Tin trong nước

QUẢNG BÌNH: ĐÀN GIA SÚC GIẢM MẠNH DO DỊCH CHỒNG LÊN DỊCH

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Do ảnh hưởng bệnh dịch tả lợn Ch&acirc;u Phi (DTLCP) v&agrave; lở mồm long m&oacute;ng (LMLM), tổng đ&agrave;n gia s&uacute;c to&agrave;n tỉnh đang giảm mạnh</div> <div> Theo th&ocirc;ng tin từ Chi cục Chăn nu&ocirc;i - Th&uacute; y Quảng B&igrave;nh, đ&agrave;n lợn to&agrave;n tỉnh giảm 30%, đ&agrave;n tr&acirc;u b&ograve; đều giảm 9% so với c&ugrave;ng kỳ.</div>
Do ảnh hưởng bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) và lở mồm long móng (LMLM), tổng đàn gia súc toàn tỉnh đang giảm mạnh
Theo thông tin từ Chi cục Chăn nuôi - Thú y Quảng Bình, đàn lợn toàn tỉnh giảm 30%, đàn trâu bò đều giảm 9% so với cùng kỳ.
Lợn là đối tượng chăn nuôi giảm đàn mạnh nhất, hiện tổng đàn chỉ còn khoảng 229.400 con, bằng 61% kế hoạch, giảm 30% so với cùng kỳ; đàn trâu, bò cũng còn khoảng 94.000 con, tương đương gần 92% kế hoạch, giảm gần 9% cùng kỳ. Nguyên nhân là do bệnh DTLCP và dịch LMLM xuất hiện và diễn biến phức tạp tại 8/8 huyện, thành phố.
 
Theo Chi cục Chăn nuôi - Thú y Quảng Bình, tính từ khi phát hiện ổ dịch đầu tiên (giữa tháng 6) đến cuối tháng 11/2019, bệnh DTLCP đã xảy ra tại 293 hộ/134 thôn của 51 xã, phường thuộc 8 huyện, thành phố. Tổng số lợn bị bệnh tiêu hủy là trên 2.300 con, trọng lượng tiêu hủy gần 119.000 kg.
 
Hiện tại, còn 34 xã thuộc 8 huyện, thành phố đang có dịch; trong đó 25 xã, phường đang có dịch chưa qua 30 ngày, 9 xã đã qua 30 ngày nhưng phát dịch trở lại (xã Xuân Hóa,Trọng Hóa, Yên Hóa- huyện Minh Hóa; xã Tiến Hóa, Phong Hóa, Mai Hóa, Thạch Hóa - huyện Tuyên Hóa; xã Hưng Thủy, Mai Thủy - huyện Lệ Thủy ).
 
Còn ổ dịch bênh LMLM phát hiện đầu tiên vào ngày 23/10 tại xã Sơn Thủy (huyện Lệ Thủy) với số trâu, bò bị mắc là 71 con (đã chết 7 con) của 32 hộ thuộc 4 thôn trong xã.
 
Tại huyện miền núi Minh Hóa, dịch LMLM cũng đang có chiều hướng lan rộng. Theo Phòng NN - PTNT huyện này, đến nay trên địa bàn huyện đã có gần 500 con trâu, bò của 105 hộ dân ở các xã Hồng Hóa, Hóa Thanh, Hóa Tiến… bị mắc bệnh LMLM. Một số địa phương khác trong tỉnh cũng đã xuất hiện dịch LMLM trên đàn trâu, bò; tuy dịch đang ở mức độ nhỏ lẻ, rải rác nhưng diễn biến phức tạp, khó lường…
 
Ông Trần Công Tám, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi - Thú y Quảng Bình chia sẻ: "Trong khi đang phải gồng mình phòng chống DTLCP trên đàn lợn thì dịch LMLM trên đàn trâu, bò lại bùng phát. Lực lượng thú y chúng tôi phải căng sức mình dập dịch “kép". Hiện, Chi cục đã cử 100 % cán bộ kỹ thuật xuống phối hợp và hỗ trợ các địa phương tổ chức các biện pháp phòng, chống dịch bệnh nhằm xử lý các ổ dịch triệt để, hạn chế lây lan ra các địa phương khác".
 
Các chủ trang trại, hộ chăn nuôi cũng được chi cục khuyến cáo cần thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, tích cực tiêm vắc xin phòng chống dịch LMLM, đẩy mạnh tiêu độc khử trùng chuồng trại… nhằm bảo đảm an toàn dịch bệnh và nâng cao hiệu quả chăn nuôi...
 
Theo: nongnghiep.vn

NẠN GIỐNG GIẢ BÀO MÒN DANH TIẾNG GẠO VIỆT: ĐAU ĐẦU GIỐNG GIẢ, GIỐNG NHÁI

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> C&oacute; lẽ chưa ở đ&acirc;u l&agrave;m l&uacute;a giống lại dễ như ở ĐBSCL. N&ocirc;ng d&acirc;n tự l&agrave;m l&uacute;a giống, cơ sở, doanh nghiệp l&agrave;m l&uacute;a giống c&oacute; mặt ở khắp mọi nơi. Thậm ch&iacute; lấy l&uacute;a thịt (l&uacute;a h&agrave;ng h&oacute;a) l&agrave;m l&uacute;a giống.</div> <div> &nbsp;</div>
Có lẽ chưa ở đâu làm lúa giống lại dễ như ở ĐBSCL. Nông dân tự làm lúa giống, cơ sở, doanh nghiệp làm lúa giống có mặt ở khắp mọi nơi. Thậm chí lấy lúa thịt (lúa hàng hóa) làm lúa giống.
Để né sự kiểm tra, dùng bao trắng đựng lúa giống, nông dân vẫn mua vô tư mua vì giá rẻ.  
 
Dễ như... làm lúa giống
Hệ lụy của việc làm giống tràn lan, thiếu kiểm soát là lượng lúa giống gieo vãi dùng quá nhiều, phát sinh nhiều dịch bệnh, tăng chi phí sản xuất. Chất lượng đầu vào kém thì tất nhiên đầu ra không thể tốt được. Và hệ lụy là chất lượng lúa gạo của vựa lúa lớn nhất cả nước, đóng góp phần lớn lượng gạo xuất khẩu, mãi vẫn bán giá thấp, không thể nâng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
 
Nông dân ĐBSCL từ trước đến nay chủ yếu là quen với gieo sạ giống lúa thuần. Mà lúa thuần thì nông dân có thể dùng lúa của vụ trước để gieo sạ cho vụ sau. Giống tự làm nên nông dân cứ gieo sạ vô tội vạ, hình thành thói quen sạ lan, với lượng giống sử dụng rất nhiều, lên tới 200 - 250 kg/ha.
 
Hiện nay, do thâm canh nên mùa vụ rất sát nhau, nông dân ít người tự làm giống mà đi mua. Giống có phẩm cấp thì giá cao, mà gieo sạ dày thì rất tốn kém. Vì vậy, nông dân thường chọn các loại lúa giống rẻ tiền, miễn là nhìn đẹp mắt, có đóng bao bì là được. Đây chính là lý do khiến cho các loại lúa giống giả, giống nhái tràn lan tại ĐBSCL.
 
