Tin tức, sự kiện

Kiểm tra vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<h1 style="font-variant-numeric: normal; font-variant-east-asian: normal; margin: 10px 0px; font-stretch: normal; font-size: 18px; line-height: 18px; font-family: Arial, Helvetica, sans-serif; color: rgb(1, 121, 233); text-rendering: optimizelegibility; padding-left: 4px;"> <span style="font-size: 12px;">Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), Bộ N&ocirc;ng nghiệp v&agrave; PTNT mới c&oacute; văn bản gửi Sở N&ocirc;ng nghiệp v&agrave; PTNT c&aacute;c tỉnh, th&agrave;nh phố về việc kiểm tra v&ugrave;ng trồng v&agrave; cơ sở đ&oacute;ng g&oacute;i xuất khẩu sang Trung Quốc.</span></h1>

Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), Bộ Nông nghiệp và PTNT mới có văn bản gửi Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, thành phố về việc kiểm tra vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc.

Theo đó, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) sẽ thực hiện kiểm tra trực tuyến vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc; thời gian kiểm tra hàng tuần, kể từ ngày 27/5/2022, dự kiến việc kiểm tra sẽ kéo dài 3 tháng. Đối tượng kiểm tra là các vùng trồng, cơ sở đóng gói trái cây đã được cấp mã số xuất khẩu sang Trung Quốc. Kiểm tra về tình trạng tuân thủ các quy định của Trung Quốc về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và phòng chống Covid-19 theo hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới (WHO).

Để chuẩn bị tốt cho việc kiểm tra theo yêu cầu của GACC và không làm ảnh hưởng đến thương mại nông sản đặc biệt tránh để mất thị trường, Cục BVTV đề nghị Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, thành phố chỉ đạo Chi cục Trồng trọt và BVTV chủ động thông báo, rà soát các mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số xuất khẩu sang Trung Quốc đảm bảo duy trì đúng điều kiện về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và phòng chống Covid theo quy định. Hướng dẫn các vùng trồng và cơ sở đóng gói chuẩn bị các tài liệu và điều kiện cần thiết để sẵn sàng phục vụ công tác kiểm tra.

Phối hợp với Sở Y tế hướng dẫn vùng trồng, cơ sở đóng gói thực hiện các biện pháp phòng chống Covid theo hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới (WHO). .

Tại tỉnh Bắc Giang, đối với thị trường Trung Quốc tỉnh duy trì 149 mã số vùng trồng diện tích 15.867 ha (huyện Lục Ngạn 36 mã, 11.423ha; Lục Nam (111 mã, 2.844ha; Tân Yên 01 mã, 600ha; Yên Thế 01 mã, 1.000ha) và 300 cơ sở đóng gói xuất khẩu vải thiều. Sở đã thành lập Tổ chỉ đạo phối hợp với các huyện tiến hành rà soát tất cả các mã số vùng trồng, cơ sở đóng đóng gói theo yêu cầu của Hải Quan Trung Quốc.

Hiện Chi cục Trồng trọt và BVTV đang phối hợp với các địa phương tổ chức Hội nghị hướng dẫn cho các chủ mã vùng trồng và cơ sở đóng gói để chuẩn bị tốt nhất về hồ sơ, tài liệu và các yêu cầu kỹ thuật đối với các mã vùng trồng vải và cơ sở đóng gói theo yêu cầu của GACC, xong trước ngày 27/5/2022. Về cơ bản đến nay tỉnh đã chủ động các điều kiện phục vụ xuất khẩu vải thiều sang Trung Quốc năm 2022./.

Theo https://snnptnt.bacgiang.gov.vn/

Khắc phục bệnh vàng lá do ngộ độc hữu cơ trong vụ lúa mùa

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(71, 71, 71); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Bệnh v&agrave;ng l&aacute; do ngộ độc hữu cơ (bệnh nghẹt rễ) thường g&acirc;y hại mạnh trong vụ chi&ecirc;m xu&acirc;n, song những năm gần đ&acirc;y bệnh lại c&oacute; xu hướng tăng mạnh v&agrave;o vụ m&ugrave;a. Để khắc phục bệnh v&agrave;ng l&aacute; l&uacute;a do ngộ độc hữu cơ trong vụ m&ugrave;a, người d&acirc;n cần nắm r&otilde; kiến thức v&agrave; thực hiện một số biện ph&aacute;p sau:</span></p>

Bệnh vàng lá do ngộ độc hữu cơ (bệnh nghẹt rễ) thường gây hại mạnh trong vụ chiêm xuân, song những năm gần đây bệnh lại có xu hướng tăng mạnh vào vụ mùa. Để khắc phục bệnh vàng lá lúa do ngộ độc hữu cơ trong vụ mùa, người dân cần nắm rõ kiến thức và thực hiện một số biện pháp sau:

1. Tác hại của bệnh

Cây lúa đẻ nhánh kém hoặc không đẻ nhánh.

Nếu bệnh gây hại trong thời gian dài mà không có biện pháp xử lý làm lụi toàn bộ diện tích lúa.

2. Nguyên nhân gây bệnh

Đây là bệnh sinh lý do bộ rễ thiếu oxy. Cây lúa có khả năng phục hồi tốt khi áp dụng đồng bộ các biện pháp phòng, trừ bệnh.

3. Các triệu chứng nhận biết bệnh

Triệu trứng ban đầu là ngọn lá lúa chuyển màu vàng đỏ, khô từ chóp lá lan dần xuống dưới. Nếu bệnh nặng nhiều lá phía trên bị vàng đỏ đến 1/3 lá.

Khi nhổ khóm lúa lên thấy bộ rễ thối đen, có mùi tanh hôi, rễ mới không phát sinh, cây lúa ngừng sinh trưởng hoặc đẻ nhánh ít. Hiện tượng này xảy ra chủ yếu ở giai đoạn sau cấy - đẻ nhánh rộ.

