Thị trường

XUẤT KHẨU NÔNG SẢN SANG TRUNG QUỐC: THÍCH ỨNG CHỨ KHÔNG ĐỐI PHÓ

Nhóm thông tin: 
Để khai thác dư địa thị xuất khẩu nông sản tại trường Trung Quốc, doanh nghiệp, người sản xuất của Việt Nam phải trên tinh thần thích ứng chứ không phải đối phó với những quy định về yêu cầu, điều kiện xuất khẩu.
Hôm nay (28/11), Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) phối hợp với Dự án Hỗ trợ hợp tác kinh tế khu vực Châu Á (Sreca) đã tổ chức hội thảo phổ biến các quy định của thị trường Trung Quốc về nhập khẩu hàng nông sản và trái cây tươi. Hội thảo có sự tham dự của nhiều đơn vị thuộc Bộ Công thương, Bộ NN-PTNT, cùng đông đảo các chuyên gia, doanh nghiệp, địa phương có các sản phẩm nông sản XK lớn sang thị trường Trung Quốc.
 
Tại hội thảo, Cục Xúc tiến thương mại, Cục Bảo vệ Thực vật (Bộ NN-PTNT) đã phổ biến một số quy định đối với một số nhóm ngành hàng nông sản của Việt Nam khi XK sang thị trường Trung Quốc, đặc biệt là nhóm ngành hàng trái cây tươi.  
 
Ái ngại doanh nghiệp, người sản xuất thờ ơ với quy định xuất khẩu
Ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng ban Nghiên cứu Tổng hợp (Viện Nghiên cứu Quản lí kinh tế Trung ương) cho rằng: Từ năm 2018 đến nay, Trung Quốc đã áp dụng chặt các quy định về nhập khẩu nông sản từ thị trường Việt Nam. Trong đó, các mặt hàng trái cây Việt Nam XK sang Trung Quốc phải tuân thủ nhiều quy định về truy xuất nguồn gốc, vùng trồng, cơ sở đóng gói, các yêu cầu về kiểm dịch, điều kiện ATTP, nhãn mác đóng gói...
 
 

 
Đông đảo các DN có mặt tại hội thảo đã được giới thiệu, phổ biến các quy định về yêu cầu trong XK nông sản sang thị trường Trung Quốc.
Trên thực tế, đây đều là những quy định theo thông lệ quốc tế, Trung Quốc cũng đã ban hành từ rất lâu, tuy nhiên do duy trì chính sách NK biên mậu kéo dài, nên đến nay phía Trung Quốc mới chính thức áp dụng đối với Việt Nam. Vì vậy không còn cách nào khác, các DN của Việt Nam cần phải tuân thủ nghiêm, theo tinh thần thích ứng chứ không phải đối phó.
 
Theo ông Dương, việc đàm phán, mở cửa thị trường đối với các loại trái cây là rất khó khăn, vì vậy khi phát hiện vi phạm trong hoạt động XK, doanh nghiệp cần phải cởi mở chia sẻ thông tin để giải quyết, thay vì cố tình dấu giếm. Bởi điều này sẽ làm tổn hại đến hoạt động XK của cả cộng đồng DN, cả một mặt hàng của cả nước.
 
Bên cạnh đó, bản thân các DN, nông dân phải từng bước nhận thức rõ về những quy luật trong thương mại quốc tế về nông sản, bởi đây là điều bắt buộc trong bối cảnh nông sản chúng ta ngày càng phải vươn ra XK. Không những thế, các DN còn phải đặt cho mình những mục tiêu xa hơn, đó còn là tranh thủ cơ hội từ những thị trường trong khối các hiệp định như CPTPP, EVFTA mà Việt Nam là thành viên. Bởi đây là những thị trường rất nghiêm, yêu cầu rất cao về điều kiện chất lượng hàng hóa.
 
 

 
Ông Vũ Văn Cường, chuyên gia Vụ Thị trường Châu Á - Châu Phi, Bộ Công thương.
Đồng tình với quan điểm này, ông Vũ Văn Cường (chuyên gia Vụ Thị trường Châu Á - Châu Phi, Bộ Công thương) cũng ái ngại: Thực trạng nông dân, HTX, các DN xuất khẩu nông sản trong nước thờ ơ với những quy định trong thương mại quốc tế nói chung, trong đó có thị trường Trung Quốc là điều hết sức đáng buồn.
 
“Sau đợt giải cứu dưa hấu năm 2017, chúng tôi đã dẫn đoàn doanh nghiệp Trung Quốc vào Quảng Ngãi để kết nối SX và tiêu thụ dưa hấu. Đáng buồn là cả nông dân, DN đều khá thờ ơ, và không có bất kỳ một DN nào có đủ năng lực, khả năng để đáp ứng được các yêu cầu về tổ chức, liên kết SX cũng như đáp ứng các quy định trong XK sang thị trường Trung Quốc”, ông Cường kể.  
 
Để XK rau quả tiếp tục vươn xa
Tại hội thảo, một số chuyên gia, đại diện các cơ quan nghiên cứu về thương mại của Bộ Công thương, Bộ NN-PTNT cũng đã tham gia đóng góp về định hướng, chính sách, đánh giá những thuận lợi, khó khăn... trong thời gian tới nhằm tiếp tục khai thác tốt hơn nữa việc XK nông sản nói chung, trong đó có mặt hàng trái cây của nước ta.
 
 

 
Thanh long là mặt hàng trái cây chiếm gần 40% tổng kim ngạch XK rau quả của nước ta sang thị trường Trung Quốc.
Ông Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp - nông thôn đánh giá: Những năm gần đây, bên cạnh việc kim ngạch XK nông sản sang thị trường Trung Quốc liên tục tăng cao, cơ cấu về kim ngạch của một số mặt hàng nông sản XK sang thị trường này cũng có sự dịch chuyển khá rõ.
 
Nếu như năm 2014, gạo là mặt hàng chiếm cơ cấu cao nhất về kim ngạch XK sang thị trường Trung Quốc với 18%, thì đến năm 2019, kim ngạch XK gạo dự báo chỉ còn chiếm khoảng 9%. Trong khi đó, một số mặt hàng đã vươn lên mạnh mẽ về kim ngạch XK, đặc biệt là mặt hàng rau quả.
 
Cụ thể theo dự báo năm 2019, rau quả sẽ chiếm khoảng 28% tổng kim ngạch XK nông sản của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc. Trong các mặt hàng rau quả XK sang thị trường Trung Quốc (năm 2018), thanh long vẫn đang chiếm áp đảo, với khoảng 39% tổng kim ngạch, tiếp theo là nhãn, măng cụt, xoài...
 
Để khai thác tốt hơn nữa XK nông sản nói chung, rau quả nói riêng sang thị trường Trung Quốc, ông Trần Công Thắng cho rằng thời gian tới, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ, bài bản hơn nữa giữa các bộ ngành liên quan trọng việc xây dựng các báo cáo nghiên cứu thị trường đối với một số ngành hàng chủ lực XK vào thị trường Trung Quốc.
 
 

 
Cơ sở hạ tầng các cửa khẩu hiện chưa đáp ứng được yêu cầu XK nông sản ngày càng tăng mạnh sang thị trường Trung Quốc.
Bên cạnh việc đàm phán, mở cửa thêm đối với một số sản phẩm trái cây để XK chính ngạch, trong thời gian tới, cần tổ chức xây dựng cơ sở giữ liệu về mã số vùng trồng. Đồng thời, nâng cao chất lượng các sản phẩm nông sản XK nói chung, trong đó có XK sang thị trường Trung Quốc, song song với việc tăng dần tỉ lệ nông sản chế biến...
 
Cùng với đó, cần phải sớm nghiên cứu đề xuất đầu tư xây dựng các kho lạnh bảo quản sản phẩm tươi ở gần các cửa khẩu tại các tỉnh biên giới như Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh (có thể kết hợp với các chợ đầu mối bên trong các tỉnh).
 
Mặt khác, cần tăng cường đầu tư hơn nữa về nguồn lực, cả về con người, trang thiết bị, ngân sách cho cán bộ kiểm dịch động thực vật tại các cửa khẩu nhằm đáp ứng các yêu cầu ngày càng tăng cao của hoạt động XNK.
 
Xây dựng và kiện toàn hệ thống cảnh báo dịch bệnh trực tuyến giữa 2 nước. Nghiên cứu thành lập hiệp hội xuất khẩu nông sản tại các tỉnh biên giới phía Bắc nhằm điều phối, nâng cao hiệu quả công tác đàm phán, đầu tư và thức đẩy các hoạt động XK sang thị trường Trung Quốc...
 
Theo: nongnghiep.vn

THẤT THU VỤ CHUỐI TẾT

Nhóm thông tin: 
Cơn bão số 5, số 6 vừa qua làm ngã đổ nhiều diện tích chuối trồng bán tết của nông dân ở huyện Tuy An (Phú Yên).
 

Nông dân xã An Lĩnh (huyện Tuy An) thu dọn chuối ngã đổ.
Bên cạnh đó, có nhiều diện tích chuối còn đứng nhưng lo sợ bão ngã đổ người trồng chặt phạt tàu làm cho chuối mất sức, dẫn đến không ra buồng vào dịp tết.
 
