTX chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ lợn sạch Tân Yên sẽ tạo điều kiện tiêu thụ thuận lợi cho người chăn nuôi và đây cũng là HTX đầu tiên trên địa bàn huyện chăn nuôi lợn theo qui trình sản xuất chăn nuôi sạch, khép kín, gắn với việc tiêu thụ sản phẩm.
 
Với những nỗ lực của UBND huyện, sản phẩm “Lợn sạch Tân Yên” sẽ góp phần phát triển kinh tế địa phương và đưa sản phẩm sạch, an toàn đến với người tiêu dùng./.
 
ĐT

NUÔI BÒ SỮA VIETGAHP

Nhóm thông tin: 
Tại vùng cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), người nuôi bò ứng dụng VietGAHP như một thói quen trong công việc hằng ngày mà không mất quá nhiều chi phí.
 
 
 
Với đa số nông dân, VietGAHP (thực hành chăn nuôi tốt) rất khó tiếp cận do chi phí quá cao, yêu cầu kỹ thuật ngặt nghèo. Tuy nhiên, tại vùng cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), người nuôi bò ứng dụng VietGAHP như một thói quen trong công việc hằng ngày mà không mất quá nhiều chi phí.
 
 
 
Hơn 80% số hộ chăn nuôi áp dụng VietGAHP
 
 
 
Anh Dương Văn Nội ở tiểu khu Vườn Đào, thị trấn Mộc Châu là một trong những hộ nông dân tiên phong trong chăn nuôi bò sữa theo tiêu chuẩn VietGAHP. Ngay từ khi bắt đầu triển khai mở rộng mô hình chăn nuôi lớn, anh Nội đã quy hoạch lại chuồng trại với đầy đủ hệ thống vệ sinh chuồng tại chỗ, các thiết bị làm sạch chuồng và tắm cho bò sữa sạch sẽ, thoáng mát.
 
 
 
Do vậy, khi áp dụng tiêu chuẩn VietGAHP trong chăn nuôi bò sữa, gia đình anh Nội chỉ bỏ thêm hơn 20 triệu đồng để thiết kế lại hệ thống vệ sinh chuồng này, còn các yếu tố kỹ thuật khác như dinh dưỡng, chăm sóc cho đàn bò sữa, gia đình anh đều đạt tiêu chuẩn.
 
 
 
Đến nay, đàn bò sữa của gia đình anh đã đạt gần 80 con, mỗi tháng cho doanh thu hàng trăm triệu đồng, trong đó lãi ròng 30%. Anh chia sẻ: “Thực ra khi chưa có VietGAHP thì chúng tôi cũng đã đảm bảo gần như mọi tiêu chuẩn trong chăn nuôi bò sữa. Nhiều năm nay, việc chăn nuôi sạch đối với tất cả các hộ nuôi bò tại Mộc Châu, từ quy trình chăm sóc đàn bò sữa cho đến chế độ dinh dưỡng... đều được định hướng bởi DN thu mua sữa là Cty CP Giống bò sữa Mộc Châu.
 
 
 
Vì thế khi áp dụng tiêu chuẩn này vào, chúng tôi không bỡ ngỡ. “Với việc áp dụng VietGAHP, sữa tươi của gia đình tôi luôn đạt loại 1, được thu mua với giá cao nhất là hơn 13 nghìn đồng/kg. Mỗi quý, riêng tiền thưởng, tôi cũng lĩnh hơn 30 triệu đồng”, anh Nội cho hay.
 
 
 
Không chỉ trang trại của anh Nội áp dụng tốt tiêu chuẩn VietGAHP trong chăn nuôi, nhiều năm trở lại đây, hơn 500 hộ nông dân Mộc Châu đã có quy trình chăn nuôi và SX khép kín, đồng bộ. Mọi tiêu chuẩn ở đây đều được thực hiện rất nghiêm túc theo tiêu chuẩn kỹ thuật. Có khu chuồng trại vắt sữa riêng và toàn đàn được vắt bằng máy.
 
 
 
Bò được tắm rửa hai lần/ngày. Trước khi vắt sữa, bầu sữa bò phải được phun rửa sạch để đảm bảo vệ sinh. Hằng tháng, Cty đều cử một đội ngũ nhân viên kỹ thuật đến kiểm tra từng hộ chăn nuôi về các điều kiện chăn nuôi, sau đó chấm điểm đánh giá phân loại các hộ.
 
 
 
Sữa SX ra được thu mua với giá cao, đồng thời được khuyến khích thưởng hằng tháng, hằng quý. Đến nay, hơn 80% số nông hộ chăn nuôi tại cao nguyên này đã được cấp chứng chỉ VietGAHP.
 
 
 
Lợi ích kép
 
 
 
Để kịp thời đáp ứng xu thế về chăn nuôi nhằm phát triển chăn nuôi một cách bền vững, đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và nguồn gốc sản phẩm, từ tháng 12/2013, tiêu chuẩn VietGAHP trong chăn nuôi đã được triển khai đồng bộ trên toàn bộ quy trình chăn nuôi của các hộ nuôi bò sữa tại Mộc Châu.
 