Các công ty, đơn vị làm ăn chân chính rất dễ nản chí, thấp chí mất thị phần khi giống vừa tung ra thị trường đã bị đánh cắp bản quyền một cách trắng trợn. Không ít giống lúa có chất lượng, được nông dân chấp nhận, như: OM 5451, OM 4900, RVT, Đài Thơm 8, ĐS 1… vừa đưa ra thị trường đã bị làm giả, làm nhái tràn lan, khiến đơn vị sở hữu thiệt đơn, thiệt kép.
 
Với mật độ gieo sạ trên 150kg lúa giống/ha như hiện nay, mỗi năm nông dân ĐBSCL cần từ 600 - 700 ngàn tấn lúa giống. Đây là thị trường đầy tiềm năng đối với các doanh nghiệp kinh doanh lúa giống. Tuy nhiên, với cách làm ăn chụp giựt, thiếu sự kiểm soát của cơ quan chức năng khiến nhiều công ty, trung tâm giống nản lòng, thậm chí thua lỗ.  
 
Chấp nhận giống kém vì rẻ
Với thói quen, tập quán gieo sạ dày, nông dân không thể mua giống có phẩm cấp, chất lượng vì chi phí đầu tư quá cao. Lão nông Đỗ Văn H. ở xã Tân An, Tân Hiệp, Kiên Giang, đã 2 năm nay sản xuất giống lúa Đài Thơm 8, theo hợp đồng bao tiêu của một công ty.
 
Trên bao giống đơn vị cung cấp chỉ ghi vỏn vẹn mấy thông tin, tên giống lúa và kèm theo dòng chữ “lúa nguyên liệu”. Hoàn toàn không có tên đơn vị sản xuất, cung cấp.
 
Hỏi lý do mua lúa giống không có thương hiệu, ông H. bảo: “Gia đình tôi làm lúa mấy chục năm nay rồi, từng tự để giống gieo sạ cho vụ sau. Tuy nhiên, gần đây do thâm canh tăng vụ, thời gian gấp gáp nên không tự để giống nữa. Nhưng nếu mua giống có phẩm cấp, có bao bì thì giá cao, tốn kém quá.
 
Những đơn vị bán ngoài vầy giá rẻ hơn tới 3 - 4 ngàn đồng/kg, mà nhìn hạt giống cũng có vẻ sạch. Hơn nữa, mình mua họ có hợp đồng cung cấp giống, vật tư và thu mua lại sau khi thu hoạch”.
 
Ông Nguyễn Trường Đông, Phó Giám đốc Trung tâm Giống nông lâm ngư nghiệp Kiên Giang cho biết, hiện nay, làm giống bài bản sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vì cạnh tranh thị trường rất quyết liệt. Ngán nhất là những đơn vị làm ăn gian dối, chụp giựt. Nếu giống mình tự nghiên cứu phải mất cả chục năm mới ra được. Còn giống của đơn vị khác nghiên cứu thì mình muốn kinh doanh phải có sự chia sẻ bản quyền, nhượng quyền.
 
Tuy nhiên, một số giống lúa mà nông dân có nhu cầu cao, tiêu thụ tốt như OM 5451, OM 18, đơn vị mua độc quyền họ không muốn chia sẻ nữa. Trong khi các đơn vị kinh doanh giống gian dối, chụp giựt, họ không đăng ký, bán với bao trắng thì không tốn những chi phí này.
 
Vì vậy, họ sẵn sàng bán rẻ hơn lúa giống có thương hiệu từ 3 - 5 ngàn đồng/kg, nông dân ham rẻ là họ mua, do bớt được chi phí trước mắt. Chưa kể sản xuất lúa giống đúng quy trình có chi phí cao, còn họ chỉ mua lúa thịt về làm sạch, đóng bao bán giá sẽ thấp hơn nữa.
 
Tại buổi lễ phát động ứng dụng cơ giới hóa khâu gieo cấy tại ĐBSCL, vừa được tổ chức tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh cho rằng, không nơi nào nông dân sử dụng lượng lúa giống gieo sạ nhiều như ĐBSCL hiện nay. Hiện vẫn còn sử dụng tới 150 - 200 kg/ha. Mà đã sử dụng nhiều như vậy thì không thể mua lúa giống có phẩm cấp được, vì chi phí cao.
 
Hơn nữa, gieo sạ quá dày cây lúa không có không gian phát triển, sinh trưởng, tạo ra môi trường tiểu khí ẩm, làm phát sinh dịch bệnh, làm tăng chi phí sản xuất. Quan trọng nhất là việc gieo sạ quá dày sẽ không thể sản xuất lúa chất lượng cao được, không thể nâng chất lượng hạt gạo lên, rất khó cho việc xây dựng thương hiệu, bán được giá cao.  
 
Nhiều chiêu trò lách luật
Có cầu ắt có cung. Để đáp ứng nhu cầu thị trường, nhiều đơn vị làm ăn bất chính đã len lỏi, mọc lên khắp nơi. Ông Lê Văn Đá, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt - BVTV Kiên Giang cho biết, hiện tượng sản xuất, kinh doanh giống lúa kém chất lượng khá phổ biến. Thậm chí một số đơn vị còn lợi dụng mối liên kết làm cánh đồng lớn, họ tự làm hợp đồng với nông dân, thậm chí là thông qua các hội, đoàn của xã, cung cấp lúa giống, vật tư và bao tiêu sản phẩm.
Điều đáng nói là chất lượng lúa giống của các đơn vị này rất kém, thậm chí là dùng lúa thịt làm sạch rồi đóng bao bán, không đủ phẩm cấp làm lúa giống. Để né sự kiểm tra, họ thường dùng bao trắng, ghi bên ngoài là lúa nguyên liệu, lúa để ăn kèm tên giống lúa để nông dân nhận biết. Đây là cách để đối phó với cơ quan chức năng. Vì có kiểm tra cũng không có căn cứ để xử phạt. Thậm chí là họ dùng chính bao bì của các công ty sản xuất giống đã bán ra, sau đó mua lúa cùng loại đóng vào rồi bán lại cho nông dân.
 
Bao lúa giống hiện nay gần như không có gì để đảm bảo chất lượng, vì chỉ có đóng bao may miệng là xong. Trong khi, máy may loại cầm tay bây giờ quá rẻ, rất dễ đầu tư. Để kiểm tra, đánh giá chất lượng lúa giống thì chỉ còn cách lấy mẫu đưa đi phân tích. Mà khi có kết quả thì đôi khi đại lý đã bán hết ra cho nông dân rồi.
 
Theo ông Đá, những năm qua, đơn vị đã nhận được rất nhiều đơn thư khiếu nại của nông dân về tình trạng mua phải giống lúa kém chất lượng, dẫn đến lúa bị phân tầng, bùng phát dịch bệnh, năng suất giảm, thậm chí mất mùa. Nhưng cái khó là hợp đồng nông dân ký với các công ty là hợp đồng dân sự, mà cũng không có điều khoản nào là cung cấp lúa giống mà chỉ là lúa nguyên  liệu. Vì vậy, cũng không thể áp dụng chế tài xử lý, bảo vệ nông dân được.
 
Mặc dù có quá nhiều vi phạm, nhưng để xử phạt được một đơn vị vi phạm trong lĩnh vực giống cũng không đơn giản. Cụ thể, theo ông Đá, nếu thanh tra các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp mà phát hiện lúa giống đựng trong bao trắng ghi lúa nguyên liệu, lúa để ăn thì chỉ có thể nhắc nhở. Chưa kể khi phát hiện có thanh tra, họ đóng cửa cửa hàng, không kinh doanh thì đành về không chứ không thể đợi cả ngày được.
 