Bà Mạnh Thị Trang, ở xã An Lĩnh trồng 2ha chuối “canh” bán dịp tết, bão số 5 vừa qua làm ngã đổ 2/3 vườn chuối. Sau bão vợ chồng bà Trang ra sức “chống gậy” chuối bằng cách dùng cây có nạng chống đỡ cho chuối đứng vững.
 
Bà buồn rầu nói: Hai năm qua, vào dịp tết, giá chuối dao động từ 10.000-12.000 đồng/kg, một nải chuối thường gần 2kg, còn một buồng chuối trung bình 10 nải bán từ 180.000-200.000 đồng. Riêng gia đình tôi, hàng năm thu 30 triệu đồng từ tiền bán chuối tết. Với 2ha chuối ngã đổ, nếu chống đỡ cây nào gượng được thì buồng chuối nhẹ ký bán giá thấp, thất thu mùa chuối tết này tới 20 triệu đồng.
 
Còn ông Trần Văn Tiến trồng chuối ở xã An Lĩnh chia sẻ: Vườn chuối của tôi rộng 1ha, bão số 5 làm ngã đổ hết một nửa, tôi ra sức “chống gậy”, chuối chưa ngóc đầu lên được thì đài báo bão số 6, tôi lo sợ chuối ngã đổ chặt phạt tàu. Chuối khi bị chặt phạt tàu mất sức khó ra dịp tết.
 
Theo người trồng chuối, “canh” để chuối ra buồng bán trúng tết thì cứ tháng 4 bứng chuối con trồng chăm sóc đến tháng Chạp thu hoạch. Khi chuối ra buồng hết nải đến khi chín trong vòng 1 tháng.
 
Như vậy đến thời điểm hiện nay cây chuối cái bắc đầu “bình bụng” (mang buồng phình to dưới gốc rồi trồi lên), thời gian sau trổ buồng bán dịp tết. Thế nhưng khi chuối ngã hoặc bị phạt tàu thì cây chuối mất sức khó trổ buồng, nếu trổ buồng thì bị lép (trái chuối không bóng mẩy), nhẹ ký.
 
Xã An Lĩnh có 6 thôn, xóm, nông dân trồng chuối trải một màu xanh từ nhà ra tận rẫy. Người dân ở đây chủ yếu thu nhập chính từ cây chuối, nhà ít nhất cũng có gần trăm cây chuối.
 
Thôn 1 là vựa chuối lớn nhất xã An Xuân, mỗi dịp tết có gia đình kiếm 30-40 triệu đồng. Chuối thu từ thân, bắp đến buồng chuối. Tuy nhiên, 2 cơn bão liên tiếp vừa qua đã quật ngã nhiều diện tích chuối. Gia đình bà Bùi Thị Nhung có 5 sào chuối bị bão làm ngã đổ xiêu gốc. Từ chỗ dự kiến thu 10 triệu đồng thì dự định dịp tết này hai vợ chồng chỉ còn biết ra rẫy mót lại những buồng chuối “đẹt” (chuối còi).
 
Sau khi bị bão đè ngã nằm dài, xiêu vẹo khó khôi phục nông dân chặt bỏ rồi bứng chuối con trồng mới. Ông Bùi Văn Dũng, ở thôn 3 xã An Xuân cho hay: Cây chuối “mình nước” (thân mềm) gặp gió bão dễ gãy, khi gãy thời gian sau lột bẹ dẫn đến mất nước. Vì vậy khi chuối bị bão ngã thấy vẫn “sống lâu” (chuối vẫn xanh) nhưng chuối khó ra buồng, cần chặt bỏ trồng mới. Số ít bán rằm tháng Giêng, còn hầu hết dịp mùng 5 (Tết Đoan Ngọ) thu hoạch bán.
 
Theo ông Dũng, khi trồng chuối moi hố sâu rộng đất xốp, từ cây con trồng khi lớn thành chuối mẹ đẻ ra nhiều cây chuối con, mục đích moi hố sâu để lớp chuối con sau này lâu lồi gốc (vì trồng sâu hằng năm lấp gốc cao dần) nên “ăn” được mấy mùa sau, buồng chuối lại sai nải, trái to. Cách làm này, người dân ở đây trồng 1 ha chuối của thu trên 30 triệu đồng/năm.
 
Thống kê của UBND huyện Tuy An, vùng trồng chuối tại xã An Xuân, An Lĩnh có hơn 600ha, cơn bão số 11 vừa qua làm ngã đổ 43ha chuối. Ngoài diện tích chuối ngã đổ thì có gần 100ha chuối nông dân lo sợ bão quật ngã chặt tàu...
 
Theo: nongnghiep.vn

VIỆT NAM VÀ EU KÍ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI

Nhóm thông tin: 
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU được kỳ vọng sẽ tạo thêm cú hích giúp làn sóng đầu tư từ khu vực này vào Việt Nam tăng mạnh mẽ.
Ngày (30/6), Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) được ký kết tại Hà Nội, sau 9 năm đàm phán.
 

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp Chủ tịch Nghị viện châu Âu Antonio Tajani trong chuyến thăm EU vào tháng 10/2018. Ảnh: VGP.
Theo Bộ Công Thương, EVFTA và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (IPA) được ký kết cùng lúc, với những cam kết đối xử công bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho các khoản đầu tư, nhà đầu tư sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng môi trường pháp lý và đầu tư minh bạch. Từ đó, Việt Nam sẽ thu hút nhiều hơn nhà đầu tư đến từ EU.
 
EVFTA với 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo (thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ...) là hiệp định toàn diện và đảm bảo cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, trong đó cũng đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên.
 
Với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với gần 86% số dòng thuế và hơn 99% dòng thuế được gỡ bỏ sau 7 năm, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang 28 nước thành viên EU. 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.
 
Như vậy, gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong các hiệp định FTA đã được ký kết. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất.
 
Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng cam kết sẽ bỏ ngay 48,5% số dòng thuế cho hàng hoá EU. Sau 7 năm số dòng thuế được xoá bỏ tăng lên 91,8%, tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu. Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8% kim ngạch nhập khẩu). Khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU, Việt Nam sẽ áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan theo cam kết WTO.
 
"EVFTA sẽ là cú hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, nhất là các mặt hàng nông, thuỷ sản", Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh nhận định.
 
Theo ông, những cam kết đối xử công bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho các khoản đầu tư và nhà đầu tư của nhau trong Hiệp định IPA sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng môi trường pháp lý và đầu tư minh bạch, từ đó Việt Nam sẽ thu hút nhiều hơn nhà đầu tư đến từ EU và các nước khác. 
 
Ông Phạm Hồng Hải - Tổng giám đốc Ngân hàng HSBC Việt Nam nhận xét, dưới tác động của hiệp định này sẽ gia tăng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, trên cơ sở đầu tư trung bình của EU vào Việt Nam đạt gần 800 triệu USD một năm trong khoảng từ năm 2010-2017 và có triển vọng lạc quan hơn thời gian tới.
 
Trong khi đó, Hiệp định IPA gồm các quy định hiện đại về bảo hộ đầu tư cho phép việc thực thi và triển khai thông qua Hệ thống mới Tòa án về Đầu tư đồng thời vẫn đảm bảo các chính phủ cả hai phía có quyền điều tiết các lợi ích của công dân.
 
Hiệp định IPA sẽ thay thế các hiệp định đầu tư song phương mà 21 nước thành viên EU đã ký với Việt Nam, triển khai một khung pháp lý mới đảm bảo ngăn ngừa xung đột về lợi ích cũng như tăng cường minh bạch.
 
Các bước tiếp theo sau khi hai hiệp định này được EU và Việt Nam ký sẽ trình lên Nghị viện châu Âu và Quốc hội Việt Nam phê chuẩn, dự kiến trong năm 2020. Sau bước phê chuẩn này, Hiệp định EVFTA sẽ chính thức hoàn tất, có hiệu lực. Trong khi đó Hiệp định IPA cần sự phê chuẩn của các nước thành viên EU tuân thủ theo các tiến trình nội bộ của từng nước, dự kiến sẽ mất khoảng 2 năm.
 
Theo Nongnghiep.vn

GIÁ HEO TĂNG VỌT, CHẠM MỐC 38.000 - 40.000 ĐỒNG/KG

Nhóm thông tin: 
Tuần trước, giá heo ở Nam Bộ đã tăng nhẹ từng ngày. Sang tuần này, trong mấy ngày qua, giá heo tăng vọt một cách chóng mặt. Ở nhiều nơi, giá heo hơi hiện đã ở mức 38.000 - 40.000 đồng/kg.
 
 

 
Một trại heo ở Chợ Gạo, Tiền Giang
Theo ông Trầm Quốc Thắng, chủ trang trại Gia Phát (xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, TP.HCM), giá heo hơi đang tăng chóng mặt kể trong mấy ngày đầu tuần này. Thứ 7 tuần trước, giá heo hơi ở Củ Chi dù đã tăng so với trước đó, nhưng mới chỉ ở mức bình quân 30.000 - 31.000 đồng/kg. Tới ngày thứ Hai tuần này, giá heo hơi đã nhảy lên ở mức 35.000 đồng/kg. Và đến thứ Tư (11/4), đã tăng lên tới 38.000 - 40.000 đồng/kg.
 