 
 
Thực hiện sự chỉ đạo của Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT), tháng 10/2013, Cty cổ phần Chứng nhận và giám định Vinacert đã tiến hành đánh giá, chứng nhận VietGAHP trong chăn nuôi bò sữa cho Cty CP Giống bò sữa Mộc Châu. Theo Vinacert, đây là một DN chăn nuôi bò sữa được đánh giá và được cấp Chứng chỉ VietGAHP đầu tiên ở Việt Nam.
 
 
 
Lợi ích lớn nhất từ việc áp dụng VietGAHP trong chăn nuôi bò sữa là tạo ra sản phẩm an toàn, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng, ngăn ngừa và hạn chế các rủi ro từ mối nguy cơ gây ô nhiễm, đảm bảo tính minh bạch, truy nguyên được nguồn gốc sản phẩm khi có khiếu nại, thắc mắc, đồng thời tạo cho người lao động có ý thức làm việc theo các quy chuẩn để tạo ra sản phẩm an toàn.
 
 
 
Theo các hộ chăn nuôi tại đây, trong thực hành VietGAHP, các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm được đặt lên hàng đầu. Đó là thực hiện nghiêm ngặt các quy trình từ chế biến thức ăn đến khâu vắt sữa, vận chuyển sữa đến điểm thu mua. Ngoài ra, thực hành tốt VietGAHP cũng góp phần bảo vệ sức khỏe của chính người chăn nuôi, sau đó đến bảo vệ môi trường và người tiêu dùng.
 
 
 
“Trước đây, khi chưa có máy cày, xe ben, máy vắt sữa tự động, tối ngày các thành viên trong gia đình chỉ biết làm việc và làm việc. Giờ áp dụng khoa học - kỹ thuật vào nuôi bò, chăm sóc, vắt sữa, thấy mình nhàn hơn, khỏe ra, chất lượng sữa nâng cao, thu nhập theo đó tăng cao, ai chả muốn làm”, anh Nguyễn Văn Hải, chủ hộ chăn nuôi bò sữa tại thị trấn Mộc Châu, cho biết.
 
 
 
Tuy nhiên, theo ông Phạm Hải Nam, Phó TGĐ Cty CP Giống bò sữa Mộc Châu, trong quá trình triển khai áp dụng VietGAHP đối với mô hình chăn nuôi lớn gặp khó khăn do việc đầu tư mở rộng, xây trang trại theo đúng kỹ thuật, tiêu chuẩn cần nguồn vốn lớn. “Hầu hết các trang trại tại Mộc Châu được xây dựng khá lâu, việc đầu tư mở rộng không đồng bộ, một số chỉ tiêu đánh giá còn nhiều bất cập, rãnh thoát nước giữa các chuồng, hệ thống xử lý rác thải, khử trùng đối với người, phương tiện ra vào trang trại chưa được thực hiện triệt để khiến công tác kiểm tra đánh giá các tiêu chí mất nhiều thời gian”, ông Hải nói.
 
 
 
Thời gian tới, theo ông Hải, Cty tiếp tục hỗ trợ vốn đối với các hộ muốn mở rộng quy mô đàn bò; xây dựng và hoàn thiện phần mềm về quản lý đàn, quản lý dịch bệnh để có hồ sơ đầy đủ, bảo đảm truy nguyên nguồn gốc. Sự phát triển bền vững của mỗi hộ chăn nuôi chính là bảo đảm cho sự phát triển bền vững của DN và ngược lại.
 
 
 
Nguồn NongNghiep.vn

PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH CHO ĐÀN VẬT NUÔI KHI THỜI TIẾT CHUYỂN MÙA

Nhóm thông tin: 
Hiện thời tiết đang là tháng chuyển mùa, các đợt không khí lạnh có xu hướng hoạt động mạnh dần. Ngoài ra còn kết hợp với dải hội tụ nhiệt đới có xu hướng chuyển dịch dần xuống phía nam nên nguy cơ xảy ra các đợt mưa lớn trên diện rộng, nền nhiệt độ giảm rõ rệt so với tháng trước. 
 
 

Nông dân xã Thanh Hải chăm sóc đàn lợn thương phẩm.
Thời điểm này, bà con nông dân trên địa bàn huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) cần tập trung chăm sóc đàn vật nuôi hiệu quả, tránh để dịch bệnh xảy ra. Theo đó, chăm sóc cho đàn vật nuôi trong giai đoạn này người chăn nuôi cần áp dụng những biện pháp sau: Vệ sinh sạch sẽ chuồng nuôi, máng ăn, máng uống và khu vực xung quanh bằng chất sát trùng, vôi bột. 
 
Xử lý chất thải chăn nuôi bằng các biện pháp như bể biogas, thu gom phân rác để ủ. Chú ý các biện pháp kiểm soát dịch bệnh khi mới nhập đàn, tăng cường bổ sung chất điện giải để tăng sức đề kháng, chống strees do vận chuyển; quan tâm sưởi ấm (úm) đối với đàn lợn sơ sinh, đàn gia cầm từ 1 ngày đến 3 tuần tuổi.
 
Tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin cho đàn vật nuôi theo quy trình;  kiểm tra đàn thường xuyên khi phát hiện vật nuôi có biểu hiện khác thường như ủ rũ, kém ăn thì cần báo ngay cho cán bộ thú y để được tư vấn điều trị kịp thời tránh lây lan ra cả đàn. Khi trời mưa không thả gia súc, gia cầm sớm, định kỳ tẩy giun sán cho gia súc, gia cầm.
 
Đối với đàn trâu, bò, dê: Giai đoạn này các bệnh thường gặp là: Tụ huyết trùng, lở mồm long móng, đậu dê... Bệnh đậu dê: Triệu chứng con vật thường ủ bệnh từ 4-8 ngày, bỏ ăn sốt cao 40-41 độ C, chảy nước mắt, nước mũi, sau 1-2 ngày các nốt đậu nổi lên ở các niêm mạc như mũi, âm hộ, trên vùng da mỏng như đầu, cổ, phía trong chân. Ban đầu dạng mụn nước, sau chuyển sang màu trắng nâu, khô dần cứng lại thành vẩy dễ bong ra. Hiện nay chưa có thuốc đặc trị, cách tốt nhất là tiêm phòng vắc xin 6 tháng/lần, khi dê bị bệnh cần cách ly chăm sóc để tránh lây lan cả đàn, tiêm kháng sinh để phòng các bệnh kế phát. 
 
Đối với đàn lợn: Các bệnh thường gặp trong giai đoạn này là: Tai xanh, tụ huyết trùng, dịch tả, liên cầu khuẩn... Bệnh tai xanh: Hay xảy ra đối với lợn sau cai sữa, mới nhập đàn do strees vận chuyển và thay đổi khí hậu. Triệu chứng sốt cao kéo dài, phát ban toàn cơ thể, lợn giảm ăn hoặc bỏ ăn, tai tím tái sau đó chuyển màu xanh... Lợn nái sẩy thai hoặc đẻ non; lợn đực thì giảm tính hăng và chất lượng tinh dịch kém. Khi con vật bị bệnh cần cách ly chăm sóc, tăng cường phun thuốc sát trùng cả trong và ngoài khu vực chăn nuôi 1 lần/ngày. Dùng 1 loại kháng sinh phổ rộng để ngăn chặn nhiễm khuẩn thứ phát (Ampi-Kana, Gentamycine..) kết hợp với giảm sốt (Analgin-C), bổ sung chất điện giải, Gluco K-C giúp lợn  tăng sức đề kháng, nhanh phục hồi.
 
Đàn gia cầm: Thời điểm này trên đàn gia cầm thường xuất hiện các bệnh cúm gia cầm, tụ huyết trùng, Neu-cát-sơn, dịch tả vịt... Bệnh Neu-cát-sơn (bệnh gà rù): Triệu chứng điển hình là gà ủ rũ, mào thâm, bỏ ăn, đứng một mình mắt nhắm mắt mở, sốt cao, chân lạnh. Diều trướng, đầy hơi, khó thở, chảy nước mũi, dãi; tiêu chảy phân loãng lẫn nhớt, có màu trắng xanh (phân cứt cò). Gà ốm, chết ở mọi lứa tuổi; gà sống sót để lại di chứng thần kinh, nghẹo cổ, đi vòng quanh, mổ thức ăn không chính xác. Phòng bệnh bằng cách dùng vắc xin theo quy định, khi gà bị bệnh không có thuốc đặc trị, biện pháp cứu vãn đàn gà là tiêm vắc xin toàn bộ đàn và cho uống thuốc kháng sinh chống kế phát, thuốc bổ, thuốc hạ sốt tích cực.
 
Theo báo BGĐT

HIỆU QUẢ CAO VỚI MÔ HÌNH NUÔI LỢN KHÉP KÍN

Nhóm thông tin: 
   Hiện nay mô hình chăn nuôi lợn khép kín đang là hướng đi đúng đắn của nhiều bà con nông dân. Mô hình không chỉ giúp người nông dân thoát nghèo mà còn mở rộng quy mô chăn nuôi, phát triển kinh tế, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm khả năng mắc và lây truyền bệnh dịch trên đàn vật nuôi.
 
      Hướng tới mô hình chăn nuôi khép kín thì bà con cần nắm bắt kinh nghiệm, từng khâu kỹ thuật chăn nuôi lợn hiệu quả như cách xây dựng chuồng trại, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, cung cấp thức ăn cũng như phòng chống dịch bệnh. Hiện nay, ở Bắc Giang có nhiều nông dân đã thành công với mô hình này điển hình như anh Nguyễn Văn Báo ở thôn Giành Cũ, xã Quý Sơn, huyện Lục Ngạn với quy mô trang trại lớn và được xây dựng một cách khoa học. Khu chuồng lợn được xây dựng cạnh hồ nước rộng hơn 4 ha, không khí trong lành, yên tĩnh và được chia làm ba khu riêng biệt gồm: Khu chuồng chăn nuôi lợn nái sinh sản rộng hơn 1000 m2; khu chuồng chăn nuôi lợn hậu bị rộng 700 m2 và khu chuồng chăn nuôi lợn thương phẩm rộng hơn 500 m2. Hiện gia đình anh Báo thường xuyên duy trì chăn nuôi từ 200 - 300 con lợn thương phẩm và 70 con lợn nái ngoại. Với quy trình chăn nuôi lợn khép kín, chủ động hoàn toàn con giống và có khu vực chuồng trại chăn nuôi nằm cách xa khu dân cư nên công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn lợn được thực hiện hiệu quả. Trong vài năm gần đây, bình quân mỗi năm gia đình anh Báo xuất bán từ 50 - 70 tấn lợn thương phẩm, thu về khoảng 300-500 triệu đồng.
 