Theo: nongnghiep.vn

PHÁT HIỆN HƠN 3.000 CHAI NƯỚC MẮM KHÔNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Kết quả kiểm nghiệm cho thấy 3.060 chai nước mắm cốt c&aacute; cơm v&agrave; c&aacute; cơm v&agrave;ng do C&ocirc;ng ty TNHH chế biến Thuỷ đặc sản Long Hải sản xuất đều l&agrave; h&agrave;ng giả.</div> <div> &nbsp;</div>
Kết quả kiểm nghiệm cho thấy 3.060 chai nước mắm cốt cá cơm và cá cơm vàng do Công ty TNHH chế biến Thuỷ đặc sản Long Hải sản xuất đều là hàng giả.
Ngày 29/10, Đội Quản lý thị trường số 3 - Cục Quản lý thị trường Nghệ An phối hợp với Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Nghệ An tiến hành kiểm tra ô tô vận tải hàng hoá do ông Hà Văn Mười địa chỉ xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn điều khiển.
 
Kết quả phát hiện trên xe đang vận chuyển 3.060 chai nước mắm cốt cá cơm và nước mắm cá cơm vàng do Công ty TNHH chế biến Thủy đặc sản Long Hải sản xuất, địa chỉ trụ sở chính tại số 104 Trương Định, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
 
Tiến hành giám định và kiểm nghiệm chất lượng 2 mẫu nước mắm trên cụ thể như sau: Mẫu 1 trên nhãn hàng hoá công bố có độ đạm 13+-2, kết quả kiểm nghiệm là 6.36g/1, chỉ đạt 49% so với chỉ tiêu công bố. Trong khi đó, mẫu 2 tên nhãn hàng hóa công bố có độ đạm 18-20gN/L, kết quả kiểm nghiệm là 7.37g/1 đạt 40,94% so với chỉ tiêu công bố.
 
Sau khi có kết luận chính thức, Đội Quản lý thị trường số 3 đã hoàn tất hồ sơ, lập biên bản vi phạm hành chính chuyển giao cho Cục QLTT Nghệ An ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 50 triệu đồng đối với hành vi buôn bán hàng giả, không có giá trị sử dụng, công dụng theo đúng quy định của pháp luật.
 
Ngoài ra, toàn bộ số hàng hóa vi phạm buộc phải tiêu hủy.
 
Theo: nongnghiep.vn

5 XÃ CỦA THỊ XÃ NGÃ NĂM ĐẠT CHUẨN

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Qua 10 triển khai thực hiện Chương tr&igrave;nh x&acirc;y dựng NTM, thị x&atilde; Ng&atilde; Năm (S&oacute;c Trăng) đ&atilde; đạt được nhiều th&agrave;nh tựu nổi bật, diện mạo n&ocirc;ng th&ocirc;n c&oacute; bước chuyển biến r&otilde; n&eacute;t.</div> <div> &nbsp;</div>
Qua 10 triển khai thực hiện Chương trình xây dựng NTM, thị xã Ngã Năm (Sóc Trăng) đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, diện mạo nông thôn có bước chuyển biến rõ nét.
Sau 10 năm triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM), nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác xây dựng NTM tại thị xã Ngã Năm có chuyển biến tích cực.
Về thị xã Ngã Năm những tháng cuối năm, nhiều người sẽ rất bất ngờ với diện mạo nông thôn đã thay đổi rõ nét. Hạ tầng nông thôn ngày càng hoàn thiện, các công trình giao thông nông thôn, xây dựng trường học, trạm y tế, các thiết chế văn hóa được đầu tư nâng cấp đạt chuẩn.
 
Ở thời điểm xuất phát năm 2011, trung bình các xã của Ngã Năm chỉ đạt dưới 7 tiêu chí, thì đến nay có 5/5 xã đạt 19/19 tiêu chí và được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2020 có 1 xã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao. Năm 2019, thu nhập bình quân đầu người của người dân các xã đã đạt 47,22 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 3,3% (giảm trên 86%).
 
Ông Nguyễn Văn Thứ, Bí thư Thị ủy - Chủ tịch UBND TX. Ngã Năm, chia sẻ: Để đạt được những kết quả trên, TX. Ngã Năm đã tập trung chỉ đạo thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Từ đó, từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung với quy mô lớn theo từng vùng phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội, gắn với chế biến và liên kết tiêu thụ nông sản như: mô hình trồng cây ăn trái, nuôi gà tàu thả vườn, chăn nuôi gia súc theo hướng gia trại, trang trại.
 
Ngoài ra, thị xã còn tranh thủ các nguồn vốn chuyển giao khoa học kỹ thuật và các mô hình tiên tiến, mang lại hiệu quả kinh tế cao được người dân đồng tình và nhân rộng. Đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư chế biến nông sản, xây dựng cửa hàng an toàn thực phẩm, góp phần quảng bá thương hiệu các sản phẩm đặc sản địa phương, các sản phẩm tiềm năng OCOP, tạo địa điểm tin cậy, cung cấp thực phẩm an toàn, đáp ứng nhu cầu thị trường.
 
Theo: nongnghiep.vn

BỘ TRƯỞNG NGUYỄN XUÂN CƯỜNG TIẾP XÚC CỬ TRI TẠI TỈNH BẮC KẠN

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> C&aacute;c Đại biểu Quốc hội đ&atilde; th&ocirc;ng tin nhanh tới cử tri về kết quả Kỳ họp thứ 8, Quốc hội kh&oacute;a XIV; b&aacute;o c&aacute;o t&oacute;m tắt kết quả hoạt động của đo&agrave;n ĐBQH năm 2019, phương hướng, nhiệm vụ năm 2020; b&aacute;o c&aacute;o tổng hợp trả lời &yacute; kiến, kiến nghị cử tri của c&aacute;c cơ quan chức năng trung ương v&agrave; địa phương từ trước Kỳ họp thứ 8, Quốc hội kh&oacute;a XIV đến nay.</div> <div> &nbsp;</div>

 

Các Đại biểu Quốc hội đã thông tin nhanh tới cử tri về kết quả Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV; báo cáo tóm tắt kết quả hoạt động của đoàn ĐBQH năm 2019, phương hướng, nhiệm vụ năm 2020; báo cáo tổng hợp trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri của các cơ quan chức năng trung ương và địa phương từ trước Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đến nay.
 
Kỳ họp đã thông qua 11 Luật, Bộ luật, trong đó, đáng chú ý là Bộ Luật Lao động sửa đổi quy định tuổi nghỉ hưu người lao động sẽ được nâng lên 60 tuổi với nữ và 62 tuổi với nam giới. Tại kỳ họp này, Quốc hội cũng thông qua 17 nghị quyết. Cử tri 3 xã của huyện Bạch Thông bày tỏ sự quan tâm đến Nghị quyết phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, mong muốn Trung ương và tỉnh có chỉ đạo cụ thể để Nghị quyết đi vào cuộc sống.
 