Tại “thủ phủ chăn nuôi” Đồng Nai, trong những ngày qua, giá heo hơi cũng tăng mạnh. Theo thông tin của một số chủ trang trại, giá heo hơi trên địa bàn hiện đã ở mức khoảng 37.000 - 38.000 đồng/kg. Thông tin từ Cty CP Chăn nuôi C.P Việt Nam, giá thu mua heo mà công ty đưa ra trong ngày 11/4 đã ở mức 37.000 đồng/kg. Ở nhiều tỉnh ĐBSCL, giá heo hơi hiện ở mức 36.000 - 37.000 đồng/kg.
 
Vì sao giá heo hơi tăng mạnh? Ông Trầm Quốc Thắng cho rằng, nguyên nhân chính là chênh lệch cung cầu. Trong hơn 1 năm qua, do giá heo thường ở mức thấp, phần lớn các hộ chăn nuôi nhỏ đã “kiệt sức”, không còn khả năng nuôi heo tiếp nữa. Nhiều trang trại cũng đã phải bỏ trống chuồng. Đến thời điểm này, chỉ còn các công ty duy trì được đàn heo.
 
Chính vì vậy, nguồn cung heo trên thị trường đã giảm xuống tới mức thấp hơn so với nhu cầu trên thị trường nội địa. Đây là nguyên nhân chính khiến cho giá heo đang tăng mạnh trong bối cảnh heo ở Đông Nam Bộ hiện vẫn gần như không xuất được sang Trung Quốc.
 
Ông Phạm Đức Bình, Chủ tịch HĐQT Cty Thanh Bình (Đồng Nai), cũng cho biết, hiện nay heo hơi ở tỉnh này vẫn chưa đi được ra phía Bắc để xuất sang Trung Quốc, bởi giá heo bên đó đang ở mức thấp. Do đó, thị trường Trung Quốc hiện không có tác động gì tới việc tăng giá liên tục vừa qua. Nhu cầu tiêu thụ ở thị trường nội địa vẫn đang khá ổn định, không có gì đặc biệt so với thời điểm chưa tăng giá.
 
Vì vậy, việc giá heo tăng mạnh chủ yếu do lượng heo thương phẩm đã giảm nhiều xuống mức thấp hơn so với nhu cầu của thị trường nội địa. Khi thấy giá heo hơi có dấu hiệu tăng lên, nhiều người chăn nuôi đã chủ động giữ heo lại, không vội bán ra ngoài, nhằm đợi giá cao hơn nữa mới bán để gỡ gạc lại vốn liếng sau một thời gian thua lỗ kéo dài. Các công ty có đàn heo lớn cũng nương theo diễn biến của thị trường mà nâng giá thu mua heo hơi cho các trang trại nuôi gia công. Những yếu tố này cũng góp phần “kích” giá heo Đông Nam Bộ tăng liên tục trong những ngày qua. Tuy nhiên, sự kích giá này hiện đang là một điều tốt để đưa giá heo hơi lên trên giá thành, giúp cho người chăn nuôi thoát lỗ.
 
Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng trong việc làm cho giá heo hơi tăng mạnh là thị trường Campuchia đang có nhu cầu cao về thịt heo cho dịp tết cổ truyền của nước này. Những ngày qua, một lượng heo không nhỏ ở các tỉnh Nam Bộ đang được đưa tới biên giới Tây Nam để đi sang Campuchia. Ông Phạm Đức Bình cho hay, phải tới ngày 13/4, khi tết cổ truyền ở Campuchia kết thúc, thị trường này mới không còn nhiều tác động tới giá heo hơi ở Việt Nam.
 
Đánh giá về đợt tăng giá heo mạnh mẽ trong những ngày qua, nhiều chuyên gia, doanh nhân, chủ trang trại đều cho rằng hiện tại chưa thể khẳng định được sự tăng giá này có bền vững hay không, giá heo còn tăng lên nữa hay không… Vì vậy, dù giá heo hiện tại đã ở mức giúp cho người chăn nuôi có lãi sau một thời gian dài thua lỗ, nhưng bà con cũng cần bình tĩnh, xem xét, đánh giá thật thận trọng về cung cầu, không nên vội vàng đua nhau tái đàn.
 
Theo nongnghiep.vn
 

LỐI ĐI MỚI CHO MỲ CHŨ BẮC GIANG - ĐƠN VỊ BAO TIÊU: CÔNG TY QUỐC TẾ HUDO VIỆT NAM

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<div> L&agrave;ng nghề th&ocirc;n Thủ Dương, x&atilde; Nam Dương, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) ng&agrave;y nay c&oacute; nhiều n&eacute;t đổi kh&aacute;c, với nhiều nh&agrave; cao tầng c&oacute; kiến tr&uacute;c hiện đại, đường x&aacute; cũng được b&ecirc; t&ocirc;ng h&oacute;a ki&ecirc;n cố. C&oacute; được h&igrave;nh ảnh mới n&agrave;y phần lớn l&agrave; nhờ v&agrave;o nghề l&agrave;m mỳ gạo với thương hiệu &ldquo;mỳ gạo Chũ&rdquo; tại nơi đ&acirc;y. C&oacute; thể n&oacute;i, tuy l&agrave; nghề phụ nhưng từ l&acirc;u đ&atilde; đem lại nguồn thu nhập ch&iacute;nh cho nhiều gia đ&igrave;nh trong l&agrave;ng.</div> <div> &nbsp;</div>

Làng nghề sản xuất mỳ chũ tại Bắc Giang

Làng nghề thôn Thủ Dương, xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) ngày nay có nhiều nét đổi khác, với nhiều nhà cao tầng có kiến trúc hiện đại, đường xá cũng được bê tông hóa kiên cố. Có được hình ảnh mới này phần lớn là nhờ vào nghề làm mỳ gạo với thương hiệu “mỳ gạo Chũ” tại nơi đây. Có thể nói, tuy là nghề phụ nhưng từ lâu đã đem lại nguồn thu nhập chính cho nhiều gia đình trong làng.
 
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Tuấn, Chủ tịch Hội sản xuất và tiêu thụ mỳ Chũ, huyện Lục Ngạn cho biết, làng có nghề thủ công làm mỳ gạo từ những năm 1980 nhưng kể từ khi mỳ Chũ chính thức được đăng ký thương hiệu, việc tiêu thụ sản phẩm trở nên thuận lợi và hiệu quả hơn nhiều, trung bình mỗi ngày làng nghề cho tiêu thụ hàng tấn mỳ. Đặc biệt, sản phẩm của làng nghề cũng đã xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.

Lý do khiến mỳ gạo Chũ tại Thủ Dương được ưa thích so với các loại mỳ gạo khác là do nguyên liệu để sản xuất được lựa chọn kỹ càng; khi chế biến, sợi mỳ dẻo và dai, không bị nát nên từ lâu đã trở thành món ăn dân dã được nhiều người ưa thích. Để đảm bảo chất lượng mỳ, các hộ làm mỳ trong thôn đều có bản cam kết không sử dụng hàn the, thuốc tẩy hay chất phụ gia, đảm bảo các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm.

Lối đi mới cho mỳ chũ tại Bắc Giang

Nhờ nỗ lực duy trì chất lượng sản phẩm mang thương hiệu mỳ Chũ, tháng 10/2012 Bộ Công Thương đã có quyết định công nhận bình chọn sản phẩm Mỳ gạo Chũ là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu của khu vực phía Bắc.

Để tạo sự phát triển bền vững cho làng nghề Thủ Dương, huyện Lục Ngạn đã có nhiều chính sách thông thoáng đẩy nhanh xúc tiến thương mại, khuyến khích hỗ trợ các hộ tham gia sản xuất chế biến mỳ, duy trì chất lượng đã được khẳng định, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Đặc biệt, Hội sản xuất và tiêu thụ mỳ Chũ, huyện Lục Ngạn đã và đang tích cực ,chủ động liên kết với các đại lý, doanh nghiệp để để đưa mỳ gạo Chũ đến với nhiều thị trường trên thế giới.

Do đã có kết quả kiểm nghiệm chất lượng an toàn thực phẩm theo thông lệ quốc tế, mỳ Chũ đã có giấy “thông hành” xuất ngoại nhiều năm nay. Theo đó, gần chục năm nay sản phẩm mỳ Chũ đã được xuất khẩu sang các quốc gia như: Nga, Úc, Pháp và một số nước châu Á thông qua Công ty cổ phần xây dựng và thương mại quốc tế HUDO Việt Nam. Cụ thể, 100 hộ gia đình xã viên HTX tổng hợp An Hưng sản xuất mỳ Chũ cung cấp cho ông ty cổ phần xây dựng và thương mại quốc tế HUDO Việt Nam đều có dây chuyền tráng bánh, thái bánh đa tự động, nhanh sạch an toàn các hộ đều ký cam kết không cho hóa chất tẩy trắng, tạo dẻo. Tất cả đều được sản xuất bằng gạo vụ mới do HTX lựa chọn. Tất cả bà con xã viên giữ thương hiệu phải tuân thủ theo quy trình quy định. Mỳ Chũ xuất khẩu được dán logo Công ty cổ phần xây dựng và thương mại quốc tế HUDO Việt Nam và ghi rõ "sản xuất tại làng nghề Thủ Dương". Đáng chú ý sản phẩm nào cũng gắn mã số của hộ sản xuất giúp truy xuất nguồn gốc và ràng buộc xã viên luôn sản xuất sạch.