4. Điều kiện phát sinh, phát triển

Bệnh phát sinh gây hại trong cả vụ chiêm xuân và vụ mùa:

- Bệnh xuất hiện và gây hại trong vụ chiêm xuân chủ yếu trong điều kiện thời tiết lạnh; Cấy trên các chân ruộng trũng, cày bừa chưa kỹ; Cấy mạ già, cấy sâu tay.

- Bệnh xuất hiện và gây hại trong vụ mùa chủ yếu trong điều kiện chuyển vụ rất nhanh giữa vụ chiêm xuân và vụ mùa nên quá trình phân hủy gốc rạ sinh ra các axít hữu cơ và khí độc, gây tác động xấu đến sự hô hấp của bộ rễ.

5. Biện pháp phòng trừ

Biện pháp phòng:

Xử lý rơm rạ, sản phẩm phụ sau thu hoạch bằng các chế phẩm Trichodecma, CNXAT-YTB, Sumitri, Fito-Biomix RR,... Thời gian tiến hành trước khi cày ngả (đối với ruộng chủ động tưới tiêu) hoặc trước khi bừa giập (đối với ruộng ngập nước). Liều lượng sử dụng, cách sử dụng xem hướng dẫn trên bao bì sản phẩm hoặc hướng dẫn của cán bộ chuyên môn.

Biện pháp trừ:

Bước 1: Khi phát hiện lúa bị bệnh vàng lá cần ngừng ngay việc bón phân đạm, phân NPK hoặc các loại phân bón lá.

+ Bước 2: Rút nước ra khỏi ruộng để khô 2-3 ngày (nứt chân chim), sau đó đưa nước trở lại ruộng. Đối với những ruộng không rút được nước, tiến hành cào sục bùn.

+ Bước 3: Bón bổ sung phân lân Văn Điển (8-10 kg/360m2) hoặc phân chuồng hoai mục (20-30 kg/360m2). Có thể bón bổ sung thêm phân bón qua lá (ưu tiên các loại phân có hàm lượng các nguyên tố vi lượng cao như Atonik 1.8SL, Poly-feedHumicK-humateSong mã,, TS96, Seewead...)

+ Bước 4: Sau khi xử lý 7-10 ngày, nhổ khóm lúa lên thấy rễ trắng mới ra, tiến hành bón thúc và chăm sóc bình thường.

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Yên Dũng: Bảo đảm tiêu chí môi trường trong xây dựng huyện NTM

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> Trong qu&aacute; tr&igrave;nh x&acirc;y dựng n&ocirc;ng th&ocirc;n mới (NTM), m&ocirc;i trường l&agrave; một trong những ti&ecirc;u ch&iacute; được xem l&agrave; kh&oacute; thực hiện nhất v&igrave; kh&ocirc;ng chỉ li&ecirc;n quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh m&agrave; c&ograve;n c&oacute; những y&ecirc;u cầu cao hơn về xử l&yacute; chất thải rắn, nước thải v&agrave; x&acirc;y dựng cảnh quan m&ocirc;i trường xanh, sạch, đẹp. Nhận thức được tầm quan trọng đ&oacute;, huyện Y&ecirc;n Dũng lu&ocirc;n quan t&acirc;m đến nhiệm vụ ph&aacute;t triển kinh tế - x&atilde; hội gắn với bảo vệ, cải thiện m&ocirc;i trường; đẩy mạnh tuy&ecirc;n truyền nhằm thay đổi th&oacute;i quen, tập qu&aacute;n v&agrave; n&acirc;ng cao &yacute; thức, tr&aacute;ch nhiệm của người d&acirc;n trong bảo vệ m&ocirc;i trường.</p>
Xây dựng nông thôn mới, huyện Yên Dũng luôn chú trọng vấn đề bảo vệ môi trường
 
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới (NTM), môi trường là một trong những tiêu chí được xem là khó thực hiện nhất vì không chỉ liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh mà còn có những yêu cầu cao hơn về xử lý chất thải rắn, nước thải và xây dựng cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp. Nhận thức được tầm quan trọng đó, huyện Yên Dũng luôn quan tâm đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ, cải thiện môi trường; đẩy mạnh tuyên truyền nhằm thay đổi thói quen, tập quán và nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong bảo vệ môi trường.
 
Để thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới, những năm qua, huyện Yên Dũng luôn phối hợp với các đoàn thể triển khai các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Hàng năm UBND huyện, UBND các xã cùng các tổ chức đoàn thể duy trì thực hiện tốt các phong trào vệ sinh môi trường như “Ngày chủ nhật xanh”, “Ngày thứ 7 tình nguyện, “con đường phụ nữ tự quản”, , “con đường hội cựu chiến binh tự quản”, phòng trào “5 không 3 sạch”, “con đường hoa”… Kết quả, toàn huyện tổ chức thu gom rác trên 500 km hành lang giao thông; nạo vét kênh mương, khơi thông 100 km dòng chảy; có 95 km đường đã được trồng hoa, cây xanh thu hút hơn 10.000 lượt người tham gia. Ngoài ra, các xã, thị trấn cũng thường xuyên phát động nhân dân trên địa bàn tích cực tham gia chỉnh trang đường làng, ngõ xóm, xây dựng các công trình nước sạch, nhà vệ sinh đúng tiêu chuẩn. Qua thống kê, toàn huyện có 99,74% hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%, trong đó tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch toàn huyện đạt 72,8%.
 
Công tác quản lý và thu gom, xử lý chất thải rắn, rác thải có chuyển biến rõ rệt và đạt theo quy định. Trên địa bàn huyện hiện có 04 khu xử lý rác thải sinh hoạt tập trung được xử lý bằng phương pháp đốt kết hợp chế biến phân vi sinh và xử lý đốt hợp vệ sinh.
 