Sau khi nghe qua nội dung các báo cáo, đại diện cử tri 3 xã Hà Vị, Lục Bình và Tú Trĩ đã kiến nghị với đại biểu Quốc hội những vấn đề như: Đề nghị trung ương, tỉnh tiếp tục quan tâm nhiều hơn đến xây dựng cơ sở hạ tầng; có chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế rừng, mở đường lâm nghiệp; tháo gỡ khó khăn thủ tục hành chính cho HTX Hợp Giang trong việc xin chuyển đổi quỹ đất để mở rộng quy mô sản xuất; đề nghị xem xét, cho khai thác hợp lý đối với các loại rừng đến tuổi khai thác (trong đó rừng Dự án PAM). Một số ý kiến khác liên quan đến chế độ chính sách, phụ cấp chức vụ ở thôn...
Phát biểu tại buổi tiếp xúc, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường tiếp thu những đề xuất, kiến nghị của cử tri. Bộ trưởng cho rằng, với điều kiện thổ nhưỡng, giao thông thuận lợi như hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể khai thác thành những điểm mạnh của địa phương như phát triển cây khoai tây, rau màu, nấm… Điều quan trọng là phải chịu khó tư duy, biết cách tổ chức sản xuất.
 
Để làm được như vậy, Bộ trưởng đề nghị trong thời gian tới, các cấp, ngành, địa phương tỉnh Bắc Kạn cần tập trung tái cơ cấu sản xuất; khuyến khích, hỗ trợ người dân phát triển mạnh mẽ hơn nữa phong trào trồng rừng, gắn bó với đất rừng để làm giàu từ rừng; quan tâm, hỗ trợ người dân bị thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi, đồng thời có kế hoạch hướng dẫn việc tái đàn, áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học…

 

XÚC TIẾN TIÊU THỤ NÔNG SẢN: CÁCH LÀM HIỆU QUẢ Ở NHIỀU ĐỊA PHƯƠNG

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Nhiều tỉnh ở ph&iacute;a Bắc như: Bắc Giang, Sơn La, H&ograve;a B&igrave;nh, Tuy&ecirc;n Quang, H&agrave; Giang... c&oacute; điều kiện thuận lợi để ph&aacute;t triển c&acirc;y ăn quả theo hướng h&agrave;ng h&oacute;a tập trung. Thực tế nhiều địa phương đ&atilde; khai th&aacute;c tốt thế mạnh, tiềm năng của m&igrave;nh, mang lại hiệu quả kinh tế cao.</div> <div> &nbsp;</div>
Hướng đi đúng và trúng
 
Nhiều tỉnh ở phía Bắc như: Bắc Giang, Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Hà Giang... có điều kiện thuận lợi để phát triển cây ăn quả theo hướng hàng hóa tập trung. Thực tế nhiều địa phương đã khai thác tốt thế mạnh, tiềm năng của mình, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
 
Điển hình như ngành nông nghiệp tỉnh Sơn La năm 2018 thành công với GDP toàn ngành đạt 7.229 tỷ đồng, tăng 12,63% so với năm 2017 và cao nhất trong vòng 5 năm qua. Trong đó, xuất khẩu 135.000 tấn nông sản, tổng giá trị hơn 112,6 triệu USD, vượt hơn 40% kế hoạch đề ra. Chưa có năm nào sản xuất nông sản Sơn La lại có sự bứt phá như vậy.
 
Theo thống kê, năm 2018, Sơn La đã tổ chức thành công 9 lượt “tuần hàng nông sản an toàn” và tiêu thụ khoảng 24.000 tấn nông sản tại các hệ thống siêu thị ở Hà Nội. Trong đó, hệ thống siêu thị BigC tiêu thụ 645 tấn rau, củ, quả các loại, tăng 15 lần so với năm 2017.
 
Tại Tuần lễ nhãn và nông sản an toàn Sơn La năm 2018, chỉ tính riêng sau ba tuần lễ tổ chức, tỉnh tiêu thụ được 500 tấn nông sản, chủ yếu là nhãn. Sản phẩm nông sản chủ yếu được đưa vào các siêu thị lớn như Intimex, HaproMart, Vinmart, BigC, LotteMart.
 
Nhiều đơn vị đã ký cam kết tiêu thụ nông sản với các công ty, nông hộ sản xuất nông nghiệp của tỉnh, ổn định đầu ra cho sản phẩm.
 
Năm 2018, Sơn La còn đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại tại Trung Quốc và một số quốc gia khác.
 
Thông qua những hoạt động trên, một sản lượng lớn nông sản đã được tiêu thụ và giúp thương hiệu nông sản của Sơn La được nhiều người tiêu dùng biết đến. Nhờ vậy, tỉnh xuất khẩu 3.500 tấn xoài sang thị trường Australia, Trung Quốc, kim ngạch 1,75 triệu USD; xuất khẩu khoảng 5.000 tấn nhãn sang thị trường Trung Quốc, Mỹ, xuất chào hàng sang Nhật Bản, Hàn Quốc, kim ngạch hơn 11 triệu USD.
Quyền Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản Nguyễn Quốc Toản cho biết, vai trò của công tác xúc tiến thương mại của ngành nông nghiệp rất quan trọng, nhất là trong việc mở rộng, phát triển, tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng nông, lâm, thủy sản ổn định và có giá trị cao, bao gồm cả thị trường xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Khi nước ta tham gia các hiệp định thương mại, công tác xúc tiến thương mại nông sản luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, góp phần giúp ngành nông nghiệp vượt qua khó khăn, mang lại giá trị gia tăng cao.
 
Hiệu quả từ cách làm bài bản
 
Xúc tiến thương mại có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta, tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nhiều địa phương làm tốt công tác này. Một số địa phương còn thiếu sự nhanh nhạy, linh hoạt; doanh nghiệp cũng chưa quyết liệt, mặn mà trong mở rộng, tìm kiếm thị trường mới. Sự bứt phá về tiêu thụ nông sản của các tỉnh Bắc Giang, Sơn La chủ yếu nhờ vào nỗ lực, quyết tâm và cách làm của từng địa phương.
 
Từ cách làm bài bản, riêng diện tích vải thiều năm 2019 của Bắc Giang đạt trên 28.000ha, trong đó có 13.855ha vải sản xuất theo quy trình VietGAP, 218 ha vải sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGAP - được Mỹ cấp mã số IRADS (18 mã số vườn) với 394 hộ.
 
Đặc biệt, Trung Quốc đã cấp 149 mã vùng trồng vải thiều, với diện tích trên 16.000ha và 86 cơ sở đóng gói; các cơ sở đảm bảo điều kiện, tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
 
Tổng giá trị thu được từ vải và các dịch vụ phụ trợ đạt gần 6.500 tỷ đồng. Giá vải thiều duy trì ở mức cao, 30.000-60.000 đồng/kg, có thời điểm lên tới hơn 70.000 đồng/kg. Với giá này, tính bình quân giá trị thu được lên đến 230 triệu đồng/ha.
 
Tại Sơn La, năm 2018, có 41 đơn vị thực hiện quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGap. Đã xây dựng thương hiệu cho 17 sản phẩm nông sản. Từ tháng 3/2017, tỉnh bắt đầu gắn tem nhãn điện tử thông minh nhận diện và truy xuất nguồn gốc sản phẩm…
 
Hết năm 2018, Sơn La có khoảng 84.030 hộ sản xuất và kinh doanh 58.824ha cây ăn quả. Nhiều diện tích cây ăn quả cho hiệu quả kinh tế cao như: chanh leo tím và bơ ghép 600 triệu đồng/ha; xoài ghép 500 triệu đồng/ha; nhãn ghép 360 triệu đồng/ha; Na Hoàng 1 tỷ đồng/ha.
 