Hoạt động quảng bá sản phẩm cũng được quan tâm, các cấp, ngành thường xuyên giới thiệu, tổ chức gian hàng tại các hội chợ, triển lãm trong và ngoài tỉnh. Mỳ Chũ còn được Cục Công nghiệp địa phương (Bộ Công Thương) chứng nhận là sản phẩm nông nghiệp, nông thôn tiêu biểu các năm 2012, 2013, 2014; được Hội Nông dân Việt Nam, Sở Công Thương nhiều lần vinh danh là sản phẩm tiêu biểu, chất lượng. Hiện nay, mỳ Chũ được phân phối chủ yếu thông qua các đại lý tại nhiều tỉnh, thành phố, chỉ tính riêng thành phố Bắc Giang đã có hơn 20 đại lý, cửa hàng chuyên kinh doanh mỳ Chũ. Hiện Hội Mỳ Chũ đã gửi đơn xin bảo hộ nhãn hiệu độc quyền tại thị trường: Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Hàn Quốc và Nhật Bản. Mới đây, UBND tỉnh Bắc Giang vừa có quyết định giao cho Sở Khoa học và Công nghệ tiến hành các thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm “Mỳ Chũ” tại các thị trường này.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG CHIÊU TRÒ BÁN PHÂN BÓN RỞM

Nhóm thông tin: 
Dù đã có nhiều nỗ lực từ cơ quan chức năng, nhất là từ sau khi có Nghị định 108/2017/NĐ-CP (gọi tắt là NĐ 108), nhưng tình trạng sản xuất, kinh doanh phân bón không đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định hình như vẫn đang xuất hiện ngày một nhiều hơn ở nhiều vùng nông thôn.
 
 

Một mẫu Giấy chứng nhận hợp quy phù hợp với quy định pháp luật về phân bón đối với sản phẩm phân bón Kali Israel do Vinacam nhập khẩu và phân phối
Hiện nay, nhiều cơ sở, doanh nghiệp không đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh phân bón theo NĐ 108 đang lợi dụng việc khó khăn trong tiếp cận thông tin của bà con tại các vùng nông thôn để tích cực tiếp thị, chào bán các loại phân bón không rõ nguồn gốc; sử dụng nhiều “chiêu trò” khác nhau nhằm khiến bà con nhầm lẫn về thông tin và mua phải phân bón không đạt chuẩn chất lượng.
 
Bài 6 và 7 Chuyên mục Nhà nông thông thái tổng hợp các chiêu trò để bà con có thể tự bảo vệ chính mình:
 
Dùng giấy chứng nhận chất lượng cũ hoặc các huy chương, chứng nhận danh hiệu gây nhầm lẫn thông tin:
 
Theo NĐ 108, những cơ sở sản xuất, kinh doanh phân bón không đáp ứng đầy đủ các điều kiện phải tạm dừng hoạt động cho đến khi thoả mãn các điều kiện tại NĐ. Tuy nhiên, các cơ sở này vẫn đang ngang nhiên hoạt động; thậm chí nhiều cơ sở hoạt động “chui” (không có thủ tục sản xuất, kinh doanh phân bón theo quy định) – gọi chung là các DN dưới tiêu chuẩn.
 
Để qua mặt cơ quan quản lý địa phương, các DN dưới tiêu chuẩn cố tình sử dụng các mẫu giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh phân bón được cấp trước khi NĐ 108 có hiệu lực; hoặc các giấy chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy không đúng quy định do một trung tâm khảo kiểm nghiệm phân bón cấp. Phổ biến là cách thức in lên bao bì hoặc cung cấp các chứng nhận huy chương vàng, chứng nhận chất lượng từ một hội chợ, cuộc thi nào đó mà DN chỉ cần đóng phí tham gia thì sẽ nhận được khiến bà con nhầm lẫn thông tin về chất lượng sản phẩm phân bón đạt chuẩn theo quy định pháp luật.
 
Vì vậy, khi chọn mua phân bón, bà con cần chú ý kỹ các thông tin liên quan đến sản phẩm và đơn vị sản xuất hoặc phân phối trên bao bì, yêu cầu đơn vị sản xuất, phân phối đó cung cấp tài liệu liên quan đến chất lượng sản phẩm và chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh phân bón theo quy định tại chương III, NĐ 108.
 
Phân bón phải được quản lý chất lượng theo quy định pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hoá thông qua chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy theo Điều 30 NĐ 108. Các sản phẩm phân bón trước khi được công nhận lưu hành đều phải được khảo nghiệm bởi tổ chức đạt đủ điều kiện theo Điều 15 NĐ 108. Đối với phân bón nhập khẩu phân phối tại Việt Nam phải có Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng phân bón nhập khẩu theo Điều 31 NĐ 108.
 
Đưa thông tin gây nhầm lẫn về nơi sản xuất thực tế:
 
Nắm bắt tâm lý chuộng hàng ngoại của bà con, một số cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón (gọi tắt là DN) cho in những dòng chữ, hình ảnh gây nhầm lẫn về nơi sản xuất thực tế. Ví dụ: “Made from Israel materials” chỉ nguyên liệu sản xuất phân bón (có thể) được nhập từ Israel, không phải được sản xuất tại Israel; “Technology of Japan” chỉ có nghĩa là “công nghệ Nhật Bản”, không đảm bảo sản phẩm được sản xuất tại Nhật Bản; hoặc in hình lá cờ nước ngoài (Mỹ, Nhật, Canada) lên bao bì.
 
Tuy nhiên, “nguyên liệu từ Israel” cũng không có nghĩa 100% nguyên liệu dùng để sản xuất loại phân bón đó được nhập từ Israel mà thường chỉ chiếm tỷ lệ thấp (Ví dụ: khi sản xuất một sản phẩm phân bón hữu cơ, DN có thể chỉ cho vào một nguyên liệu nhập khẩu từ Israel với tỷ lệ thấp, các nguyên liệu khác có thể được lấy từ các nguồn khác để giảm chi phí sản xuất). Trên thực tế, bà con rất khó để kiểm chứng được thật sự nguyên liệu có được nhập từ nước ngoài hay không. Vấn đề “công nghệ Mỹ” cũng vậy.
 
Vì vậy, bà con cần đặc biệt cẩn thận khi đọc thông tin về nơi sản xuất trên bao bì phân bón. Phân bón được sản xuất tại nước nào cần được ghi rõ ràng “Made in…” (Ví dụ: Made in Israel, Made in United Kingdom…) hoặc “Product of…”. Từ “materials” (hoặc “material”) nhìn chung chỉ nguyên liệu; “technology” nói về công nghệ; không mang ý nghĩa nơi sản xuất.
 
Theo nongnghiep.vn

KHÓ XỬ LÝ TỒN LƯU THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT HẾT HẠN SỬ DỤNG

Nhóm thông tin: 
Hiện nay, tại kho kinh doanh vật tư nông nghiệp của nhiều đại lý trên địa bàn tỉnh Bắc Giang tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hết hạn sử dụng. Nếu thuốc bị đưa trái phép ra bên ngoài, những loại thuốc này có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, môi trường và hiệu quả phòng trừ sâu bệnh.
 

 
Lực lượng chức năng kiểm tra hoạt động kinh doanh thuốc BVTV tại thị trấn Cầu Gồ (Yên Thế).
 
Mới đây, qua thanh tra, kiểm tra chuyên ngành của Chi cục Trồng trọt và BVTV (Sở Nông nghiệp và PTNT), cán bộ chuyên môn phát hiện đại lý cấp 1 kinh doanh vật tư nông nghiệp Tuyến Hải, thôn Phú Bản, xã Tân Sỏi (Yên Thế) có 200 kg thuốc BVTV quá hạn sử dụng lưu trong kho. Anh Mai Trung Tuyến, chủ đại lý cho biết: “Bán thì mất uy tín và vi phạm quy định còn để đây tôi rất lo thuốc ảnh hưởng đến sức khỏe của gia đình. Do vậy, tôi mong được cơ quan chức năng hỗ trợ xử lý lô sản phẩm này”.
 
Tương tự, kho của đại lý Hoàng Phúc, xã Chu Điện (Lục Nam) cũng có khoảng hơn một tạ thuốc hết hạn sử dụng. Theo anh Nguyễn Hữu Huế, chủ đại lý, loại thuốc trong kho chủ yếu trừ sâu, bệnh cho vải thiều. Tuy nhiên, thời điểm công ty sản xuất giao hàng cho anh, thuốc còn hạn sử dụng ngắn, vụ vải vừa qua mất mùa nên không tiêu thụ hết. Mới đây, anh đã trả lại toàn bộ lượng hàng không còn giá trị sử dụng để đơn vị cung ứng tiêu hủy.
 