      Cũng với mô hình chăn nuôi khép kín như anh Báo, anh Nguyễn Văn Tứ ở thôn Sơn Quả 1, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa cũng là một hộ nông dân giỏi và thành công với mô hình này. Trang trại nuôi lợn của anh có diện tích 2200 m2, xây 6 chuồng  khép kín có hệ thống làm mát vào mùa hè, trung bình 300 con/chuồng. Hiện trang trại của anh Tứ đang duy trì 210 lợn nái, 1200 lợn thương phẩm. Mỗi tháng cung cấp ra thị trường 30 tấn lợn thịt, xuất chuồng 100 lợn con và 650 tấn cám. Để chăn nuôi phát triển như ngày hôm nay, anh Tứ luôn tìm tòi, học hỏi từ những người có kinh nghiệm, tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, đồng thời, tuân thủ nghiêm ngặt công tác tiêm phòng dịch bệnh, vệ sinh chuồng trại. Đặc biệt chú ý ngay từ khâu lựa chọn con giống. Đó là hai trong số rất nhiều hộ nông dân đã thành công nhờ mô hình nuôi lợn khép kín. Để chăn nuôi lợn mang lại kết quả lợi nhuận cao, nhiều nông dân đã tìm cách phối trộn cám, học cách tiêm vắc xin phòng ngừa dịch bệnh cho lợn, tự sản xuất con giống, giúp hạ chi phí đầu vào. 
 
 

 
Ảnh: Mô hình chăn nuôi lợn khép kín
 
       Theo kinh nghiệm của các hộ nông dân để xây dựng mô hình khép kín thì quan trọng nhất là ở khâu chọn giống và kỹ thuật chăm sóc. Trong chọn giống nên chọn lợn có tỷ lệ nạc cao, thân dài, mông nở, bụng thon, chọn giống ở những cơ sở có uy tín, đảm bảo. Biết phân lô, phân đàn cho lợn con và cho ăn theo đúng tiêu chuẩn khẩu phần sao cho phù hợp. Ngoài ra cần phòng trừ dịch bệnh cho đàn lợn đúng cách, tiêm vacxin phòng bệnh dịch cho đàn lợn. Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ chuồng trại vật nuôi. Cùng với kỹ thuật chăn nuôi bà con nông dân nên xây dựng hố đựng chất thải, hầm Biogas hay đệm lót sinh học để xử lý chất thải, ngăn ô nhiễm môi trường đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng.
 
       Để nhân rộng mô hình chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan cần có sự hợp tác nhằm tuyên truyền, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi và cách phòng trừ bệnh dịch cho bà con nông dân. Sự thành công của mô hình không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần thay đổi tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún của bà con nông dân sang hình thức nuôi trang trại tập trung, khép kín, hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường do chất thải, mang tính bền vững trong chăn nuôi./.
 
                                                                                                                          Hồng Quân.

TĂNG CƯỜNG BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH CHO GIA SÚC TRONG THỜI ĐIỂM GIAO MÙA

Nhóm thông tin: 
Hiện nay, thời tiết diễn biến phức tạp, môi trường chăn nuôi ô nhiễm nặng nên dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm dễ phát sinh. Đặc biệt ở thời điểm giao mùa vào tháng 3,4 (âm lịch), thời tiết hay có biến đổi thất thường, ngày nắng, đêm gió lạnh, kéo theo mưa phùn, ẩm độ cao, vật nuôi không thích nghi kịp nên dễ bị nhiễm bệnh. Đối với trâu, bò một số bệnh thường nhiễm tại thời điểm này như: bệnh tụ huyết trùng, viêm phổi ở bê nghé non, lở mồm long móng, bệnh cảm lạnh. Trên đàn lợn có thể mắc một số bệnh như: tai xanh, lở mồm long móng, đặc biệt hay mắc bệnh truyền nhễm như: tụ huyết trùng, dịch tả, phó thương hàn, đóng dấu. Riêng lợn con hay mắc hội chứng tiêu chảy, viêm phổi, Ecoli ... Với gia cầm, một số bệnh hay gặp như: bệnh Gumboro, Newcastle, bệnh cúm, hội chứng tiêu chảy. Thời điểm chuyển mùa cũng là thời điểm bệnh dễ xảy ra nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời sẽ phát sinh thành dịch do mầm bệnh (vi khuẩn, virus) có điều kiện thuận lợi để sinh sôi nảy nở, phát tán nhanh qua không khí, qua gió, qua thức ăn, nước uống, vật dụng chuồng nuôi.
 
