Thị trường

THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN VN: GIẢI PHÁP NÀO ỔN ĐỊNH ĐẦU RA?

Nhóm thông tin: 
Đặt vấn đề
Là một nước có trên 70% dân số sống về nghề nông, chúng ta đã thấy rõ rằng nếu ta không tạo được thị trường trong hoặc ngoài nước - nhất là thị trường quốc nội - nông, ngư dân không thể làm giàu được và do đó nông nghiệp nước nhà không thể tiến xa hơn nữa. Các nước chung quanh ta đã thấy vấn đề trước ta từ lâu, và đang tiếp tục cải tiến phẩm chất và sản lượng nông thuỷ sản của họ. Thậm chí một số nước không làm nông nghiệp, như Singapore hoặc Hồng Kông, đã nhập nguyên liệu nông thủy sản của nước khác về chế biến lại theo tiêu chuẩn cao để tái xuất. Như vậy một quốc gia sản xuất nông thủy sản với khối lượng lớn như Việt Nam phải làm gì để có thị trường ổn định cho nông dân được nhờ?  Một chiến lược chắc thắng nào cũng phải bắt đầu từ nguyên lý cơ bản "biết người biết ta". Chúng tôi tin rằng đến giờ này các cấp lãnh đạo đều đã thấy hiện trạng phân phối, xuất khẩu nông sản của nước ta còn quá kém, chưa làm cho nông dân giàu, do đó Đảng đã có NQ26 từ Hội nghị TW7 (Khóa X) hy vọng nông dân sẽ được làm giàu, nông thôn khang trang trong một nền nông nghiệp hiện đại. Mà muốn làm được cho thành công thực sự thì cần phải thực hiện trước tiên một số nghiên cứu ứng dụng những phương pháp/kinh nghiệm thành công của những quốc gia đi trước ta. Trong bài này tôi xin nêu một kinh nghiệm rất thành công của Malaysia và Nhật Bản mà chúng ta có thể vận dụng trong hoàn cảnh Việt Nam.
Phát triển thị trường
Trong thời buổi cạnh tranh ngày càng gay gắt, người ta càng thấy vai trò của việc phát triển thị trường càng trở nên bức thiết.  Nông dân chúng ta có thể trồng hầu hết mọi nông sản nhưng không thể tiêu thụ hết các sản phẩm vì không có thị trường. Một nông dân cá thể chỉ có thể sản xuất theo kiểu tự cấp thì được, nhưng muốn sản xuất hàng hoá thì phải kết hợp nhau lại để có thể sản xuất khối lượng lớn, chất lượng cao, cung cấp đúng thời điểm, và giá phải cạnh tranh. Việc xác định mặt hàng nào cần sản xuất phải được điều nghiên thị trường một cách khoa học và chu đáo, không thể dựa vào mắt thấy láng giềng bán được rồi mình cũng bắt chước sản xuất theo. Đối với một nước kém phát triển như ta, nông dân còn nghèo, phần lớn các công ty tư nhân chưa phát triển, và phần lớn các công ty quốc doanh lại kém năng động, Nhà nước cần phải có chính sách đồng bộ để tạo thị trường, kể cả việc các nguyên thủ quốc gia đi công du các nước bạn cũng là để mở thị trường như chính sách đồng bộ của Chính phủ Malaysia trong chiến lược đưa cây cọ dầu thành mũi nhọn xuất khẩu.
Một cuộc gặp gỡ tuy đã 43 năm rồi mà vẫn còn một dấu ấn rất sâu trong tâm trí tôi đó là lần tôi tham gia đoàn thanh niên Á châu sang thăm nước Malaysia năm 1968 và vinh dự được Thủ tướng Tungku Abdul Raman tiếp. Thủ tướng Tungku cho chúng tôi biết trong vòng 20 năm sau Malaysia sẽ là nước chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu dầu cọ. Nhóm thanh niên chúng tôi rất ngạc nhiên với sự quả quyết đó, nhất là khi chúng tôi không hiểu rõ cây cọ dầu là thứ gì mà được chú ý hơn cây lúa như vậy. Qua buổi nói chuyện, chúng tôi thấy hiện ra cả một chiến thuật mà vị Chỉ huy trưởng Tungku đã phác họa lên:
Tại sao chọn cây cọ dầu làm cây chiến lược? Đó là nguyên liệu cần thiết cho bữa ăn hằng ngày của người nào muốn giữ cho chất cholesterol trong máu không tăng, chắc chắn mọi người - nhất là những người giàu - sẽ là khách hàng thường xuyên. Thứ nữa là cây cọ dầu rất thích hợp điều kiện ẩm ướt quanh năm, mà Malaysia nằm gần ngay xích đạo nên lượng mưa phân bố đều suốt 12 tháng trong năm thật là lý tưởng.