 
Theo tổng hợp của Chi cục Trồng trọt và BVTV, toàn tỉnh còn tồn lưu hơn hai tấn thuốc quá hạn, chủ yếu nằm ở trong các kho của đại lý kinh doanh cấp 1. Sử dụng thuốc BVTV hết hạn cho cây trồng sẽ giảm hiệu quả phòng trừ sâu bệnh, nông sản không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Hơn nữa, hoạt chất đã biến đổi sang dạng khác nên tác động tiêu cực đến môi trường, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng khi phát tán ra ngoài. 
 
Theo quy định, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải có trách nhiệm liên hệ với đơn vị có chức năng tiêu hủy thuốc BVTV; phối hợp thực hiện tiêu hủy dưới sự giám sát của cơ quan chức năng và phải tự chi trả kinh phí. Tuy nhiên, trên thực tế, lượng thuốc quá hạn vẫn tồn lưu rất lớn. Giải thích về vấn đề này, ông Nguyễn Xuân Dũng, Trưởng phòng Thanh tra chuyên ngành (Chi cục Trồng trọt và BVTV) cho rằng, một số đại lý chưa nắm rõ quy định cũng như quy trình xử lý. Mặt khác, có chủ cơ sở còn tâm lý ngại thực hiện, không muốn tốn kém chi phí cho hoạt động này.
 
Phạt tiền từ 5-10 triệu đồng đối với hành vi buôn bán thuốc BVTV hết hạn sử dụng có khối lượng từ 100 đến dưới 300 kg (hoặc lít) thuốc thành phẩm. Nguồn: Nghị định 114/2013/NĐ-CP.
 
Trước thực trạng trên, Chi cục Trồng trọt và BVTV vừa có văn bản yêu cầu Trạm Trồng trọt và BVTV các huyện, TP phối hợp tăng cường tuyên truyền, phổ biến cho các hộ kinh doanh, công ty, đại lý trên địa bàn thực hiện đúng quy định trong thu gom, xử lý thuốc BVTV không còn giá trị sử dụng. Yêu cầu các tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc BVTV thống kê chủng loại, lượng hàng hóa hết hạn gửi về Chi cục trước ngày 31-8. Chi cục sẽ liên hệ với một công ty đủ điều kiện tiêu hủy hóa chất, đồng thời giám sát quá trình xử lý. Sau một tháng, Chi cục sẽ thành lập đoàn kiểm tra tại các đơn vị đã thực hiện tiêu hủy, bảo đảm hàng tồn được theo dõi chặt chẽ. 
 
Một số người tiêu dùng lo ngại, trong khi chờ cơ quan chức năng xử lý thì rất có thể xảy ra tình trạng dập lại nhãn mác hoặc lén lút đổ, vứt hóa chất ra môi trường. Bởi thực tế, từ đầu năm đến nay, cơ quan chức năng đã phát hiện, xử phạt hai trường hợp ở huyện Hiệp Hòa, Tân Yên làm nhái nhãn mác, tự dập lại hạn sử dụng trên bao bì khi sản phẩm quá hạn. Vì vậy, nhiều ý kiến đề xuất cần quản lý, giám sát chặt chẽ việc bảo quản thuốc tồn lưu trong kho tại các cơ sở kinh doanh, hạn chế phát sinh hệ lụy. 
 
Cùng với biện pháp trên, cơ quan chức năng nên tiến hành nhiều đợt kiểm tra đột xuất, thông báo công khai  kết quả kiểm tra; tuyên truyền để người tiêu dùng quan tâm đến hạn sử dụng của sản phẩm. Chính quyền cơ sở nâng cao trách nhiệm trong việc giám sát, phát hiện hành vi kinh doanh trái phép thuốc BVTV.
 
                                                                                                                                        Theo nongnghiep.vn

CẠNH TRANH TRONG LƯU THÔNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TIÊU THỤ NÔNG SẢN THỰC PHẨM

Nhóm thông tin: 
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở Việt Nam. Sản xuất nông nghiệp không chỉ có vai trò quyết định trong bảo đảm an ninh lương thực mà còn là một yếu tố chính trong nền kinh tế quốc dân. Một nền nông nghiệp phát triển bền vững đòi hỏi sự áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật và đặc biệt là tăng sự cạnh tranh trong phân phối, lưu thông hàng hóa, nhằm nâng cao hiệu quả tiêu thụ nông sản, thực phẩm.
 
 

 
Chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn tạo ổn định đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống - Nguồn: vov.vn
 
Trong suốt chặng đường đổi mới những năm qua, cùng với sự phát triển chung của kinh tế, sản xuất và tiêu thụ nông sản thực phẩm ở nước ta có tốc độ tăng trưởng cao. Một số mặt hàng đã giữ vững vai trò bảo đảm an ninh lương thực và có kim ngạch xuất khẩu luôn thuộc nhóm các nước đứng đầu như gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, rau củ quả, thủy hải sản, sản phẩm nuôi trồng,… Chất lượng và cơ cấu hàng hoá nông sản thực phẩm cũng có nhiều thay đổi tích cực. Tuy vậy hiện nay, lưu thông và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của nước ta đang gặp phải những khó khăn và thử thách lớn cả về giá cả, chất lượng, chủng loại và những rào cản gia nhập thị trường. Hầu hết các mặt hàng nông sản thực phẩm chính đang đứng trước nguy cơ ứ đọng, giá giảm mạnh, chất lượng sau thu hoạch kém đi làm cho việc tiêu thụ khó khăn hơn. Những thách thức này nền nông nghiệp nước ta cũng đã gặp phải vào đầu những năm 2000, nhưng với mức độ và quy mô nhỏ hơn hiện nay.
 
Trên thực tế, hàng hoá nông sản thực phẩm khi đã bị ứ đọng giảm giá thì không thể cân đối cung cầu bằng cách dừng hay giảm hoặc giãn tiến độ thu hoạch ngay được vì cây trồng vật nuôi đến mùa vụ thì bắt buộc phải thu hoạch. Những giải pháp cân đối sản xuất thì phải có quy hoạch, kế hoạch định kỳ được xây dựng trước khi thu hoạch sản phẩm. Hơn nữa, năng suất lao động trong khu vực nông nghiệp của nước ta còn thấp nên tổng sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp vẫn tăng trưởng chậm. Vì vậy, giải pháp cấp bách áp dụng ngay trong và sau thu hoạch sản phẩm nông nghiệp hiện nay phải là: Đẩy mạnh cạnh tranh trong các khâu thu mua, chế biến, lưu thông, phân phối, dự trữ, bảo quản, khuyến khích tiêu dùng để tiêu thụ, xuất khẩu hiệu quả nhất lượng nông sản thực phẩm đã và đang thu hoạch này. Lúc này, phát triển cạnh tranh sau thu hoạch nông sản thực phẩm, mở rộng lưu thông trở nên quyết định đối với việc giải phóng hàng hóa nông sản thực phẩm đã được sản xuất đến kỳ thu hoạch; vì vậy cần thiết phải phân tích rõ vai trò của cạnh tranh và lưu thông đối với việc tiêu thụ hàng hóa nông sản thực phẩm nói chung. Các giải pháp trước mắt và lâu dài về cạnh tranh trong khâu lưu thông để tiêu thụ sản phẩm cần được đưa ra và xem xét; từ đó có sự đầu tư đúng mức các nguồn lực cho cạnh tranh phát triển lưu thông, phân phối, tiêu thụ hàng hoá nông sản thực phẩm hiện nay.
 
Những thuận lợi, khó khăn trong tiêu thụ nông sản thực phẩm
 
Ở nước ta, sản phẩm nông nghiệp truyền thống chiếm tỷ trọng lớn; cách thức sản xuất theo tập quán lâu đời, dựa nhiều vào lợi thế tự nhiên, do đó phụ thuộc nhiều vào thời tiết và mang nặng yếu tố thời vụ, ít có lợi thế cạnh tranh. Nhiều loại hàng nông sản sản xuất ra chỉ để phục vụ nhu cầu tại chỗ hoặc thị trường trong nước, trong khi hàng nông sản cùng chủng loại này của các nước láng giềng có chất lượng tương đương nhập khẩu số lượng lớn vào Việt Nam. Ngoài ra, một số nông sản chủ yếu là sản xuất để xuất khẩu, phụ thuộc phần lớn vào thị trường tiêu thụ ngoài nước.
 
Về thuận lợi: Sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển, đạt kết quả cao, một phần không nhỏ là nhờ vào sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước bằng các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ đồng bộ. Có thể kể đến một vài yếu tố lợi thế cho phát triển nông nghiệp như: thị trường tiêu thụ được mở rộng và hội nhập sâu; chi phí lưu thông giảm; năng lực cạnh tranh và trình độ phát triển được cải thiện; các tiến bộ khoa học công nghệ đang được ứng dụng rộng rãi; thông tin hàng hoá thị trường nhanh nhạy,... Bên cạnh đó, công tác kiểm soát cạnh tranh, chống buôn lậu và gian lận thương mại đối với hàng hoá nông sản đang được quan tâm và đẩy mạnh.
 