Trong chăn nuôi, UBND huyện chỉ đạo các đơn vị chức năng hướng dẫn các hộ gia đình thực hiện các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi bảo đảm vệ sinh môi trường. Nhờ đó 100% hộ gia đình và các chủ trang trại đã lắp đặt, xây dựng hầm biogas xử lý chất thải, góp phần giảm thiểu phần lớn chất thải, rác thải làm suy giảm môi trường.
 
Đối với sản xuất nông nghiệp, huyện bố trí lắp đặt 1.382 bể chứa bao bì thuốc bảo vệ thực vật có lắp trên các cánh đồng. Bên cạnh đó, UBND các xã đẩy mạnh tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành thu gom, xử lý phụ phẩm nông nghiệp theo quy định, đến nay không còn hiện tượng đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng hoặc vứt bừa bãi nơi công cộng.
 
Các cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực - thực phẩm) thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường. Toàn huyện có tổng số 3.289 cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, làng nghề, trong đó có 248 cơ sở sản xuất kinh doanh đã được cấp thủ tục môi trường và 3.041 hộ sản xuất, kinh doanh không thuộc đối tượng phải lập thủ tục về môi trường, trong quá trình hoạt động các cơ sở này đã ký cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường với UBND cấp xã, thực hiện thu gom, phân loại rác thải, xây dựng công trình thu gom, xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường. Hiện, Yên Dũng có 01 khu công nghiệp và 04 cụm công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn đều thực hiện thu gom, ký hợp đồng với đơn vị có chức năng xử lý chất thải nguy hại, chất thải công nghiệp theo quy định; đầu tư hệ thống xử lý nước thải, khí thải đảm bảo quy chuẩn hiện hành trước khi thải ra môi trường…
 
Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, với sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân đến nay huyện Yên Dũng đã đạt tiêu chí môi trường theo quy định. Nhờ cách làm phù hợp, hiệu quả, vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, từng thời điểm, đặc biệt là thực hiện tốt phong trào “Yên Dũng chung sức xây dựng nông thôn mới” đến nay, huyện đã hoàn thành 9/9 nhóm tiêu chí để đạt chuẩn huyện nông thôn mới gồm: Quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, y tế-văn hóa-giáo dục, sản xuất, môi trường, an ninh-trật tự và tiêu chí về chỉ đạo xây dựng nông thôn mới. Qua đó, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, kinh tế phát triển, hình thành các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ gắn với xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc chất lượng sản phẩm; kết cấu hạ tầng khang trang, nhất là hạ tầng giao thông, cơ sở vật chất văn hóa, cơ sở trường học từng bước đáp ứng yêu cầu, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.
 
Nhờ hoàn thành tiêu chí môi trường mà cảnh quan nông thôn, chất lượng môi trường ngày càng được đổi mới và nâng cao, đặc biệt là góp phần thực hiện mục tiêu đưa huyện Yên Dũng về đích NTM trong quí II năm nay.
Theokhuyennongbacgiang.com

Kiểm tra vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<h1 style="font-variant-numeric: normal; font-variant-east-asian: normal; margin: 10px 0px; font-stretch: normal; font-size: 18px; line-height: 18px; font-family: Arial, Helvetica, sans-serif; color: rgb(1, 121, 233); text-rendering: optimizelegibility; padding-left: 4px;"> <span style="font-size: 12px;">Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), Bộ N&ocirc;ng nghiệp v&agrave; PTNT mới c&oacute; văn bản gửi Sở N&ocirc;ng nghiệp v&agrave; PTNT c&aacute;c tỉnh, th&agrave;nh phố về việc kiểm tra v&ugrave;ng trồng v&agrave; cơ sở đ&oacute;ng g&oacute;i xuất khẩu sang Trung Quốc.</span></h1>

Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), Bộ Nông nghiệp và PTNT mới có văn bản gửi Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, thành phố về việc kiểm tra vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc.

Theo đó, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) sẽ thực hiện kiểm tra trực tuyến vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc; thời gian kiểm tra hàng tuần, kể từ ngày 27/5/2022, dự kiến việc kiểm tra sẽ kéo dài 3 tháng. Đối tượng kiểm tra là các vùng trồng, cơ sở đóng gói trái cây đã được cấp mã số xuất khẩu sang Trung Quốc. Kiểm tra về tình trạng tuân thủ các quy định của Trung Quốc về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và phòng chống Covid-19 theo hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới (WHO).

Để chuẩn bị tốt cho việc kiểm tra theo yêu cầu của GACC và không làm ảnh hưởng đến thương mại nông sản đặc biệt tránh để mất thị trường, Cục BVTV đề nghị Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, thành phố chỉ đạo Chi cục Trồng trọt và BVTV chủ động thông báo, rà soát các mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số xuất khẩu sang Trung Quốc đảm bảo duy trì đúng điều kiện về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và phòng chống Covid theo quy định. Hướng dẫn các vùng trồng và cơ sở đóng gói chuẩn bị các tài liệu và điều kiện cần thiết để sẵn sàng phục vụ công tác kiểm tra.

Phối hợp với Sở Y tế hướng dẫn vùng trồng, cơ sở đóng gói thực hiện các biện pháp phòng chống Covid theo hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới (WHO). .

Tại tỉnh Bắc Giang, đối với thị trường Trung Quốc tỉnh duy trì 149 mã số vùng trồng diện tích 15.867 ha (huyện Lục Ngạn 36 mã, 11.423ha; Lục Nam (111 mã, 2.844ha; Tân Yên 01 mã, 600ha; Yên Thế 01 mã, 1.000ha) và 300 cơ sở đóng gói xuất khẩu vải thiều. Sở đã thành lập Tổ chỉ đạo phối hợp với các huyện tiến hành rà soát tất cả các mã số vùng trồng, cơ sở đóng đóng gói theo yêu cầu của Hải Quan Trung Quốc.