Làm sao cho dân hưởng ứng kế hoạch trồng cọ dầu?
- Trước tiên Chính phủ đầu tư cho ngành nông nghiệp nghiên cứu giống cọ dầu tốt nhất, và nghiên cứu phương pháp canh tác thích hợp nhất cho các vùng đất cọ dầu khác nhau của Malaysia. Những kỹ thuật này được đưa cho ngành khuyến nông để sẵn sàng hướng dẫn cho nông dân.
- Đồng thời Chính phủ công bố chính sách ưu đãi về thuế: miễn thuế 10 năm đầu cho những ai đầu tư trồng cọ dầu trên đất mới khai phá, và miễn 5 năm đầu cho những trang trại cao su già cỗi chuyển sang trồng cọ dầu.
 
- Đối với những người dân khai khẩn đất mới để trồng cọ dầu Nhà nước cho vay ưu đãi để họ hăng hái bỏ công sức lập trang trại cọ dầu.
 
- Đồng thời Nhà nước lập dự án vay vốn Ngân hàng Thế giới (NHTG) để xây dựng những nông trường cọ dầu (dân Malaysia quen gọi FELDA). Vốn NHTG được dùng vào việc kiến thiết mặt bằng, phân lô đất, xây nhà ở cho nông trường viên, xây đường xá giao thông trong nông trường, xây chợ, trạm xá, nhà trẻ, trường học, bưu điện, và nhà máy sơ chế dầu cọ. Người dân được chọn vào FELDA ký nhận nợ để lãnh một cái nhà ở, một lô đất, giống cây và phân bón. Nợ này phải trả trong vòng 20 năm theo qui định của NHTG bắt đầu khi cây cọ có trái và chủ hợp đồng bắt đầu giao cọ dầu cho nhà máy sơ chế.
Làm sao tiêu thụ cọ dầu?
- Chính phủ lập ra Viện Nghiên cứu chế biến các loại thực phẩm từ dầu cọ, và khuyến khích xây dựng các nhà máy tinh chế dầu cọ xuất khẩu.
- Chính phủ đồng thời cũng lập thêm Cục xúc tiến tiêu thụ dầu cọ đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu các mặt hàng từ dầu cọ. Nhờ vậy mà khách hàng khắp nơi đã đặt mua dầu cọ.
Tôi có nhiều dịp đi Malaysia sau đó và đã thăm nhiều vùng trồng dầu cọ trong các FELDA và trang trại của dân, và được biết rằng dân hợp đồng trong FELDA thường đã trả hết nợ sau 15 năm và họ làm chủ căn nhà và lô đất đã hợp đồng. Và dĩ nhiên ngày nay Malaysia thật sự là bá chủ thế giới về xuất khẩu cọ dầu.
Như thế, các điều kiện do Nhà nước tạo ra như trên đã đóng vai trò quyết định cho sự thành công của Malaysia trong lãnh vực phát triển cọ dầu.
Thông Tin Thị trường
Nông dân và các nhà sản xuất của chúng ta thường không nắm đủ các thông tin thị trường, vì nhiều lý do khách quan và một lý do chủ quan dễ nhận ra nhất: ít chịu bỏ công và bỏ của để điều nghiên thị trường, mà chỉ bắt chước láng giềng là chính (trồng dừa, cà phê, tiêu, điều, bạch đàn,  cây ăn trái, nấm rơm...; nuôi tôm, cua...).  Và trồng một thời gian rồi chặt. Những nhà sản xuất thành công thường để nhiều công sức để nghiên cứu thị hiếu của khách hàng (để biết chất lượng cỡ nào, bao bì đóng gói thế nào, v.v.) để tổ chức sản xuất theo thị trường đó.