Về khó khăn: Tình hình thiên tai, thời tiết, khí hậu biến đổi ngày càng không thuận dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, khả năng cạnh tranh thấp. Thị trường tiêu thụ nông sản chất lượng trung bình đang bão hoà, sản phẩm ứ đọng. Những mâu thuẫn bộc lộ trong cân đối cung cầu cả về số lượng, chất lượng, chủng loại và tính thời vụ của nông sản; giá cả tăng, giảm nhanh, tạo mặt bằng giá bất hợp lý. Các điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng thương mại đang dần lạc hậu, tỷ trọng đầu tư mới cho khâu lưu thông phân phối rất thấp; năng lực cạnh tranh của hàng hoá, doanh nghiệp kinh doanh nông sản còn chưa cao.
 
Cạnh tranh trong lưu thông thúc đẩy tiêu thụ nông sản thực phẩm
 
Môi trường cạnh tranh trong lưu thông các sản phẩm nông sản thực phẩm sẽ tạo áp lực phát triển nhiều loại hình kinh doanh tiến bộ trong thu mua, bảo quản, chế biến, dự trữ, tiêu thụ nông sản. Một số lợi ích khác của cạnh tranh là: mở rộng cung ứng hàng hoá nông sản cho chế biến, tiêu dùng và xuất khẩu; bảo đảm dự trữ, bảo quản hàng hoá nông sản trong từng khâu chế biến, lưu thông từ đó ổn định nguồn hàng, chất lượng cho tiêu dùng; thúc đẩy tạo thêm giá trị gia tăng, nâng cao chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh của hàng nông sản, tạo áp lực vận dụng các hình thức tiếp thị, quảng cáo, xúc tiến thương mại phong phú để tiêu thụ nông sản. Việc cạnh tranh còn kích thích tiêu dùng những mặt hàng nông sản mới, hàng nông sản chế biến, hàng chất lượng cao; các đơn vị phân phối cần ứng dụng tiến bộ của khoa học công nghệ, cập nhật phổ biến thông tin mới, cạnh tranh dịch vụ sau bán hàng. Cạnh tranh lành mạnh còn phản ánh nhu cầu thị trường, tác động tích cực trở lại đối với sản xuất nông nghiệp cũng như góp phần chống buôn lậu và gian lận thương mại trong lưu thông, xuất nhập khẩu hàng nông sản, từ đó phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh các vụ việc vi phạm cạnh tranh để tạo lập môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng trên thị trường.
 
Kể từ khi chuyển đổi nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh thế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì hoạt động cạnh tranh đã xuất hiện trên thị trường nói chung và trong ngành hàng nông sản nói riêng. Cạnh tranh hợp pháp trở thành hoạt động tất yếu trên thị trường với ngày càng nhiều chủ thể tham gia. Để bảo đảm vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước đã luôn có những quy định phù hợp cho từng thời kỳ nhằm bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh.
 
Cùng với các đường lối, chính sách phát triển kinh tế trong đó có phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân, năm 2004, Quốc hội ban hành Luật Cạnh tranh. Luật này nêu rõ nguyên tắc: Việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng. Với chủ thể cạnh tranh là các tổ chức, cá nhân kinh doanh và liên quan thì các doanh nghiệp nông nghiệp và các hộ sản xuất kinh doanh nông sản thực phẩm đang là nhóm chủ thể cạnh tranh đông đảo nhất trên thị trường nước ta. Tuy vậy, họ lại đang là nhóm chủ thể cạnh tranh yếu nhất. Gần đây, nhất là từ năm 2016, Chính phủ có nhiều chính sách bảo đảm tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật và hành động quyết liệt để bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh nông sản thực phẩm.
 
Một số kết quả đạt được: Nông nghiệp, nông sản thực phẩm đã từng bước cạnh tranh có kết quả với khu vực và các ngành hàng khác; thị phần hàng nông sản thực phẩm Việt Nam trên thị trường tiêu thụ được mở rộng và hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu; giá thành sản phẩm và giá cả hàng hóa ngày càng giảm, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng; năng lực và hiệu quả cạnh tranh của một số hàng hóa và doanh nghiệp kinh doanh nông sản ngày càng cao; nhiều mặt hàng được ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ đang phát triển rộng rãi. Các thông tin về nhu cầu hàng hoá, thị trường tiêu thụ đến với nông nghiệp một cách nhanh nhạy, kịp thời đã tạo lập được môi trường kinh doanh cạnh tranh sôi động. Nhờ đó, việc chống vi phạm cạnh tranh, thao túng thị trường và gian lận thương mại đối với hàng hoá nông sản thực phẩm đang được kiểm soát.
 
Những hạn chế: Chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của hàng hóa nông sản thực phẩm và doanh nghiệp nông nghiệp thấp là điều kiện để hàng hóa nông sản ngoại và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm lĩnh thị trường Việt Nam với tốc độ nhanh. Bên cạnh đó, thị phần của hàng nông sản thực phẩm Việt Nam chất lượng trung bình đang giảm nhanh trên thị trường tiêu thụ. Giá cả hàng hóa biến động thất thường, tạo nên mặt bằng giá mua bán bất hợp lý và các vụ việc vi phạm cạnh tranh, hạn chế cạnh tranh, phản cạnh tranh,... ngày càng tinh vi, phức tạp cũng là những góc khuất của thị trường hiện nay. Về mặt luật pháp, một số quy định của cơ quan nhà nước các cấp ở địa phương vẫn cản trở hoạt động kinh doanh, cạnh tranh hợp pháp của doanh nghiệp. Tình trạng gian lận trong sử dụng nguyên liệu nông, lâm, thủy, hải sản để chế biến thực phẩm tiêu dùng và hàng hóa xuất khẩu đang làm méo mó thị trường, giảm đáng kể hiệu quả cạnh tranh của hàng nông, lâm, thủy, hải sản và thực phẩm của Việt Nam.
 
Có thể liệt kê một số vụ việc và dấu hiệu vi phạm cạnh tranh trong kinh doanh sản phẩm và nguyên liệu nông sản trong những năm gần đây như:
 
- Việc quy định chỉ một số lượng nhất định các doanh nghiệp được mua lúa gạo với giá sàn chung tại một thời kỳ là tạo nên một nhóm doanh nghiệp thống lĩnh, độc quyền trong kinh doanh lúa gạo. Việc này dẫn đến nhiều khả năng lạm dụng vị thế thống lĩnh, độc quyền của nhóm doanh nghiệp và hiệp hội kinh doanh lúa gạo, gây hạn chế đáng kể sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác trong việc tiêu thụ lúa gạo cho sản xuất nông nghiệp. Nội dung này bị cấm tại Điều 6 và Điều 13 của Luật Cạnh tranh. Đây cũng không phải là quy định để bảo đảm an ninh lương thực hoặc giữ đầu mối xuất khẩu lúa gạo.
 
- Việc quy định khi xuất khẩu hàng nông sản thực phẩm phải có giấy kiểm dịch và chứng nhận chất lượng là không cần thiết. Những quy định này chỉ cần thiết khi nhập khẩu nông sản thực phẩm vào Việt Nam.
 
- Việc quy định giá trần bán sữa cho trẻ em dưới 6 tuổi cũng tạo nên một mặt bằng giá chung, gây hạn chế cạnh tranh đối với nhóm hàng thực phẩm này. Tương tự như với lúa gạo nêu trên.
 
- Một số doanh nghiệp FDI lớn có thị phần trên 30% như doanh nghiệp chăn nuôi, kinh doanh con giống, thức ăn chăn nuôi, thực phẩm đồ uống, thực phẩm chế biến, kinh doanh thuốc thú y, phân bón,… đưa ra các quy định lôi kéo khách hàng, chỉ bán hàng của doanh nghiệp lớn hoặc tăng giảm giá, khuyến mại, chi hoa hồng,… bất hợp lý. Đây là dấu hiệu lạm dụng vị thế thống lĩnh vi phạm cạnh tranh, bị cấm ở Điều 12 Luật Cạnh tranh.
 
- Một số cơ sở lớn trong khu vực tổ chức chế biến, giết mổ tập trung chỉ mua, bán hàng với một hoặc một nhóm các nhà trồng trọt, chăn nuôi hoặc khu vực nông nghiệp nhất định là dấu hiệu phân biệt đối xử, bị cấm tại Điều 13 Luật Cạnh tranh.
 
- Một số doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thống nhất quy định giá bán bảo hiểm, lãi suất cho vay, … trong nông, lâm, ngư nghiệp theo cùng một tỷ lệ phần trăm và phân chia địa bàn mỗi doanh nghiệp bán ở một địa bàn là dấu hiệu thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, bị cấm ở Điều 8 và 9 của Luật Cạnh tranh.
 