Để chủ động phòng bệnh, người chăn nuôi cần áp dụng một số biện pháp sau:
 
- Đảm bảo tiêm phòng đầy đủ theo hướng dẫn của ngành Thú y: Đối với trâu, bò tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng, lở mồm long móng. Với lợn, đảm bảo tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng, dịch tả, phó thương hàn, đóng dấu, bệnh tai xanh, lở mồm long móng. Với lợn nái, tiêm thêm vắc xin Leptospira, suyễn; lợn con tiêm Ecoli.
 
- Chú ý vệ sinh chuồng trại sạch sẽ: Vệ sinh cơ giới là quét dọn rửa chuồng, khơi thông cống rãnh không để ứ nước đọng, lưu ý khâu này cần được thực hiện hàng ngày. Sau khi vệ sinh cơ giới xong phun thuốc sát trùng, một số loại thuốc sát trùng có hiệu quả cao, an toàn như: Vikol, Halamit, Benkocid, HanIodine. Việc phun phòng tốt nhất là phun định kỳ, diện tích phun rộng cả khu vực chuồng nuôi và xung quanh. Đối với các trang trại cần thực hiện tốt việc dùng các hố sát trùng và rắc vôi bột ngoài khu vực chuồng nuôi. Hộ nuôi ở trong gia đình cần lưu ý hệ thống thoát nước thải ra ngoài khu dân cư, tốt nhất cần có hệ thống Biogas để bảo vệ môi trường chăn nuôi cũng như môi trường công cộng.
 
- Đảm bảo dinh dưỡng đủ chất và đủ lượng: Ngoài lượng thức ăn, nước uống thường ngày cho đàn gia súc cần bổ sung các loại khoáng chất, Vitamin để giúp cho con vật nâng cao sức đề kháng, ngăn chặn mầm bệnh. Đối với lợn và gia cầm có thể bổ sung vào thức ăn, nước uống một số Vitamin, khoáng chất, chất điện giải cho vật nuôi ăn trực tiếp.
 
- Định kỳ thăm khám: Tiến hành kiểm tra thường xuyên đối với vật nuôi, nếu phát hiện vật nuôi không bình thường: bỏ ăn, sốt, ho, thở nhanh, tiếng thở khò khè, con vật đi đứng không bình thường, thích nằm .. cần cách ly riêng để xử lý.
 
- Với gia súc, gia cầm có nhu cầu vận chuyển từ nơi này sang nơi khác cần chú ý đảm bảo các quy trình vận chuyển, thực hiện nghiêm kiểm dịch vận chuyển để đảm bảo an toàn dịch bệnh. Khi mới nhập đàn trong thời điểm này với trâu, bò ngoài việc tiêm phòng các vắc-xin thông thường cần tiêm phòng thuốc phòng ký sinh trùng đường máu. Tăng cường thực hiện công tác kiểm soát giết mổ, nhất là ở các chợ kinh doanh động vật và sản phẩm động vật.
 
Nếu chủ động thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh trên, người chăn nuôi sẽ đảm bảo sức khỏe cho đàn gia súc, gia cầm, nhất là trong giai đoạn chuyển giao mùa như hiện nay.
 
                                                                                                          Hoàng Thoa (TH)

“LỢN SẠCH TÂN YÊN” ĐÃ ĐƯỢC CỤC SỞ HỮU TRÍ TUỆ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN NHÃN HIỆU

Nhóm thông tin: 
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại, chất lượng cuộc sống và sức khỏe con người ngày càng được quan tâm. Thực phẩm sạch, thực phẩm an toàn là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt và đóng góp to lớn trong việc cải thiện sức khỏe con người, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, thời gian gần đây vấn đề sử dụng chất tạo nạc trong chăn nuôi đã gây hoang mang trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe và gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khỏe của người dân. Do đó, việc chăn nuôi lợn sạch, xây dựng nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm “Lợn sạch Tân Yên” là hướng đi đúng đắn của huyện, góp phần đưa sản phẩm sạch đến với người tiêu dùng.
 
   Hàng năm, tổng đàn lợn của huyện Tân Yên đạt trên 200 nghìn con, chủ yếu tập trung ở các xã: Ngọc Châu, An Dương, Việt Lập, Việt Ngọc với 250 trang trại chăn nuôi lợn, quy mô 300 - 400 con lợn thịt/lứa. Hàng trăm gia trại, hộ chăn nuôi lợn từ 50 - 100 con/lứa. Xuất phát từ lợi thế chăn nuôi của địa phương, UBND huyện Tân Yên đã xúc tiến việc thành lập Hội chăn nuôi lợn sạch Tân Yên và ra mắt tháng 12/2014 với 54 hộ chăn nuôi tham gia.
 