Trong 9 tháng đầu năm 2019, giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu của Sơn La đạt 100,4 triệu USD, tăng 11,4%. Thị trường xuất khẩu ngày được mở rộng như: Trung Quốc, Campuchia, Anh, Mỹ, Australia, Hàn Quốc, Nhật Bản…
 
Tại Hòa Bình, đến tháng 5/2019, diện tích cây ăn quả có múi đạt 10.200ha, trong đó có 5.311ha cam, quýt, 4.443ha bưởi, 426ha chanh; năng suất bình quân đạt 239 tạ/ha, sản lượng hơn 123.700 tấn, gấp 3 lần so với năm 2015.
 
 Nhiều địa phương ở Cao Phong, Tân Lạc có diện tích vườn tạp được cải tạo  trồng cây ăn quả như cam, quýt, bưởi, chanh, nhãn, thu nhập bình quân 400 - 600 triệu đồng/ha/ vụ.
 
Xúc tiến tiêu thụ sản phẩm - tầm nhìn xa
 
Có thể nói, việc các địa phương có chính sách, cách làm bài bản cho ra những sản phẩm nông sản chất lượng là chưa đủ. Để xây dựng thương hiệu, được khách hàng biết đến, tiêu thụ tốt, nâng cao giá trị không thể không làm công tác xúc tiến tiêu thụ, quảng bá, giới thiệu sản phẩm.
 
Phó giám đốc Sở Công Thương tỉnh Sơn La Lê Quang Trung cho biết, để xúc tiến thương mại nông sản đạt kết quả tốt, trước hết, ngành nông nghiệp phải có sản phẩm đủ tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng cung ứng ra thị trường. Hiểu rõ được điều đó, Sơn La tập trung sản xuất các sản phẩm nông sản bảo đảm tiêu chuẩn an toàn, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.
 
Cùng với đó là xây dựng hồ sơ sản phẩm như: xuất xứ, chỉ dẫn địa lý, tem truy xuất nguồn gốc, GAP, nhãn mác, nhãn hiệu sản phẩm nông sản, tạo niềm tin đối với khách hàng. Tỉnh chỉ đạo ngành nông nghiệp xây dựng các bản tin, clip, hình ảnh về tiêu chuẩn, chất lượng nông sản an toàn, giới thiệu quy trình sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm nông sản. Trong tiêu thụ nông sản, xuất khẩu là khâu đột phá nhưng cũng cần cân đối cung cầu, phù hợp điều kiện và năng lực sản xuất, kinh doanh của người dân và thương nhân trong tỉnh.
 
Đối với cơ quan chức năng, cần thực hiện tốt từ khâu chỉ đạo đến sản xuất thực tiễn. Một điều quan trọng là cơ quan quản lý nhà nước phải nắm thông tin về nhu cầu người tiêu dùng, đánh giá, phân tích thị trường tiêu thụ, xuất khẩu. Qua đó, định hướng sản xuất, tạo mọi điều kiện cho nông dân sản xuất ra sản phẩm đủ số lượng, bảo đảm tiêu chuẩn; tiêu thụ được sản phẩm, lựa chọn nơi, thời gian, quy mô, hình thức xúc tiến thương mại cho từng loại sản phẩm cho phù hợp - tiết kiệm, nhưng hiệu quả cao.
 
Phát biểu tại Diễn đàn kinh tế sản xuất, tiêu thụ vải thiều và quảng bá các sản phẩm văn hóa, du lịch, nông sản năm 2019, ông Dương Văn Thái, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang, cho biết, phát huy kinh nghiệm của những năm trước, Bắc Giang đã chủ động công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ vải thiều. Tỉnh đã ban hành kế hoạch xúc tiến tiêu thụ vải thiều, phân công nhiệm vụ cụ thể để các ngành, các địa phương làm căn cứ, chủ động thực hiện từ khâu sản xuất, xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ.
 
Xác định được khách hàng và thị trường tiêu thụ chính của nông sản, UBND tỉnh Bắc Giang đã phối hợp với chính quyền thị xã Bằng Tường tổ chức Hội nghị xúc tiến tiêu thụ đối với quả vải thiều tại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Đây là có hội để quảng bá, giới thiệu các mặt hàng nông, sản phẩm văn hóa du lịch của mình.
 
Ông Đào Văn Hồ, Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và PTNT), cho biết, các tuần lễ, hội chợ là cơ hội tốt để giới thiệu tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Qua đó, góp phần phát triển sản xuất gắn với chế biến, bảo quản, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông nghiêp, nâng cao giá trị sản phẩm.
 
Để tháo gỡ khó khăn trong khâu kết nối tiêu thụ nông sản, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, theo ông Tạ Văn Tường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội, các tỉnh, thành phố cần quy hoạch vùng sản xuất tập trung hàng hóa quy mô lớn; xây dựng thương hiệu sản phẩm để truy xuất nguồn gốc khi mặt hàng trưng bày tại hội chợ hoặc trung tâm thương mại. Các địa phương khi tham dự những hội chợ, triển lãm cần lựa chọn loại hình hội chợ, lựa chọn doanh nghiệp có mặt hàng phù hợp, đặc trưng vùng miền.
 
Có thể nói, công tác quảng bá, xúc tiến tiêu thụ sản phẩm mà các địa phương đang triển khai thời gian qua là khâu rất quan trọng, góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, xây dựng thương hiệu, từ đó nâng cao giá trị sản phẩm, cần được nhân rộng.
 
Theo: kinhtenongthon.vn
 

QUẢNG NINH: CHUYỆN BUỒN Ở NHỮNG XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Sinh năm 1989 nhưng Tằng Thị Sinh (th&ocirc;n Khe O, x&atilde; Lục Hồn, huyện B&igrave;nh Li&ecirc;u, Quảng Ninh) đ&atilde; c&oacute; đến 8 đứa con. Việc sinh đẻ v&ocirc; tội vạ l&agrave; một trong nhiều l&yacute; do khiến c&aacute;c hộ d&acirc;n ở bản đặc biệt kh&oacute; khăn n&agrave;y bao năm nay vẫn kh&ocirc;ng tho&aacute;t được cảnh đ&oacute;i, ngh&egrave;o.</div> <div> &nbsp;</div>
Sinh năm 1989 nhưng Tằng Thị Sinh (thôn Khe O, xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu, Quảng Ninh) đã có đến 8 đứa con. Việc sinh đẻ vô tội vạ là một trong nhiều lý do khiến các hộ dân ở bản đặc biệt khó khăn này bao năm nay vẫn không thoát được cảnh đói, nghèo.
Nỗi buồn Khe O
 
Đồng bào dân tộc Dao ở huyện Bình Liêu sinh sống chủ yếu ở các bản vùng cao, vùng sâu, vùng xa, cuộc sống của bà con chủ yếu là tự cung tự cấp. Với quan niệm, học không giúp cho “cái bụng no được” nên trước đây, người Dao ít được đi học, việc tiếp cận các kiến thức khoa học càng khó khăn hơn. Nếu gia đình có người ốm thì thay vì đưa người ốm đi viện điều trị, các hộ gia đình người Dao sẽ để ở nhà, nhờ thầy mo đến cúng. Trẻ em sinh ra không được chăm sóc và không được đến trường học chữ.
 