Hiện Chi cục Trồng trọt và BVTV đang phối hợp với các địa phương tổ chức Hội nghị hướng dẫn cho các chủ mã vùng trồng và cơ sở đóng gói để chuẩn bị tốt nhất về hồ sơ, tài liệu và các yêu cầu kỹ thuật đối với các mã vùng trồng vải và cơ sở đóng gói theo yêu cầu của GACC, xong trước ngày 27/5/2022. Về cơ bản đến nay tỉnh đã chủ động các điều kiện phục vụ xuất khẩu vải thiều sang Trung Quốc năm 2022./.

Theo https://snnptnt.bacgiang.gov.vn/

Khắc phục bệnh vàng lá do ngộ độc hữu cơ trong vụ lúa mùa

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(71, 71, 71); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Bệnh v&agrave;ng l&aacute; do ngộ độc hữu cơ (bệnh nghẹt rễ) thường g&acirc;y hại mạnh trong vụ chi&ecirc;m xu&acirc;n, song những năm gần đ&acirc;y bệnh lại c&oacute; xu hướng tăng mạnh v&agrave;o vụ m&ugrave;a. Để khắc phục bệnh v&agrave;ng l&aacute; l&uacute;a do ngộ độc hữu cơ trong vụ m&ugrave;a, người d&acirc;n cần nắm r&otilde; kiến thức v&agrave; thực hiện một số biện ph&aacute;p sau:</span></p>

Bệnh vàng lá do ngộ độc hữu cơ (bệnh nghẹt rễ) thường gây hại mạnh trong vụ chiêm xuân, song những năm gần đây bệnh lại có xu hướng tăng mạnh vào vụ mùa. Để khắc phục bệnh vàng lá lúa do ngộ độc hữu cơ trong vụ mùa, người dân cần nắm rõ kiến thức và thực hiện một số biện pháp sau:

1. Tác hại của bệnh

Cây lúa đẻ nhánh kém hoặc không đẻ nhánh.

Nếu bệnh gây hại trong thời gian dài mà không có biện pháp xử lý làm lụi toàn bộ diện tích lúa.

2. Nguyên nhân gây bệnh

Đây là bệnh sinh lý do bộ rễ thiếu oxy. Cây lúa có khả năng phục hồi tốt khi áp dụng đồng bộ các biện pháp phòng, trừ bệnh.

3. Các triệu chứng nhận biết bệnh

Triệu trứng ban đầu là ngọn lá lúa chuyển màu vàng đỏ, khô từ chóp lá lan dần xuống dưới. Nếu bệnh nặng nhiều lá phía trên bị vàng đỏ đến 1/3 lá.

Khi nhổ khóm lúa lên thấy bộ rễ thối đen, có mùi tanh hôi, rễ mới không phát sinh, cây lúa ngừng sinh trưởng hoặc đẻ nhánh ít. Hiện tượng này xảy ra chủ yếu ở giai đoạn sau cấy - đẻ nhánh rộ.

4. Điều kiện phát sinh, phát triển

Bệnh phát sinh gây hại trong cả vụ chiêm xuân và vụ mùa:

- Bệnh xuất hiện và gây hại trong vụ chiêm xuân chủ yếu trong điều kiện thời tiết lạnh; Cấy trên các chân ruộng trũng, cày bừa chưa kỹ; Cấy mạ già, cấy sâu tay.

- Bệnh xuất hiện và gây hại trong vụ mùa chủ yếu trong điều kiện chuyển vụ rất nhanh giữa vụ chiêm xuân và vụ mùa nên quá trình phân hủy gốc rạ sinh ra các axít hữu cơ và khí độc, gây tác động xấu đến sự hô hấp của bộ rễ.

5. Biện pháp phòng trừ

Biện pháp phòng:

Xử lý rơm rạ, sản phẩm phụ sau thu hoạch bằng các chế phẩm Trichodecma, CNXAT-YTB, Sumitri, Fito-Biomix RR,... Thời gian tiến hành trước khi cày ngả (đối với ruộng chủ động tưới tiêu) hoặc trước khi bừa giập (đối với ruộng ngập nước). Liều lượng sử dụng, cách sử dụng xem hướng dẫn trên bao bì sản phẩm hoặc hướng dẫn của cán bộ chuyên môn.

Biện pháp trừ:

Bước 1: Khi phát hiện lúa bị bệnh vàng lá cần ngừng ngay việc bón phân đạm, phân NPK hoặc các loại phân bón lá.

+ Bước 2: Rút nước ra khỏi ruộng để khô 2-3 ngày (nứt chân chim), sau đó đưa nước trở lại ruộng. Đối với những ruộng không rút được nước, tiến hành cào sục bùn.

+ Bước 3: Bón bổ sung phân lân Văn Điển (8-10 kg/360m2) hoặc phân chuồng hoai mục (20-30 kg/360m2). Có thể bón bổ sung thêm phân bón qua lá (ưu tiên các loại phân có hàm lượng các nguyên tố vi lượng cao như Atonik 1.8SL, Poly-feedHumicK-humateSong mã,, TS96, Seewead...)

+ Bước 4: Sau khi xử lý 7-10 ngày, nhổ khóm lúa lên thấy rễ trắng mới ra, tiến hành bón thúc và chăm sóc bình thường.