   Ông Ngô Xuân Lương - Chủ tịch Hội chăn nuôi lợn sạch Tân Yên, đồng thời ông là cán bộ thú y xã. Năm 2012, ông đã cải tạo 8 mẫu vườn, ao ở thôn Tân Châu làm trang trại nuôi lợn  với 3 dãy chuồng gồm chuồng nuôi lợn nái, lợn đẻ và lợn thương phẩm. Cả 3 dãy đều có hệ thống quạt hút gió, giàn làm mát. Bình quân chi phí đầu tư chuồng nuôi cho 100 con lợn theo kiểu khép kín hết khoảng 100 triệu đồng. Với qui mô chuồng trại này có thể nuôi khoảng100 con lợn nái, 20 con lợn đẻ và 500 con lợn thương phẩm. Theo ông Lương, nghề chăn nuôi luôn tiềm ẩn rủi ro về đầu ra, giá cả bấp bênh, dịch bệnh đe dọa, thiếu kiến thức về chăn nuôi thú y, khâu chọn giống không bảo đảm, xử lý môi trường không tốt… Các hội viên đã cùng nhau trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong chăn nuôi, hạn chế dịch bệnh và bảo vệ môi trường. Hiện nay, tại các trại lợn của Hội chăn nuôi lợn sạch Tân Yên đều có hầm Bioga xử lý chất thải, tuân thủ quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt về chuồng trại, chăn nuôi. Tiếp tục vận động các hộ khác tham gia Hội để mở rộng quy mô, sản lượng lợn sạch. Đến nay, sản phẩm lợn sạch Tân Yên đã có mặt ở các tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hà Nội và một số tỉnh phía Nam. 
 
   Năm 2015, chăn nuôi lợn phát triển mạnh, giá cả ổn định, người chăn nuôi có lãi, nhu cầu về con giống nhất là giống lợn cao sản, là năm được đánh giá có nhiều thuận lợi như giá thức ăn giảm từ 1.200 - 2.000 đồng/kg, trong khi đó giá thịt lợn hơi và giá lợn giống bán ra cao và ổn định. Theo đánh giá trên mỗi đầu lợn giống khi xuất bán lợi nhuận đem lại khoảng từ 600.000 - 800.000đ/con, đối với lợn thịt đạt từ 800.000 - 1.000.000đ/con. Tổng đàn lợn trong Hội là 16.500 con trong đó có 1.500 con lợn nái, tăng 500 con so với cùng kỳ, đã sinh sản ra được bình quân 15.000 lợn con/lứa. mỗi năm 2 lứa khoảng 30.000 con/năm, ước tính bình quân khi xuất chuồng là100 kg/con. Tổng sản lượng lợn thịt là 3000 tấn lợn hơi. Giá bán bình quân 48.000đ/kg. Tổng giá trị ước đạt 144,4Tỷ, tăng  44,4 tỷ so với cùng kỳ.
 
 

 
Ảnh: Lợn sạch Tân Yên
 
  Do hiệu quả kinh tế cao và đầu ra ổn định nên các thành viên trong Hội đã và đang phát triển nhân đàn khá mạnh, ngoài ra cơ bản các hộ nâng cấp hệ thống chuồng trại từ nuôi chuồng hở đến nay đã sửa chữa và xây mới chuồng kín đạt khoảng 44% số hội viên trong toàn Hội. Ngoài ra, cơ bản các hộ còn phát triển tăng đàn lợn nái bình quân khoảng 20 - 30% tổng đàn.
 
   Năm 2016, tiếp tục cải tiến sửa chữa theo hướng nuôi chuồng kín và xây dựng được tiêu chí chăn nuôi an toàn sinh học theo hướng VietGAP cụ thể như: Kiểm soát đầu vào của đàn lợn bố mẹ có nguồn gốc rõ ràng, giống đạt chất lượng cao, kiểm soát đầu vào của thức ăn, sử dụng thức ăn của các công ty có uy tín trên thị trường, yêu cầu các công ty cam kết không sử dụng các chất cấm trong thức ăn, kiểm soát tình hình dịch bệnh trong toàn trại, không sử dụng các loại kháng sinh tồn dư lâu trong cơ thể gia súc, trước khi xuất bán 15 ngày tuyệt đối không sử dụng kháng sinh. 100% nước giếng khoan được sử dụng trong chăn nuôi. 100% trang trại của các Hội viên trong Hội đã có hầm Biogas để xử thải, có thẻ theo dõi đàn lợn nái, lợn thịt hàng ngày, có kho bảo quản dụng cụ sản xuất và quần áo bảo hộ lao động, phòng sát trùng trước khi vào chuồng, kho chứa cám, kho chứa vôi bột, hố sát trùng trước cổng ra vào, bể xử lý tấm nhựa và tấm đan trên mỗi lứa nuôi, bảng kế hoạch sản xuất trong tuần, bảng nội quy văn hóa trang trại, bảng tiêu chí thực hiện sản xuất nuôi lợn sạch, bảng quy trình tiêm phòng vắc xin định kỳ cho các loại lợn, có camera theo dõi giám sát để quản lý trong và ngoài trại.
 
   Với những nỗ lực của UBND huyên và Hội chăn nuôi lợn sạch Tân Yên năm 2016, sản phẩm “Lợn sạch Tân Yên” đã được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể cho Hội Chăn nuôi lợn sạch Tân Yên, góp phần phát triển kinh tế và đưa sản phẩm sạch đến với người tiêu dùng./.
 
http://thongtinkhcn.com.vn/bitrix/images/1.gif                                                                                                                        ĐT

LIÊN KẾT ĐỂ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI TẠI ĐÔNG PHÚ – LỤC NAM

Nhóm thông tin: 
Tổ hợp tác dịch vụ và chăn nuôi trồng trọt xã Đông Phú được thành lập năm 2014 với 17 thành viên cũng là 17 trang trại nuôi lợn với quy mô hộ lớn nhất là 60 nái, hộ ít nhất cũng có 20 nái. Tổ hợp tác hoạt động với mục đích tương trợ, giúp đỡ trong hoạt động sản xuất nhằm cải tạo con giống, giảm chi phí đầu vào, đảm bảo vệ sinh môi trường chăn nuôi, nâng cao chất lượng sản phẩm thịt.
 