Các hủ tục lạc hậu như kết hôn cận huyết, tảo hôn, ép gả cưới… thường xuyên xảy ra. Đặc biệt là tình trạng uống rượu triền miên trong đồng bào Dao dẫn đến sức khỏe suy yếu, không có sức lao động.
Điển hình là thôn Khe O có 36 hộ dân với 217 nhân khẩu, trong đó có đến 23 hộ nghèo, 7 hộ cận nghèo.
 
Anh Choỏng Quay Sinh – Bí thư, Trưởng thôn Khe O cho biết, nguyên nhân của việc đói nghèo là do người dân quen trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của nhà nước, không cho con cái học hành đến nơi đến chốn. Ốm đau bệnh tật không đưa đi chữa trị mà chỉ mời thầy mo đến cúng, nhà có bao nhiêu lợn, gà đều thịt hết, do đó, cuộc sống của người dân đã nghèo lại càng nghèo thêm.
 
Trong căn nhà đất lụp xụp của chị Tằng Thị Sinh (người phụ nữ vừa tròn 30 tuổi nhưng đã có tới 8 đứa con) không có bóng người lớn, chỉ có lũ trẻ nheo nhóc đùa nghịch, hoặc đang mò nồi cháo ngô đặt trên chiếc bàn gỗ cũ kỹ. Anh Choỏng Quay Sinh cho biết, bố mẹ của những đứa trẻ đi rừng mót lâm sản phụ, tuy là hộ nghèo nhưng từ chục năm nay, vợ chồng Tằng Thị Sinh năm nào cũng đẻ 1 đứa, đến nay đã có 8 đứa con. Đứa bé nhất mới được 7 tháng tuổi nhưng đã phải ở nhà với các anh chị để bố mẹ đi rừng kiếm miếng ăn.
 
“Huyện cũng đã nhiều lần tổ chức xuống tận nhà tuyên truyền sinh đẻ kế hoạch, nhưng vợ chồng Sinh như là không để ý đến. Nên mỗi năm cứ đẻ thêm một đứa lại thấy nghèo hơn”, Trưởng thôn than thở.
 
Ngoài việc sinh đẻ không có kế hoạch, một nguyên nhân nữa khiến người dân thôn Khe O bao năm nay không thoát được cảnh đói nghèo, đó là thiếu đất sản xuất. Theo anh Choỏng Quay Sinh, trong số 36 hộ thì chỉ có 20 hộ được giao đất rừng, mỗi hộ chỉ được 1 đến 1,5ha, còn lại các hộ khác không có đất sản xuất hầu hết đều rơi vào cảnh nghèo, đói.
 
Anh Phùn Mằn Quay, một hộ nghèo tại thôn Khe O, cho biết: “Gia đình chỉ mong ước có khoảnh rừng để trồng quế mà bao năm nay không được. Quế năm nay được giá, thấy người ta thu hoạch mang bán tới tấp, mình thì ngồi chơi cũng thấy buồn”.
 
Choỏng Quay Si, một hộ nghèo khác trong thôn, thì than vãn: “Mấy năm trước nghe huyện vận động trồng cây dong riềng làm nguyên liệu bán cho nhà máy sản xuất miến, nhiều hộ dân thôn Khe O bỏ cả lúa để trồng dong riềng. Nhưng 2 năm nay củ dong trồng mang đến tận nơi cũng không ai mua, tiền bán dong của mấy vụ trước vẫn bị nợ. Mấy ruộng dong riềng trồng từ năm ngoái nhà tôi vẫn để đấy, củ già lắm rồi mà chán có thu hoạch đâu”.
 
Về đích sớm chương trình 135: Không dễ
 
Ngoài Khe O, nhiều thôn, bản khác thuộc huyện Bình Liêu cái nghèo còn đeo bám dai dẳng. Nhiều thanh niên đang độ tuổi lao động thay vì lên rừng, lên nương canh tác thì lại ngồi uống rượu, trò chuyện là hình ảnh quen thuộc ở đây. Đáng nói hơn, hầu hết gia đình những thanh niên này đều thuộc diện hộ nghèo lâu năm.
Khi được hỏi tại sao không lao động để thoát nghèo, anh Tằng Vĩnh Phúc (40 tuổi, dân tộc Dao, ở thôn Mạ Chạt, xã Vô Ngại), chia sẻ: "Trước đây, gia đình tôi cũng đã đầu tư chăn nuôi gà, lợn, với mong muốn tạo nguồn thu nhập, trang trải cuộc sống bớt vất vả. Tuy nhiên, các mô hình này đều không phát huy hiệu quả kinh tế vì lý do tiêu thụ không ổn định, con giống thường bị dịch ốm, chết. Nhà có 6 miệng ăn (4 đứa con đang tuổi ăn học), trong khi nguồn thu nhập chính của gia đình chỉ trông chờ vào 2 sào ruộng và 2ha rừng, nhưng trồng keo phải mất 4-5 năm mới cho thu hoạch, thời gian rỗi cũng chẳng có gì để làm nên chỉ biết gọi mấy anh em trong thôn tới uống rượu".
Đối với một số dự án phát triển sản xuất như: Mô hình trồng ba kích tại Đồng Sơn (Hoành Bồ), Thanh Lâm (Ba Chẽ); trồng dong riềng (Bình Liêu); hỗ trợ chăn nuôi lợn, gà, trâu (Hoành Bồ, Ba Chẽ, Bình Liêu), không tái đàn mở rộng sản xuất được; cung vượt cầu, không tiêu thụ được, dẫn tới hiệu quả kinh tế thấp, việc thu hút cộng đồng, người dân tham gia vào các dự án tiếp theo bị hạn chế.
 
Theo thống kê của Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2017-2018, tỉnh mới hỗ trợ 6.486/15.152 lượt hộ nghèo, cận nghèo (bằng 42,8% so với đề án phê duyệt) tham gia dự án trồng cây nông, lâm nghiệp, chăn nuôi giống gia súc, gia cầm.
 
Ngoài ra, việc triển khai Chương trình 135 hiện khối lượng công việc dưới xã rất lớn, tuy nhiên, do năng lực cán bộ xã, thôn, bản bị hạn chế, chưa đủ năng lực quản lý đầu tư một công trình xây dựng cơ bản; công tác thanh quyết toán hay lựa chọn các mô hình sản xuất chưa sát thực tế, làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng triển khai các dự án.
 
Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Vũ Kiên Cường đánh giá, cái khó nhất, ảnh hưởng đến tiến độ đưa 12 xã cuối cùng của tỉnh ra khỏi diện đặc biệt khó khăn vẫn là tư duy và nhận thức của bà con. Nếu như cơ sở hạ tầng yếu kém tỉnh có thể bố trí ngân sách hỗ trợ đầu tư ngay thì tư duy và nhận thức của người dân không ai có thể làm thay được. Một khi tư tưởng người dân chưa thông, tính chủ động trong thoát nghèo vẫn ỷ lại, thì dù nhà nước có hỗ trợ nhiều vốn đến mấy cũng khó có thể triển khai thành công.
 