- Hành vi của một số doanh nghiệp FDI và siêu thị lớn tăng giá vượt quá 5% giá bán trứng gà, thịt lợn,… trong dịp Tết; tăng cao tỷ lệ chiết khấu đối với hàng nông, lâm, thủy, hải sản thời gian vừa qua là dấu hiệu hành vi bị cấm: tăng giá bất hợp lý.
 
- Một số hãng bán lẻ lớn đã bán thực phẩm nhập khẩu với giá rẻ hơn cả giá đã bao gồm thuế nhập khẩu là dấu hiệu hành vi bị cấm: bán hàng dưới giá thành toàn bộ.
 
- Một số siêu thị lớn không công khai mua bán thịt lợn, dưa hấu, hành tím giá thấp (thịt lợn 40.000đ) mà chỉ nhập của số ít nhà cung ứng bán với giá cao (thịt lợn 80.000đ) là dấu hiệu của hành vi bị cấm: chỉ mua hàng hóa từ một hoặc một số nguồn cung nhất định, hạn chế phân phối hàng hóa.
 
- Một số hãng bán lẻ, siêu thị lớn chỉ bán hàng nông sản thực phẩm ngoại nhập hoặc hàng của các doanh nghiệp FDI là dấu hiệu hành vi bị cấm: phân biệt đối xử với các doanh nghiệp trong điều kiện giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh.
 
- Nhiều công ty đa quốc gia, doanh nghiệp FDI có thương hiệu lớn đang tiến hành tập trung kinh tế mua bán, sáp nhập, liên doanh, hợp nhất trên thị trường kinh doanh và chế biến nông sản thực phẩm. Nó gây nên sự hạn chế cạnh tranh, có biểu hiện vi phạm tập trung kinh tế bị cấm, quy định trong Luật Cạnh tranh.
 
Một số giải pháp cấp bách bảo đảm cạnh tranh trong chế biến, lưu thông nhằm thúc đẩy tiêu thụ nông sản thực phẩm
 
Thứ nhất, tạo lập môi trường và khuyến khích cạnh tranh, chống vi phạm và hạn chế cạnh tranh. Chính phủ ban hành chính sách tạo sự sôi động trên thị trường mua bán, trao đổi hàng hoá, bảo hộ quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh hợp pháp đối với hàng hóa nông sản thực phẩm; có chính sách khuyến khích, động viên nhiều chủ thể, thương nhân tham gia kinh doanh, chế biến, tiêu thụ nông sản; ưu đãi các nhà đầu tư, xây dựng những doanh nghiệp lớn dự trữ, cung ứng hàng nông sản thực phẩm cho các kênh lưu thông, phân phối nông sản. Ngoài ra, Chính phủ cần ban hành các chính sách nhằm xoá bỏ các rào cản gia nhập thị trường kinh doanh nông sản thực phẩm trong nước; ký kết các hiệp định thuận lợi thương mại xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản thực phẩm ở ngoài nước; xây dựng các hàng rào kỹ thuật cao hơn đối với hàng nông sản nhập khẩu.
 
Mục tiêu quan trọng là giữ vững tốc độ phát triển sản xuất nông nghiệp cả về quy mô sản lượng, chất lượng sản phẩm, năng suất lao động để giảm giá thành sản phẩm, tạo thêm năng lực cạnh tranh, liên tục phát triển và chiếm lĩnh thị phần; hoàn thiện chính sách và phát triển cơ quan cạnh tranh để thúc đẩy hoạt động cạnh tranh, kiểm soát chặt chẽ; hạn chế cạnh tranh như: độc quyền, thống lĩnh, chi phối, thao túng, thâu tóm hoặc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
 
Thứ hai, hành động tích cực từ phía các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm. Doanh nghiệp nông nghiệp cần tổ chức các cơ sở bán hàng ngay tại nơi sản xuất, tại kho hàng để tạo nên sự cạnh tranh đối trọng giữa các kênh phân phối đầu nguồn và cuối nguồn trong tất cả các khâu thu mua, bảo quản, chế biến, tiêu thụ hàng hoá nông sản thực phẩm. Nông sản thực phẩm chủ yếu được sản xuất ở nông thôn, miền núi nhưng được tiêu dùng phần lớn ở thành thị và nước ngoài. Vì vậy phải tổ chức hợp lý khâu vận tải, kho tàng, bến bãi, nhà xưởng ở nông thôn, thành thị, bến cảng, cửa khẩu. Doanh nghiệp lập kế hoạch chế biến, bảo quản, dự trữ hợp lý trong khâu lưu thông phân phối; chủ động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật - công nghệ trong tổ chức vận động hàng hoá, giảm chi phí lưu thông; đầu tư phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng thương mại, nguồn vốn kinh doanh. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp cần bố trí nguồn vốn tự chủ và ưu đãi cho lĩnh vực lưu thông phân phối tương ứng với vai trò nhiệm vụ đang đảm nhiệm, có đủ nguồn lực để dự trữ, bảo quản, chế biến và xúc tiến tiêu thụ nông sản; áp dụng linh hoạt các phương thức kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh; củng cố, duy trì các kênh lưu thông phân phối truyền thống kết hợp với phát triển các loại hình hiện đại như: xây dựng các trung tâm, siêu thị, khu thương mại cửa khẩu, bến bãi trung chuyển mới; áp dụng và phổ biến các loại hình kinh doanh mới như thương mại điện tử, bán hàng giao sau, tham gia chuỗi giá trị,…; áp dụng các hình thức xuất khẩu giao hàng đến thị trường tiêu thụ, đến kho của ngoại quan, đến địa điểm do bên mua chỉ định,… Doanh nghiệp thực hiện xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản thực phẩm Việt Nam và quảng bá sản phẩm, khuyến khích, định hướng tiêu dùng, vận động người tiêu dùng sử dụng hàng nông sản thực phẩm Việt Nam thay thế hàng nhập khẩu.
 
Thứ ba, cần quyết liệt yêu cầu đối với các cơ quan cạnh tranh và cơ quan liên quan khẩn trương kiện toàn phát triển nâng cao năng lực để xây dựng trình Chính phủ các quy định, chính sách tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp. Các cơ quan, bộ, ngành chức năng cần củng cố bộ máy để bảo đảm thường xuyên kiểm soát, xử lý kịp thời các hành vi hạn chế cạnh tranh trên thị trường kinh doanh nông sản thực phẩm, bao gồm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; các hành vi lạm dụng vị thế thống lĩnh, vị thế độc quyền trên thị trường; các hành vi tập trung kinh tế, mua, bán, sáp nhập,… doanh nghiệp; các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra, các dấu hiệu vi phạm cạnh tranh cần được rà soát, điều tra kịp thời; xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật cạnh tranh trên thị trường nông sản thực phẩm. Các cơ quan chức năng cần cảnh báo kịp thời các doanh nghiệp có hoạt động vi phạm và hạn chế cạnh tranh của các tổ chức, cá nhân liên quan trên thị trường sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp./.
 
Theo TS. Trần Mai Hiến
Tạp chí CSĐT

GIÁ LỢN TĂNG TRỞ LẠI: ĐẮNG CAY Ở “THỦ PHỦ” NUÔI LỢN MIỀN BẮC

Nhóm thông tin: 
Về "thủ phủ" nuôi lợn lớn nhất miền Bắc vào dịp này, đến đâu cũng thấy người dân nói chuyện về lợn, hết giảm kịch sàn rồi bỗng chốc tăng chóng mặt.
 

 
Nhiều hộ gia đình nuôi lợn ở xã Ngọc Lũ, Bình Lục, Hà Nam lâm vào cảnh trắng tay khi giá lợn "xuyên thủng đáy" thời gian qua (Ảnh minh họa)
 
Lợn chính là "thủ phạm" làm náo loạn làng quê vốn yên bình, người dân chăm chỉ lao động, quanh năm "bán mặt cho đất, bán lưng cho giời". Trong vòng nửa năm qua, người dân xã Ngọc Lũ (huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) - "thủ phủ" nuôi lợn lớn nhất miền Bắc đã phải trải qua bao thăng trầm, cay đắng, có người mất cả cơ nghiệp cũng chỉ vì... lợn.
 
Không còn "sức" để tái đàn
Ông Vinh, một chủ hộ chăn nuôi lợn ở xóm Giáp Giáo, xã Ngọc Lũ bùi ngùi kể chuyện: Mấy tháng qua, giá lợn chạm kịch sàn, giá mỗi kg lợn hơi không bằng 1kg khoai lang khiến người chăn nuôi điêu đứng. Cầm cự mãi không được vì lợn đã tăng cân hết cỡ mà giá không lên, hàng ngày lại không có tiền mua cám, ông Vinh đành bán hết mấy đàn lợn dày công chăm sóc nửa năm trời. Số tiền bán lợn không đủ tiền giống, còn tiền thuốc men, thức ăn coi như mất trắng. Cơ nghiệp của ông cứ thế mà "đội nón ra đi".
 
"Nay giá lợn phục hồi, trong chuồng cũng chẳng còn con nào mà bán. Gia đình mới bắt ít lợn giống về nuôi, nay cũng chỉ mới 20 - 30 kg mỗi con, còn lâu mới xuất chuồng được. Mà chằng biết chừng đến lúc đó, giá lợn lại lao dốc không phanh như cách đây mấy tháng", ông Vinh lo lắng.
 