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Yên Dũng: Bảo đảm tiêu chí môi trường trong xây dựng huyện NTM

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> Trong qu&aacute; tr&igrave;nh x&acirc;y dựng n&ocirc;ng th&ocirc;n mới (NTM), m&ocirc;i trường l&agrave; một trong những ti&ecirc;u ch&iacute; được xem l&agrave; kh&oacute; thực hiện nhất v&igrave; kh&ocirc;ng chỉ li&ecirc;n quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh m&agrave; c&ograve;n c&oacute; những y&ecirc;u cầu cao hơn về xử l&yacute; chất thải rắn, nước thải v&agrave; x&acirc;y dựng cảnh quan m&ocirc;i trường xanh, sạch, đẹp. Nhận thức được tầm quan trọng đ&oacute;, huyện Y&ecirc;n Dũng lu&ocirc;n quan t&acirc;m đến nhiệm vụ ph&aacute;t triển kinh tế - x&atilde; hội gắn với bảo vệ, cải thiện m&ocirc;i trường; đẩy mạnh tuy&ecirc;n truyền nhằm thay đổi th&oacute;i quen, tập qu&aacute;n v&agrave; n&acirc;ng cao &yacute; thức, tr&aacute;ch nhiệm của người d&acirc;n trong bảo vệ m&ocirc;i trường.</p>
Xây dựng nông thôn mới, huyện Yên Dũng luôn chú trọng vấn đề bảo vệ môi trường
 
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới (NTM), môi trường là một trong những tiêu chí được xem là khó thực hiện nhất vì không chỉ liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh mà còn có những yêu cầu cao hơn về xử lý chất thải rắn, nước thải và xây dựng cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp. Nhận thức được tầm quan trọng đó, huyện Yên Dũng luôn quan tâm đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ, cải thiện môi trường; đẩy mạnh tuyên truyền nhằm thay đổi thói quen, tập quán và nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong bảo vệ môi trường.
 
Để thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới, những năm qua, huyện Yên Dũng luôn phối hợp với các đoàn thể triển khai các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Hàng năm UBND huyện, UBND các xã cùng các tổ chức đoàn thể duy trì thực hiện tốt các phong trào vệ sinh môi trường như “Ngày chủ nhật xanh”, “Ngày thứ 7 tình nguyện, “con đường phụ nữ tự quản”, , “con đường hội cựu chiến binh tự quản”, phòng trào “5 không 3 sạch”, “con đường hoa”… Kết quả, toàn huyện tổ chức thu gom rác trên 500 km hành lang giao thông; nạo vét kênh mương, khơi thông 100 km dòng chảy; có 95 km đường đã được trồng hoa, cây xanh thu hút hơn 10.000 lượt người tham gia. Ngoài ra, các xã, thị trấn cũng thường xuyên phát động nhân dân trên địa bàn tích cực tham gia chỉnh trang đường làng, ngõ xóm, xây dựng các công trình nước sạch, nhà vệ sinh đúng tiêu chuẩn. Qua thống kê, toàn huyện có 99,74% hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%, trong đó tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch toàn huyện đạt 72,8%.
 
Công tác quản lý và thu gom, xử lý chất thải rắn, rác thải có chuyển biến rõ rệt và đạt theo quy định. Trên địa bàn huyện hiện có 04 khu xử lý rác thải sinh hoạt tập trung được xử lý bằng phương pháp đốt kết hợp chế biến phân vi sinh và xử lý đốt hợp vệ sinh.
 
Trong chăn nuôi, UBND huyện chỉ đạo các đơn vị chức năng hướng dẫn các hộ gia đình thực hiện các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi bảo đảm vệ sinh môi trường. Nhờ đó 100% hộ gia đình và các chủ trang trại đã lắp đặt, xây dựng hầm biogas xử lý chất thải, góp phần giảm thiểu phần lớn chất thải, rác thải làm suy giảm môi trường.
 
Đối với sản xuất nông nghiệp, huyện bố trí lắp đặt 1.382 bể chứa bao bì thuốc bảo vệ thực vật có lắp trên các cánh đồng. Bên cạnh đó, UBND các xã đẩy mạnh tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành thu gom, xử lý phụ phẩm nông nghiệp theo quy định, đến nay không còn hiện tượng đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng hoặc vứt bừa bãi nơi công cộng.
 
Các cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực - thực phẩm) thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường. Toàn huyện có tổng số 3.289 cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, làng nghề, trong đó có 248 cơ sở sản xuất kinh doanh đã được cấp thủ tục môi trường và 3.041 hộ sản xuất, kinh doanh không thuộc đối tượng phải lập thủ tục về môi trường, trong quá trình hoạt động các cơ sở này đã ký cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường với UBND cấp xã, thực hiện thu gom, phân loại rác thải, xây dựng công trình thu gom, xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường. Hiện, Yên Dũng có 01 khu công nghiệp và 04 cụm công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn đều thực hiện thu gom, ký hợp đồng với đơn vị có chức năng xử lý chất thải nguy hại, chất thải công nghiệp theo quy định; đầu tư hệ thống xử lý nước thải, khí thải đảm bảo quy chuẩn hiện hành trước khi thải ra môi trường…
 
Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, với sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân đến nay huyện Yên Dũng đã đạt tiêu chí môi trường theo quy định. Nhờ cách làm phù hợp, hiệu quả, vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, từng thời điểm, đặc biệt là thực hiện tốt phong trào “Yên Dũng chung sức xây dựng nông thôn mới” đến nay, huyện đã hoàn thành 9/9 nhóm tiêu chí để đạt chuẩn huyện nông thôn mới gồm: Quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, y tế-văn hóa-giáo dục, sản xuất, môi trường, an ninh-trật tự và tiêu chí về chỉ đạo xây dựng nông thôn mới. Qua đó, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, kinh tế phát triển, hình thành các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ gắn với xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc chất lượng sản phẩm; kết cấu hạ tầng khang trang, nhất là hạ tầng giao thông, cơ sở vật chất văn hóa, cơ sở trường học từng bước đáp ứng yêu cầu, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.
 