Trang tại chăn nuôi của gia đình ông Giáp Văn Chỉnh - một trong số những trang trại của Tổ hợp tác dịch vụ và chăn nuôi trồng trọt xã Đông Phú, huyện Lục Nam. Trang trại của gia đình ông thường có khoảng 30 nái và số lượng lợn thịt dao động từ 100 đến 200 con. Mỗi con lợn từ nhỏ cho tới lúc xuất chuồng sẽ sử dụng hết khoảng 8 bao cám. Với giá thị trường hiện nay, khoảng 280.000 đồng/bao người chăn nuôi sẽ tốn khoảng 2,1 – 2,4 triệu cho chi phí thức ăn thế nhưng thực tế hiện nay, ông Chỉnh chỉ chi hết khoảng 2 triệu đồng tiền cám cho 1 con lợn mà vẫn đảm bảo trọng lượng bởi giá cám giảm 15.000 đồng - 30.000 đồng/bao. Đây là một trong số những lợi ích có được từ khi tham gia vào Tổ hợp tác dịch vụ và chăn nuôi trồng trọt xã Đông Phú.
 
Bên cạnh ưu đãi về chi phí thức ăn chăn nuôi khi tham gia vào tổ hợp tác những hộ chăn nuôi được cung cấp thông tin về nguồn giống tốt, qua đó các hội viên được Hội nông dân hỗ trợ cho vay vốn để chuyển đổi giống. Ông Chỉnh cho biết “Hiện nay, ngay tại trang trại của mình, tôi đã chuyển đổi 70% giống mới có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đồng thời giá thành thức ăn chăn nuôi giảm đáng kể đồng thời chúng tôi có kinh nghiệm chăn nuôi để chia sẻ cho nhau”.
 
Người có công tạo nên và phát triển mối liên kết này là anh Nguyễn Đức Bảy – Tổ trưởng tổ Hợp tác cũng là chủ của một khu nuôi lợn với 30 nái và hơn 100 con lợn thịt. Bắt đầu chăn nuôi từ năm 2000 nhưng khu chuồng trại của gia đình anh mới xây dựng lại từ năm 2007. Trải qua năm 2008 bị thiệt hại trên 400 triệu đồng từ dịch bệnh anh Bảy củng cố lại chuồng trại, đầu tư hệ thống làm mát và thay toàn bộ giống nuôi mới có chất lượng. Là chủ một trang trại lợn đồng thời cũng là chủ tịch HND xã anh Bảy nhận thấy muốn phát triển chăn nuôi không chỉ cho mình mà cho bà con trong xã thì điều cần thiết là phải tọ mối liên kết trong chăn nuôi vì vậy anh thuyết phục các hộ chăn nuôi lớn và nhỏ trên địa bàn xã Đông Phú để thành lập tổ hợp tác dịch vụ và chăn nuôi.
 
 

 
    Anh Nguyễn Đức Bảy đang chăm sóc đàn lợn
 
Nhằm nâng cao chất lượng trong chăn nuôi, Tổ hợp tác thường xuyên phổ biến cách làm mới, giảm thiểu ô nhiễm môi trường anh Bảy thường dùng men vi sinh trộn vào thức ăn chăn nuôi. Đây là cách làm mới đang được tổ hợp tác phổ biến đến các hộ thành viên. Kết quả sau hơn 1 năm thử nghiệm cho thấy cách làm này mang lại hiệu quả hơn hẳn. Khi áp dụng kỹ thuật này sẽ giúp đàn lợn hấp thụ được hoàn toàn thức ăn đưa vào, môi trường chăn nuôi được đảm bảo. Bà con chỉ phải bỏ ra 140.000 đồng để mua men vi sinh có thể trộn được với một tấn cám. Một con số tiết kiệm nhưng hiệu quả mang lại khá lớn. Đây là hướng đi mà anh Bảy muốn phổ biến đến tất cả tổ viên của tổ hợp tác nhưng để bà con làm theo thì anh phải là người tiên phong để cho họ thấy hiệu quả rõ rệt. Rõ ràng, sức mạnh để liên kết đã mang đến cho những người chăn nuôi tại xã Đông Phú một hướng chăn nuôi mới hiệu quả, an toàn. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng những gì họ đạt được là nền tảng tốt để tổ hợp tác xây dựng thành hợp tác xã trong thời gian tới./.
 