Theo: danviet.vn

PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRUNG TÂM CUNG ỨNG NÔNG SẢN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> S&aacute;ng 18-11, tại TP Hồ Ch&iacute; Minh, Bộ N&ocirc;ng nghiệp v&agrave; Ph&aacute;t triển n&ocirc;ng th&ocirc;n (NN-PTNT) tổ chức Hội thảo b&aacute;o c&aacute;o cuối kỳ Dự &aacute;n &ldquo;Nghi&ecirc;n cứu x&acirc;y dựng định hướng, cơ chế, ch&iacute;nh s&aacute;ch ph&aacute;t triển hệ thống trung t&acirc;m cung ứng n&ocirc;ng sản (CƯNS) Việt Nam hiện đại giai đoạn 2018-2020 v&agrave; định hướng đến năm 2030&rdquo;. Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam chủ tr&igrave; hội thảo.</div> <div> &nbsp;</div>
Sáng 18-11, tại TP Hồ Chí Minh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) tổ chức Hội thảo báo cáo cuối kỳ Dự án “Nghiên cứu xây dựng định hướng, cơ chế, chính sách phát triển hệ thống trung tâm cung ứng nông sản (CƯNS) Việt Nam hiện đại giai đoạn 2018-2020 và định hướng đến năm 2030”. Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam chủ trì hội thảo.
Theo dự thảo Đề án Phát triển hệ thống trung tâm CƯNS hiện đại của Việt Nam giai đoạn 2020-2030 và định hướng đến năm 2045”, cả nước sẽ hình thành các trung tâm CƯNS hiện đại tại các tỉnh và thành phố lớn, trung tâm thu gom nông sản và thủy sản tại vùng sản xuất trọng điểm, trung tâm CƯNS đường biên tại tỉnh có cửa khẩu quan trọng, chợ vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) cấp xã… Giải pháp chính thực hiện đề án là phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng và logistic, tăng cường ứng dụng công nghệ 4.0 trong xây dựng mạng CƯNS kỹ thuật số, phát triển nguồn nhân lực, triển khai hiệu quả các giải pháp huy động mọi nguồn vốn…
 
Trong giai đoạn thí điểm 2020-2015, dự thảo đề án xác định xây dựng 2-3 trung tâm CƯNS hiện đại (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ); 2 trung tâm thu gom nông sản (Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu); 1-2 trung tâm CƯNS  đường biên (Quảng Ninh, Lào Cai, Lạng Sơn); 10-20 chợ VSATTP (gắn với địa phương phát triển trung tâm CƯNS  hiện đại)… Doanh nghiệp sẽ đầu tư xây dựng theo hình thức hợp tác công tư (PPP).
Đến nay, kết quả Dự án “Nghiên cứu xây dựng định hướng, cơ chế, chính sách phát triển hệ thống trung tâm CƯNS Việt Nam hiện đại giai đoạn 2018-2020 và định hướng đến năm 2030” đã góp phần quan trọng hoàn thành dự thảo đề án. Trong đó, đánh giá thực trạng hoạt động và triển vọng cải thiện hệ thống trung tâm CƯNS gắn với các vùng sản xuất chính tại Việt Nam, nêu bật được kinh nghiệm quốc tế (Pháp) và những bài học có thể áp dụng vào Việt Nam, xây dựng bộ bản đồ hiện trạng hệ thống chợ đầu mối nông sản gắn với các vùng nguyên liệu chính trên cả nước, xây dựng các tiêu chí hệ thống CƯNS hiện đại, đề xuất giải pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống CƯNS hiện đại… Dự kiến, đầu tháng 12-2019, các đơn vị sẽ hoàn thành thủ tục báo cáo Bộ NN-PTNT xem xét trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án.
 
 
Phát biểu tại hội thảo, ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT cho biết: “Phát triển hệ thống trung tâm CƯNS Việt Nam hiện đại là vấn đề quan trọng, nhằm kết nối tốt hơn sản xuất với phân phối và tiêu dùng nông sản tại thị trường nội địa và phục vụ xuất khẩu. Đồng thời, bảo đảm chất lượng và VSATTP, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, thương mại và dịch vụ phát triển”.
 
Theo: mard.gov.vn

VĨNH LONG: NHÂN RỘNG NHỮNG CÁNH ĐỒNG LỚN THÂM CANH, ÁP DỤNG CƠ GIỚI HÓA ĐỒNG BỘ TRONG SẢN XUẤT LÚA

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Ph&aacute;t huy th&agrave;nh c&ocirc;ng của dự &aacute;n &ldquo;X&acirc;y dựng m&ocirc; hình cánh đ&ocirc;̀ng lớn th&acirc;m canh và áp dụng cơ giới hóa đ&ocirc;̀ng b&ocirc;̣ trong sản xu&acirc;́t lúa ở phía Nam&rdquo; trong năm 2018, vụ Thu Đ&ocirc;ng 2019, Trung t&acirc;m Khuyến n&ocirc;ng (TTKN) Vĩnh Long tiếp tục thực hiện dự &aacute;n n&agrave;y với diện t&iacute;ch sản xuất l&uacute;a 72 ha.</div> <div> &nbsp;</div>
Phát huy thành công của dự án “Xây dựng mô hình cánh đồng lớn thâm canh và áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa ở phía Nam” trong năm 2018, vụ Thu Đông 2019, Trung tâm Khuyến nông (TTKN) Vĩnh Long tiếp tục thực hiện dự án này với diện tích sản xuất lúa 72 ha.
TTKN Vĩnh Long đã phối hợp cùng Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Vũng Liêm, cùng chính quyền địa phương chọn được 105 hộ nông dân đủ điều kiện tham gia mô hình tại 02 xã Trung An và Hiếu Thuận, huyện Vũng Liêm (Trung An 16,5ha, Hiếu Thuận 55,5ha). Bên cạnh hỗ trợ về diện tích sản xuất, dự án còn hỗ trợ cho nông dân 01 máy cấy lúa loại DUO 60 (xuất xứ Hàn Quốc, giá 160 triệu đồng/máy, mức hỗ trợ 60 triệu đồng/máy) và 10 bình phun động cơ loại bình phun 3 trong 1 hiệu Typhoon (xuất xứ Thái Lan, giá mỗi bình 3.500.000 đồng, mức hỗ trợ 1.500.000 đồng/bình).
 
Nông dân tham gia mô hình được tập huấn áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lúa trước khi xuống giống, sản xuất lúa theo SRI,... Mô hình thực hiện bằng phương pháp cấy áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất và thực hiện trên nền cơ sở của biện pháp 3 giảm 3 tăng/SRI. Vì vậy, nông dân cần tuân thủ ở tất cả các khâu như: làm đất, vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, cày phơi ải, trục bừa đất bằng phẳng.
 
Giống lúa được chọn sử dụng trong mô hình là giống OM 5451, là giống có ưu thế sản xuất trong vùng, đạt tiêu chuẩn cấp giống xác nhận 1, có chất lượng gạo phù hợp với thị trường tiêu thụ. Số lượng giống 50kg/ha làm mạ trong khay, thời gian của mạ từ 11-12 ngày tuổi đem ra cấy; Mật độ cấy 30 x 16 (cm): 3-5 tép/bụi; Số khóm (bụi) cấy/m2 là 21 khóm/m2.
 
Mô hình sử dụng loại  phân đơn (hàm lượng nguyên chất NPK) như Ure 46% N, Lân super 18% P2O5, Kali clorua 60% K2O chia ra 4 lần bón (01 lần bón lót và 03 lần bón thúc). Quản lý nước theo từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Sử dụng thuốc BVTV một cách hợp lý, hiệu quả và an toàn: Quản lý dịch hại bằng biện pháp canh tác là chính, chỉ sử dụng thuốc hoá học khi thật cần thiết. Bên cạnh đó, việc thu hoạch lúa đúng độ chín cũng là yếu tố quan trọng. Ngoài ra, dự án cũng đã tập huấn cho nông dân trong mô hình về cách quản lý, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa máy cấy và bình phun động cơ, giúp cho họ hiểu được lợi ích của việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa để trong quá trình sử dụng đạt được hiệu quả cao nhất.
 