Nhờ hoàn thành tiêu chí môi trường mà cảnh quan nông thôn, chất lượng môi trường ngày càng được đổi mới và nâng cao, đặc biệt là góp phần thực hiện mục tiêu đưa huyện Yên Dũng về đích NTM trong quí II năm nay.
Theokhuyennongbacgiang.com

Cho phép sử dụng địa danh “Phúc Hoà” để đăng ký nhãn hiệu tập thể “Vải sớm Phúc Hoà”

Nhóm thông tin: 

Chủ tịch UBND tỉnh vừa ký quyết định cho phép sử dụng địa danh “Phúc Hoà” để đăng ký nhãn hiệu tập thể “Vải sớm Phúc Hoà” và xác nhận vào bản đồ khu vực địa lý tương ứng với nhãn hiệu tập thể “Vải sớm Phúc Hoà”.

Cụ thể, Hợp tác xã sản xuất - tiêu thụ Vải sớm Phúc Hoà, thôn Lân Thịnh, xã Phúc Hoà, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, được phép sử dụng địa danh “Phúc Hoà” trên nhãn hiệu tập thể “Vải sớm Phúc Hoà” và xác nhận vào bản đồ khu vực địa lý tương ứng với nhãn hiệu tập thể “Vải sớm Phúc Hoà”.


Được phép sử dụng địa danh “Phúc Hoà” trên nhãn hiệu tập thể “Vải sớm Phúc Hoà”

Hợp tác xã sản xuất - tiêu thụ Vải sớm Phúc Hoà có trách nhiệm xây dựng quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu tập thể theo quy định pháp luật; tổ chức quản lý việc sử dụng tên địa danh “Phúc Hoà” trên mẫu nhãn hiệu theo đúng quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và các quy định hiện hành.

Trong trường hợp tên địa danh trên bị sử dụng sai mục đích, không vì lợi ích chung của Hợp tác xã hoặc trong trường hợp văn bằng nhãn hiệu tập thể của Hợp tác xã sản xuất - tiêu thụ Vải sớm Phúc Hoà bị chấm dứt hiệu lực hay được chuyển đổi hình thức bảo hộ thành nhãn hiệu chứng nhận hoặc Chỉ dẫn địa lý thì UBND tỉnh có quyền thu hồi quyền sử dụng địa danh “Phúc Hoà” đã cho phép tại Quyết định này.

Được biết, năm 2012, huyện Tân Yên được Cục Sở hữu trí tuệ cấp nhãn hiệu tập thể cho vùng vải sớm Phúc Hòa. Để giữ vững và nâng tầm thương hiệu, nhiều năm qua, huyện Tân Yên luôn quan tâm hướng dẫn nông dân sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hướng tới mô hình sản xuất hữu cơ, tiếp tục ứng dụng khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm trong canh tác nhằm đem lại năng suất và chất lượng cao cho quả vải. Sản phẩm “vải sớm Phúc Hòa” đã trở thành sản phẩm nổi tiếng, có tiếng trong nhiều năm ở thị trường nhiều nước như Trung Quốc, Nhật, Úc, Hoa Kỳ.

Tin, ảnh: Trần Vĩnh
 

Nghiệm thu đề tài cấp tỉnh về nâng cao năng lực thực hành chăm sóc của đội ngũ điều dưỡng trong các cơ sở y tế công lập

Nhóm thông tin: 
Sáng ngày 16/7, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức họp hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Nghiên cứu nâng cao năng lực thực hành chăm sóc của đội ngũ điều dưỡng trong các cơ sở y tế công lập tỉnh Bắc Giang” do Sở Y tế Bắc Giang chủ trì.

Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hoàng Quỳnh, Chủ tịch hội đồng điều hành buổi họp

Đề tài thực hiện trong thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 6/2024 nhằm đánh giá thực trạng năng lực thực hành chăm sóc của đội ngũ điều dưỡng trong các cơ sở y tế công lập tỉnh Bắc Giang năm 2023 và một số yếu tố liên quan; xây dựng chương trình, triển khai đào tạo, đánh giá kết quả sau đào tạo; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao năng lực thực hành chăm sóc của đội ngũ điều dưỡng trong các cơ sở y tế công lập tỉnh Bắc Giang.

Triển khai đề tài, nhóm tác giả đã nghiên cứu xây dựng công cụ đánh giá năng lực thực hành chăm sóc điều dưỡng, hầu hết sử dụng phương pháp tự đánh giá của điều dưỡng và thang đo Likert 4 hoặc 5  xác định được các yếu tố liên quan đến năng lực thực hành, chăm sóc của điều dưỡng như: đơn vị làm việc; hài lòng chung với công việc; chế độ đãi ngộ, khen thưởng động viên; cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế; sự phối hợp đồng nghiệp trong chăm sóc người bệnh; nhận thức của điều dưỡng; cơ sở đào tạo ban đầu; công tác quản lý, sử dụng; công tác kiểm tra, giám sát… Đồng thời, nhóm xây dựng chương trình đào tạo, tài liệu, nội dung đào đảm bảo quy định về đào tạo liên tục; các khoá đào tạo với trên 80% học viên hài lòng và 80% điều dưỡng đạt thực hành theo đánh giá…