                                                                                                           Thanh Thanh 
 

CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG LỢN CON SAU CAI SỮA

Nhóm thông tin: 

Thức ăn cho lợn con sau cai sữa phải dễ tiêu, có hàm lượng dinh dưỡng cao, đủ chất, không bị ôi thiu, mốc... 1. Đặc điểm và kỹ thuật cai sữa lợn con Chỉ cai sữa cho lợn con khi lợn con đã ăn quen thức ăn tập ăn. Không cai sữa khi trong đàn đang có lợn con ốm. Lợn con có thể cai sữa sớm hoặc muộn phụ thuộc vào thể trạng của lợn mẹ và lợn con. Nên cai sữa cho lợn con trong khoảng 28 ngày tuổi đối với lợn lai; 21 ngày đối với lợn ngoại. Trong thời gian từ 3 - 5 ngày trước khi cai sữa, hạn chế lượng thức ăn, nước uống hàng ngày của lợn mẹ, không cho lợn mẹ ăn rau xanh và củ quả để giảm dần tiết sữa. Trước khi cai sữa lợn con từ 3 - 5 ngày, hạn chế dần số lần cho bú. Thời gian tách mẹ tốt nhất là vào ban ngày. Khi cai sữa, nên để lợn con lại chuồng một thời gian để tránh lợn con không bị thay đổi môi trường đột ngột và chuyển lợn mẹ đi nơi khác nếu có điều kiện. Tách mẹ ra khỏi đàn Giảm nhẹ mức ăn của lợn con trong 3 - 4 ngày cai sữa đầu tiên để tránh tiêu chảy. Không thay đổi loại thức ăn cho lợn con vào ngày cai sữa. Tiếp tục cho lợn con ăn thức ăn tập ăn chất lượng cao trong 20 - 30 ngày tiếp sau cai sữa. Khi lợn mẹ đã cạn sữa, cho ăn thức ăn đầy đủ dinh dưỡng, tăng lượng thức ăn cho lợn nái trong vòng 3 - 5 ngày và chuẩn bị tiếp tục cho phối giống. Lợn con dễ bị stress (căng thẳng) sau khi cai sữa vì thiếu lợn mẹ và chuyển đổi khẩu phần ăn từ sữa sang thức ăn khô. Bộ máy tiêu hoá của lợn con vẫn chưa phát triển đầy đủ. Lợn rất dễ mắc các bệnh về đường tiêu hoá. Khả năng điều hoà thân nhiệt của lợn con còn kém. Sức đề kháng của cơ thể vẫn chưa cao. Cần chăm sóc lợn con cẩn thận, cho ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng để lợn con phát triển tốt. Lợn con cần được vận động nhiều để phát triển thể chất. 2. Chăm sóc lợn con sau cai sữa 2.1. Thức ăn và cách cho ăn Thức ăn cho lợn con sau cai sữa phải dễ tiêu, có hàm lượng dinh dưỡng cao, đủ chất, không bị ôi thiu, mốc... nên dùng thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa, có thể phối trộn từ bột ngô, bột đậu tương, gạo lứt, tấm xay, bột cá nhạt, bột xương... Cách cho ăn khi cai sữa: Ngày sau cai sữa Thức ăn tập ăn (%) Thức ăn của lợn sau cai sữa (%) Ngày thứ 1 100 0 Ngày thứ 2 75 25 Ngày thứ 3 50 50 Ngày thứ 4 25 75 Ngày thứ 5 0 100 Sau cai sữa, quan sát nếu không thấy hiện tượng tiêu chảy, nâng dần lượng thức ăn theo mức ăn tăng của đàn lợn. Thông thường cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do. Máng ăn, máng uống: Cần có máng uống riêng, đặt ở độ cao thích hợp, không để lợn con trèo vào đái, ỉa và uống phải nước bẩn mất vệ sinh. Chiều dài máng ăn khoảng 20 cm/đầu lợn và nên chia ngăn để tất cả lợn con có thể được ăn cùng một lúc. Chiều cao máng khoảng 12 - 13 cm, chiều rộng đáy khoảng 20 - 22 cm. 2.2. Điều kiện chuồng nuôi Chuồng nuôi phải khô ráo, ấm áp, được che chắn để tránh gió lùa. Những ngày đầu lợn con mới tách mẹ nên giữ nhiệt độ chuồng nuôi tương đương với nhiệt độ chuồng nuôi trước cai sữa. Nhiệt độ thích hợp cho lợn con sau cai sữa từ 25 – 27độ C. Thay đổi đột ngột nhiệt độ chuồng nuôi sẽ rất có hại cho lợn con, đặc biệt vào mùa đông lợn dễ bị viêm phổi. Quan sát đàn lợn để biết nhiệt độ chuồng nuôi. - Lợn đủ ấm: Con nọ nằm cạnh con kia. - Lợn bị lạnh: Nằm chồng chất lên nhau, lông dựng, mình mẩy run. - Lợn bị nóng: Nằm tản mạn mỗi nơi 1 con, tăng nhịp thở. 2.3. Vệ sinh phòng bệnh Lợn con sau cai sữa thường gặp 2 bệnh chính là bệnh tiêu chảy và viêm phổi. Cần phòng tránh và phát hiện sớm, can thiệp kịp thời khi bị bệnh. Đảm bảo thức ăn, nước uống và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý. Vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống thường xuyên. Không để lợn con bị lạnh, gió lùa, sàn chuồng ẩm ướt. Tiêm phòng đầy đủ cho lợn con. Nguồn: Khuyến nông Quốc gia