Sau thời gian triển khai thực hiện, dự án đã đạt được những kết quả khả quan.
 
Về mô hình sản xuất lúa, năng suất lúa trong mô hình đạt bình quân 5,8 tấn/ha, (cao hơn kết quả thực hiện năm 2018 1,04 tấn/ha), cao hơn so với ruộng sản xuất ngoài mô hình 400 kg/ha. Ngoài ra việc thực hiện gieo sạ giảm giống theo mô hình đã giúp người dân giảm được 130 kg giống/ha, giảm lượng phân bón 44 kg urê/ha, sâu bệnh giảm, do đó giảm 02 lần phun thuốc thuốc bảo vệ thực vật/ha.
 
Theo báo cáo, tổng chi phí cho 01 ha sản xuất lúa trong mô hình là 19.603.000 đồng, ruộng ngoài mô hình chi 20.447.000 đồng/ha. Lợi nhuận trong mô hình 7.277.000 đồng/ha, ngoài mô hình 4.932.000 đồng/ha, vì thế lợi nhuận thu được từ ruộng sản xuất theo mô hình cao hơn ngoài mô hình 2.345.000 đồng/ha.
 
Về dịch vụ cấy, năng suất máy cấy 03 ha/ngày trong trường hợp lượng mạ đáp ứng đầy đủ theo tiến độ, giá dịch vụ cấy (tổng thu) 4.500.000 đồng/ha, chi phí 3.285.000 đồng/ha, lợi nhuận 1.215.000 đồng/ha. Như vậy máy làm việc trong khoảng 189 ha thì sẽ hoàn vốn.
 
Về bình phun động cơ, năng suất làm việc 01 bình phun 05 ha/ngày, giá dịch vụ (tổng thu) 1.000.000 đồng/ha, chi phí 570.000 đồng/ha, lợi nhuận 430.000 đồng/ha; như vậy 01 bình phun làm việc trong khoảng 8 ha sẽ thu lại vốn đầu tư ban đầu.
 
Bên cạnh đó, dự án xây dựng được thêm  02 nhóm hộ nông dân cùng tham gia trong mô hình liên kết tại ấp Ngãi Thạnh, xã Hiếu Thuận và ấp An Hậu xã Trung An. Các nhóm được thành lập theo quyết định của UBND xã, có Ban chủ nhiệm điều hành hoạt động nhóm và có quy chế hoạt động cụ thể. Các thành viên trong mô hình liên kết lại với nhau tạo thành Nhóm nên việc canh tác lúa bước đầu có tổ chức và mang tính tập thể, trong đó, các thành viên cùng tuân thủ các quy định chung trong thực hiện các khâu sản xuất lúa như: xuống giống đồng loạt, sử dụng giống cấp xác nhận trở lên, đúng lịch thời vụ, gieo cấy cùng 01 giống lúa, bón phân cân đối và cùng các loại phân, thực hiện bón lót đầu vụ, quản lý dịch hại theo IPM, quản lý nước ngập-khô xen kẻ theo giai đoạn sinh trưởng và phát triển của lúa. Đặc biệt, việc thành lập Nhóm liên kết đã tạo cơ hội thuận lợi cho nông dân trong Nhóm ký kết được Hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm lúa hàng hóa với HTX với giá bán cao hơn ngoài thị trường cùng thời điểm từ 100-200 đồng/kg so với sản xuất đại trà. Mặt khác, thông qua nhóm liên kết, các hộ nông dân có điều kiện trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, giúp nhau giải quyết được nhiều vấn đề khó khăn gặp phải trong sản xuất.
 
Theo: mard.gov.vn

NGHỆ AN: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 4.0 TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> Trước cuộc c&aacute;ch mạng c&ocirc;ng nghiệp 4.0, ng&agrave;nh N&ocirc;ng nghiệp Nghệ An đứng trước y&ecirc;u cầu đổi mới phương thức sản xuất, ứng dụng kịp thời c&aacute;c kỹ thuật ti&ecirc;n tiến trong sản xuất n&ocirc;ng nghiệp.</div> <div> &nbsp;</div>
Trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, ngành Nông nghiệp Nghệ An đứng trước yêu cầu đổi mới phương thức sản xuất, ứng dụng kịp thời các kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp.
Sáng 9/11, Sở khoa học và công nghệ Nghệ An phối hợp với Công ty cổ phần tập đoàn Mỹ Lan (tỉnh Trà Vinh) tổ chức Hội thảo ứng dụng công nghệ 4.0 trong sản xuất nông nghiệp thông minh. Dự hội thảo có ông Trần Quốc Thành, Giám đốc Sở khoa học và công nghệ Nghệ An cùng đại diện lãnh đạo các sở, ngành cấp tỉnh…
 
Nghệ An là tỉnh có tiềm năng phát triển nông nghiệp, tuy nhiên để phát triển bền vững, Nghệ An cần ứng dụng công nghệ 4.0 trong đổi mới kỹ thuật nông nghiệp, trong phương thức tổ chức sản xuất mới.
 
Hiện tại Nghệ An mớichỉ ứng dụng một số mô hình áp dụng giải pháp và thiết bị thông minh. Một số mô hình còn đơn độc, chưa kết nối xuyên suốt chuỗi giá trị nông sản.
 
Tại hội thảo, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Mỹ - Chủ tịch tập đoàn Mỹ Lan chia sẻ: Nghệ An có nhiều mặt hàng nông sản cam, dứa, chanh leo, lạc, lúa, ngô…Trong nông nghiệp sẽ có các thách thức, biến đổi khí hậu, sâu bệnh, thiếu lao động, biến động giá cả… Vì vậy ứng dụng công nghệ 4.0 có vai trò rất quan trọng, cần phải thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu để canh tác phù hợp.
 
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Mỹ giới thiệu các giải pháp ứng dụng công nghệ 4.0 trong sản xuất nông nghiệp thông minh như: Ứng dụng nông nghiệp 4.0 trong trồng trọt; ứng dụng di động mạng lưới giám sát sâu rầy, quan sát xâm nhập mặn với công nghệ 4.0, canh tác lúa ứng dụng công nghệ 4.0. Triển vọng của mô hình chăn nuôi 4.0 và công nghệ tiên tiến phục vụ nuôi trồng thủy sản bền vững. Ứng dụng Internet trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản; công nghệ cải thiện môi trường nước nuôi trồng thủy sản…
 
Đồng thời, tiến sĩ Nguyễn Thanh Mỹ cũng giới thiệu một số thiết bị công nghệ ứng dụng 4.0 thôngminh trong sản xuất nông nghiệp để nông dân có thể ứng dụng.
 
Phát biểu tại hộithảo, ông Trần Quốc Thành, Giám đốc Sở khoa học và công nghệ Nghệ An mong muốn sẽ được hợp tác với tiến sĩ Nguyễn Thanh Mỹ để được cung cấp những thông tin bổ ích phục vụ cho ngành nông nghiệp, góp phần thay đổi tư duy, tập quán canh tác truyền thống; Đưa công nghệ cao ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp để phát triển kinh tế hiệu quả, bền vững.
 
Theo: mard.gov.vn