BSCKII. Nguyễn Văn Bình, Phó Giám đốc Sở Y tế, Chủ nhiệm đề tài phát biểu

Sau 18 tháng triển khai thực hiện, nhóm nghiên cứu đã đảm bảo hoàn thành đủ chủng loại, chất lượng sản phẩm so đặt hàng, cụ thể: hoàn thiện 07 quy trình (gồm: 01 quy trình điều tra, khảo sát tổng thể năng lực điều dưỡng; 03 quy trình đánh giá năng lực điều dưỡng trước đào tạo); 03 quy trình đánh giá năng lực điều dưỡng sau đào tạo. Đồng thời, hoàn thiện 03 chương trình đào tạo điều dưỡng cho các năng lực: (1) Xác định ưu tiên dựa trên nhu cầu chăm sóc của người bệnh, gia đình và cộng đồng; (2) Dùng thuốc đảm bảo an toàn hiệu quả; (3) Giao tiếp hiệu quả với người bệnh và gia đình người bệnh. Nhóm đã xây dựng 03 video về năng lực thực hành chăm sóc điều dưỡng; hoàn thiện 11 chuyên đề nghiên cứu khoa học; tổ chức 10 lớp đào tạo, tập huấn; 04 hội thảo khoa học, 01 hội nghị tập huấn điều tra viên và có bài báo đăng trên tạp chí khoa học trong nước và quốc tế; dự thảo 01 văn bản tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo nâng cao năng lực thực hành chăm sóc cho đội ngũ điều dưỡng trong các cơ sở y tế công lập tỉnh Bắc Giang. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu đã hoàn thiện 17 mẫu phiếu với tổng số 2.677 phiếu phát vấn, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm đầy đủ thông tin; 04 Báo cáo xử lý thông tin, số liệu điều tra.

So với yêu cầu đặt hàng của UBND tỉnh, đề tài đã có sản phẩm vượt so với yêu cầu, đó là có bài báo đăng tạp chí quốc tế, hỗ trợ đào tạo 1 nghiên cứu sinh và 1 cử nhân.

TS, BS. Nguyễn Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội, Ủy viên phản biện 1 góp ý

Tại hội đồng, các thành viên đánh giá đề tài “Nghiên cứu nâng cao năng lực thực hành chăm sóc của đội ngũ điều dưỡng trong các cơ sở y tế công lập tỉnh Bắc Giang” có tính cấp thiết và ứng dụng vào thực tiễn cao. Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài đã tổng quan tài liệu đáp ứng đầy đủ kiến thức liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu khoa học, tiên tiến, cách thức tiến hành nghiêm túc, khách quan; kết quả nghiên cứu đáng tin cậy, cơ bản đã trả lời đầy đủ 3 mục tiêu đề ra, phần thảo luận có dẫn chứng nhiều nghiên cứu trong cùng lĩnh vực về năng lực thực hành của điều dưỡng tại Việt Nam cũng như trên thế giới; chất lượng của các sản phẩm tốt, có thể áp dụng ngay vào thực tế tại các đơn vị y tế và đào tạo tại tỉnh Bắc Giang… Tuy nhiên, để báo cáo kết quả hoàn thiện hơn nữa, các thành viên hội đồng đề nghị nhóm tác giả nên giảm bớt các trích dẫn bộ công cụ đánh giá năng lực điều dưỡng trong các nghiên cứu nước ngoài, vì chưa thực sát với nội dung của đề tài, khiến báo cáo trở nên rườm rà, mất cân đối với sự thảo luận về nội dung chính trong nghiên cứu.

Qua đánh giá, bỏ phiếu chấm điểm tại hội đồng, 100% thành viên nhất trí đề tài đạt xuất sắc. Đồng thời, hội đồng đề nghị chủ nhiệm và các cộng sự tiếp thu các ý kiến góp ý, tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện báo cáo./.

HT

Kiểm tra vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<h1 style="font-variant-numeric: normal; font-variant-east-asian: normal; margin: 10px 0px; font-stretch: normal; font-size: 18px; line-height: 18px; font-family: Arial, Helvetica, sans-serif; color: rgb(1, 121, 233); text-rendering: optimizelegibility; padding-left: 4px;"> <span style="font-size: 12px;">Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), Bộ N&ocirc;ng nghiệp v&agrave; PTNT mới c&oacute; văn bản gửi Sở N&ocirc;ng nghiệp v&agrave; PTNT c&aacute;c tỉnh, th&agrave;nh phố về việc kiểm tra v&ugrave;ng trồng v&agrave; cơ sở đ&oacute;ng g&oacute;i xuất khẩu sang Trung Quốc.</span></h1>

Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), Bộ Nông nghiệp và PTNT mới có văn bản gửi Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, thành phố về việc kiểm tra vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc.

Theo đó, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) sẽ thực hiện kiểm tra trực tuyến vùng trồng và cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc; thời gian kiểm tra hàng tuần, kể từ ngày 27/5/2022, dự kiến việc kiểm tra sẽ kéo dài 3 tháng. Đối tượng kiểm tra là các vùng trồng, cơ sở đóng gói trái cây đã được cấp mã số xuất khẩu sang Trung Quốc. Kiểm tra về tình trạng tuân thủ các quy định của Trung Quốc về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và phòng chống Covid-19 theo hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới (WHO).

Để chuẩn bị tốt cho việc kiểm tra theo yêu cầu của GACC và không làm ảnh hưởng đến thương mại nông sản đặc biệt tránh để mất thị trường, Cục BVTV đề nghị Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, thành phố chỉ đạo Chi cục Trồng trọt và BVTV chủ động thông báo, rà soát các mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số xuất khẩu sang Trung Quốc đảm bảo duy trì đúng điều kiện về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và phòng chống Covid theo quy định. Hướng dẫn các vùng trồng và cơ sở đóng gói chuẩn bị các tài liệu và điều kiện cần thiết để sẵn sàng phục vụ công tác kiểm tra.

Phối hợp với Sở Y tế hướng dẫn vùng trồng, cơ sở đóng gói thực hiện các biện pháp phòng chống Covid theo hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới (WHO). .