Cũng lâm vào cảnh mất nghiệp, chị Hiền  (ở xóm Thượng, xã Ngọc Lũ), chủ một trang trại lớn ở đây, cho hay nhà chị vừa qua mất trắng mấy tỷ đồng trong "tâm bão" khủng hoảng giá lợn. Trang trại của chị có vài ngàn con, gia đình lại có đại lý thức ăn gia súc nên chị cố gắng giữ đàn chờ giá lên. Nhưng đến cuối tháng 6 vừa qua, không thể cầm cự được nữa nên đành "bán tống bán tháo" để thu hồi vốn, trong lúc giá lợn giảm kịch sàn, chỉ 17.000 - 20.000 đồng/kg.
 
Chị Hiền chia sẻ: "Do tâm lý hoang mang, sau khi bán hết lợn, gia đình tôi định tạm nghỉ chăn nuôi một thời gian. Không ngờ đến nay giá lợn phục hồi nhanh quá, mà gia đình trong chuồng không còn lợn nữa. Tái đàn giờ cũng không còn vốn lớn vì đã thua lỗ quá nhiều, người dân mua thức ăn cũng nợ không biết bao giờ mới trả".
 
Gia đình anh T. (ở đội 4, xã Ngọc Lũ) cũng cho hay, vì giá lợn quá rẻ mà gia đình lại không còn tiền để mua cám cho lợn ăn nên đành bán hết, chấp nhận thua lỗ nặng. Trong những ngày vừa qua, anh T cũng "giải tán" hết cả mấy chục con lợn nái chăm sóc mấy năm nay để thu hồi vốn.
 
"Giờ giá lợn bất ngờ tăng vùn vụt thế này tôi tiếc lắm, nhưng cũng đành chịu. Chỉ biết nhìn chuồng không mà xót xa, muốn tái đàn nhưng cũng không còn tiền nữa", anh T. tâm sự.
 
Giá lợn sẽ đi về đâu?
 
Giá heo hơi chạm đáy hồi tháng 6, chỉ còn chưa đầy 20.000 đồng/kg, nay đã tăng gần gấp đôi, thậm chỉ có nơi giá lợn hơi đã chạm mốc 40.000 đồng/kg.
 
Điệp khúc tăng bất ngờ, giảm giá không phanh trên thị trường lợn hơi thời gian qua khiến người chăn nuôi lao đao
Thế nhưng, với mức tăng như hiện nay thì người chăn nuôi vẫn chưa có lãi.
Ông Q. (ở thôn đội 2), một trong những chủ trang trại nuôi lợn lớn nhất xã Ngọc Lũ (huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) cho biết, một tuần trở lại đây giá lợn hơi được thương lái mua gom tận chuồng đã nhanh chóng, hiện đang ở mức 30.000-35.000 đồng/kg. Mức này đã cao hơn 12.000 - 15.000 đồng/kg so với thời điểm giá lợn giảm thê thảm trong tâm bão khủng hoảng thừa cách đây 3 tháng.
 
"Giá đang nhích dần từng ngày, hôm đầu tuần là 25.000 đồng/kg, thì nay đã tăng lên 35.000 đồng/kg. Nhưng với mức giá này, trừ tiền giống, thức ăn, thuốc men... thì người nuôi vẫn chưa có lãi, trừ khi gia đình không phải đi mua giống mà lợn nái của nhà đẻ ra", ông Q. phân tích.
 
Theo chủ trang trại này, giá phải tăng thêm 3.000 - 5.000 đồng/kg, vượt mức 40.000 đồng/kg thì người nuôi mới có lãi.
 
Trước thực tế này, ông Đỗ Thắng Hải - Thứ trưởng Bộ Công Thương đánh giá, đây là tín hiệu tốt cho người chăn nuôi lợn cả nước sau hơn 3 tháng chật vật đối mặt với đợt giảm giá sâu.
 
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng, người chăn nuôi cũng hết sức thận trọng về diễn biến tăng giá mạnh trong vòng vài ngày, cần phải xem giá có ổn định, bền vững hay không. Hiện Trung Quốc nhập thịt lợn từ Việt Nam chủ yếu qua đường tiểu ngạch, chứ không phải chính ngạch. Nếu chỉ trông chờ vào thị trường này sẽ tiềm ẩn rủi ro.
 
Cảnh báo tương tự cũng được lãnh đạo Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn) đưa ra. Chia sẻ trên báo Nông nghiệp Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Dương, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, lợn tăng giá trở lại là kết quả của nỗ lực "giải cứu" thịt lợn từ các Bộ, ngành, người dân.
 
"Chúng ta đừng vội mừng, không vội tăng đàn, tăng quy mô chăn nuôi, phải hết sức bình tĩnh", ông Dương đánh giá.
 
Lãnh đạo cơ quan quản lý ngành chăn nuôi cũng phủ nhận thông tin, do thương lái Trung Quốc quay trở lại mua gom khiến giá lợn hơi tăng trở lại. Nguyên nhân chính của việc phục hồi giá lợn hơi hiện nay là do thời gian qua, nhiều giải pháp đồng bộ đã triển khai tích cực, trong đó đặc biệt là giải pháp kiểm soát mạnh khâu tăng đàn.
 
Người chăn nuôi lúc này cần tập trung làm tốt một số khâu như: Tăng cường khâu kiểm soát dịch bệnh, nhất là sử dụng đầy đủ các loại vắc-xin, tiêu độc, khử trùng chuồng trại.... Hiện sức khỏe đàn lợn đã sút kém và mùa mưa bão đang diễn biến phức tạp khi ẩm độ lớn, mầm bệnh nhiều, kết hợp khối lượng vật nuôi trung chuyển lớn vào các tháng cuối năm sẽ tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ bùng phát dịch bệnh so với mọi năm”, ông Nguyễn Xuân Dương khuyến cáo./.
 
Theo Trần Ngọc/VOV.VN

TRÁI THANH LONG, TÔM TƯƠI NGUYÊN CON SẮP VÀO AUSTRALIA

Nhóm thông tin: 
Tôm tươi nguyên con và trái thanh long sẽ là những mặt hàng nông - thủy sản tiếp theo được xuất khẩu trực tiếp sang Australia trong năm nay.
 
 

Quả thanh long tươi sẽ được xuất khẩu sang Australia trong năm 2017
Tại cuộc hội đàm với Phó thủ tướng Vương Đình Huệ ngày 25/7, quyền Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nông nghiệp & Tài nguyên nước Australia - ông Barnaby Joyce, khẳng định Australia sẽ hợp tác chặt chẽ với các đối tác Việt Nam để hỗ trợ quả thanh long, tôm nguyên liệu tươi (không qua chế biến) được nhập khẩu vào nước này ngay trong năm 2017.
 
 
Nếu được cấp phép, Việt Nam sẽ là nước đầu tiên và duy nhất cho tới thời điểm hiện nay được cấp phép nhập khẩu thanh long vào thị trường Australia. Thanh long là mặt hàng trái cây xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu năm 2016 đạt 895,7 triệu USD, chiếm tỷ trọng 50,3% trong xuất khẩu trái cây tươi và 36,1% trong tổng xuất khẩu rau quả của Việt Nam.
Trái thanh long Việt hiện đã được xuất sang khoảng 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngoài các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hà Lan và Đài Loan, thanh long còn được xuất sang các thị trường khó tính như Mỹ, Italy, Nhật Bản, Singapore và đang thâm nhập một số thị trường mới như Ấn Độ, New Zealand, Australia và Chi Lê.
 
Trước quả thanh long, 2 loại trái cây tươi là vải thiều, xoài cũng đã thâm nhập được vào thị trường Australia sau thời gian dài nỗ lực đàm phán, lần lượt là 12 năm và 7 năm.
 
Ngoài thanh long, phía Australia cũng bày tỏ quan tâm hỗ trợ Việt Nam xuất khẩu các loại trái cây nhiệt đới khác vào nước này như nhãn, vú sữa, chôm chôm, chanh dây... thời gian tới.
 
Còn với mặt hàng tôm, đây cũng là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Australia, nhưng tôm nguyên liệu tươi lại chưa được phía bạn cấp phép nhập khẩu. Thứ trưởng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Trần Thanh Nam đánh giá, việc Australia khẳng định nhập tôm tươi nguyên con sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh nghiệp nuôi, chế biến tôm xuất khẩu và nông dân Việt Nam. Xuất khẩu tôm sang thị trường Australia đạt 114,6 triệu USD năm 2016.
 
Tại cuộc gặp, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ và quyền Thủ tướng Australia khẳng định quyết tâm nâng cao kim ngạch thương mại hai chiều, hiện ở mức hơn 5 tỷ USD một năm; từng bước dỡ bỏ rào cản thương mại đối với các sản phẩm nông sản, thủy sản; thúc đẩy liên doanh, liên hết, hình thành chuỗi sản xuất - cung ứng, tạo ra giá trị gia tăng cao đối với các sản phẩm nông nghiệp.../.
 
Theo Anh Minh/VnExpress