Tại tỉnh Bắc Giang, đối với thị trường Trung Quốc tỉnh duy trì 149 mã số vùng trồng diện tích 15.867 ha (huyện Lục Ngạn 36 mã, 11.423ha; Lục Nam (111 mã, 2.844ha; Tân Yên 01 mã, 600ha; Yên Thế 01 mã, 1.000ha) và 300 cơ sở đóng gói xuất khẩu vải thiều. Sở đã thành lập Tổ chỉ đạo phối hợp với các huyện tiến hành rà soát tất cả các mã số vùng trồng, cơ sở đóng đóng gói theo yêu cầu của Hải Quan Trung Quốc.

Hiện Chi cục Trồng trọt và BVTV đang phối hợp với các địa phương tổ chức Hội nghị hướng dẫn cho các chủ mã vùng trồng và cơ sở đóng gói để chuẩn bị tốt nhất về hồ sơ, tài liệu và các yêu cầu kỹ thuật đối với các mã vùng trồng vải và cơ sở đóng gói theo yêu cầu của GACC, xong trước ngày 27/5/2022. Về cơ bản đến nay tỉnh đã chủ động các điều kiện phục vụ xuất khẩu vải thiều sang Trung Quốc năm 2022./.

Theo https://snnptnt.bacgiang.gov.vn/

Khắc phục bệnh vàng lá do ngộ độc hữu cơ trong vụ lúa mùa

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(71, 71, 71); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Bệnh v&agrave;ng l&aacute; do ngộ độc hữu cơ (bệnh nghẹt rễ) thường g&acirc;y hại mạnh trong vụ chi&ecirc;m xu&acirc;n, song những năm gần đ&acirc;y bệnh lại c&oacute; xu hướng tăng mạnh v&agrave;o vụ m&ugrave;a. Để khắc phục bệnh v&agrave;ng l&aacute; l&uacute;a do ngộ độc hữu cơ trong vụ m&ugrave;a, người d&acirc;n cần nắm r&otilde; kiến thức v&agrave; thực hiện một số biện ph&aacute;p sau:</span></p>

Bệnh vàng lá do ngộ độc hữu cơ (bệnh nghẹt rễ) thường gây hại mạnh trong vụ chiêm xuân, song những năm gần đây bệnh lại có xu hướng tăng mạnh vào vụ mùa. Để khắc phục bệnh vàng lá lúa do ngộ độc hữu cơ trong vụ mùa, người dân cần nắm rõ kiến thức và thực hiện một số biện pháp sau:

1. Tác hại của bệnh

Cây lúa đẻ nhánh kém hoặc không đẻ nhánh.

Nếu bệnh gây hại trong thời gian dài mà không có biện pháp xử lý làm lụi toàn bộ diện tích lúa.

2. Nguyên nhân gây bệnh

Đây là bệnh sinh lý do bộ rễ thiếu oxy. Cây lúa có khả năng phục hồi tốt khi áp dụng đồng bộ các biện pháp phòng, trừ bệnh.

3. Các triệu chứng nhận biết bệnh

Triệu trứng ban đầu là ngọn lá lúa chuyển màu vàng đỏ, khô từ chóp lá lan dần xuống dưới. Nếu bệnh nặng nhiều lá phía trên bị vàng đỏ đến 1/3 lá.

Khi nhổ khóm lúa lên thấy bộ rễ thối đen, có mùi tanh hôi, rễ mới không phát sinh, cây lúa ngừng sinh trưởng hoặc đẻ nhánh ít. Hiện tượng này xảy ra chủ yếu ở giai đoạn sau cấy - đẻ nhánh rộ.

4. Điều kiện phát sinh, phát triển

Bệnh phát sinh gây hại trong cả vụ chiêm xuân và vụ mùa:

- Bệnh xuất hiện và gây hại trong vụ chiêm xuân chủ yếu trong điều kiện thời tiết lạnh; Cấy trên các chân ruộng trũng, cày bừa chưa kỹ; Cấy mạ già, cấy sâu tay.

- Bệnh xuất hiện và gây hại trong vụ mùa chủ yếu trong điều kiện chuyển vụ rất nhanh giữa vụ chiêm xuân và vụ mùa nên quá trình phân hủy gốc rạ sinh ra các axít hữu cơ và khí độc, gây tác động xấu đến sự hô hấp của bộ rễ.

5. Biện pháp phòng trừ

Biện pháp phòng:

Xử lý rơm rạ, sản phẩm phụ sau thu hoạch bằng các chế phẩm Trichodecma, CNXAT-YTB, Sumitri, Fito-Biomix RR,... Thời gian tiến hành trước khi cày ngả (đối với ruộng chủ động tưới tiêu) hoặc trước khi bừa giập (đối với ruộng ngập nước). Liều lượng sử dụng, cách sử dụng xem hướng dẫn trên bao bì sản phẩm hoặc hướng dẫn của cán bộ chuyên môn.

Biện pháp trừ:

Bước 1: Khi phát hiện lúa bị bệnh vàng lá cần ngừng ngay việc bón phân đạm, phân NPK hoặc các loại phân bón lá.

+ Bước 2: Rút nước ra khỏi ruộng để khô 2-3 ngày (nứt chân chim), sau đó đưa nước trở lại ruộng. Đối với những ruộng không rút được nước, tiến hành cào sục bùn.

+ Bước 3: Bón bổ sung phân lân Văn Điển (8-10 kg/360m2) hoặc phân chuồng hoai mục (20-30 kg/360m2). Có thể bón bổ sung thêm phân bón qua lá (ưu tiên các loại phân có hàm lượng các nguyên tố vi lượng cao như Atonik 1.8SL, Poly-feedHumicK-humateSong mã,, TS96, Seewead...)

+ Bước 4: Sau khi xử lý 7-10 ngày, nhổ khóm lúa lên thấy rễ trắng mới ra, tiến hành bón thúc và chăm sóc bình thường.

Theo http://khuyennongbacgiang.com/