Các nhà sản xuất cần có tai mắt tại các vùng trọng điểm tiêu thụ hàng và vùng sản xuất hàng để nắm càng chính xác càng tốt khối lượng mặt hàng đang và sắp sản xuất, thời điểm thu hoạch, chiều hướng giá cả lên xuống... để liệu định sản xuất của mình. Nếu không nắm được thì rất dễ bị hố.
Về lâu dài, Nhà nước cần có dự báo chiến lược sản xuất các sản phẩm nào để có biện pháp đồng bộ từ tổ chức nông dân sản xuất đến việc tạo thị trường. Nhà nước không nên để mặc cho dân tự phát sản xuất, dẫn đến sự ứ đọng hàng hoá như hiện nay.
Nông dân các nước giàu đã thấy rõ phải gia nhập hợp tác xã hoặc nông hội mới làm ăn hiệu quả được. Ở Hà Lan, một quốc gia châu Âu có diện tích chỉ tương đương với diện tích đồng bằng sông Cửu Long, hầu hết nông dân đều có cổ phần làm chủ một hệ thống hợp tác xã nông nghiệp giàu nhất châu Âu, đầu tư xây dựng nhiều công ty xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, và hợp tác xã của họ cũng làm cả dịch vụ ngân hàng để tài trợ cho các đầu tư của Hà Lan ra nước ngoài. Hoặc ở Nhật Bản, tầng lớp nông dân cũng rất giàu, họ là chủ nhân của hàng nghìn công ty xí nghiệp lớn nhỏ sản xuất và chế biến hàng hoá bán khắp nước Nhật và xuất khẩu. Họ mướn hàng trăm ngàn nhân viên tốt nghiệp đại học các ngành để làm việc cho họ trong các văn phòng giao dịch, ngân hàng tín dụng, công ty xí nghiệp chế biến, cung cấp nông sản, xuất khẩu, v.v.   Người tốt nghiệp các trường đại học, hoặc trường chuyên nghiệp, có nơi thu dụng, xã hội nông thôn ngày càng văn minh hơn không khác gì thành thị.
Đã đến lúc nông dân chúng ta phải họp nhau lại để chuẩn bị đối đầu với cạnh tranh quốc tế, không thể tiếp tục cuộc đời cá thể lạc hậu như ngàn năm Ông Bà để lại. Vấn đề cần thiết ở đây là Nhà nước phải có một khung chính sách đồng bộ để tạo điều kiện cho nông dân tự giác tham gia làm chủ các HTX hoặc Nông hội. 
Sau khi Nhật thua trận vì hai quả bom nguyên tử hủy hại nhiều thành phố Nhật vào năm 1945, nông dân Nhật trở nên rất nghèo, Chính phủ Nhật tham khảo các mô  hình phát triển của các nước áp dụng trong phát triển nông thôn và đến năm 1948 mới quyết định chọn mô hình Nông hội phỏng theo kiểu Đan Mạch để áp dụng cho toàn nước Nhật. Qua nhiều điều chỉnh cho phù hợp thêm với xã hội Nhật, Nông hội Nhật hiện nay là tổ chức kinh tế mạnh nhất và giàu nhất của nông dân nhờ chính sách nâng đỡ của Nhà nước. Nguyên tắc cơ bản nhất của Nông hội, và của các HTX tại các nước tiến bộ, làm chủ thật sự của nông dân; Nhà nước chỉ nhúng tay vào bằng các biện pháp và chính sách.  Một nông dân chỉ làm chủ Nông hội (NH) khi nào có số vốn góp vào quỹ của Nông hội và được quyền thật sự chọn người quản lý và thực hiện các hoạt động tín dụng, kỹ thuật, và kinh doanh cho mình. Thí dụ, để cho từng nông dân góp vốn vào quỹ NH để NH có thể cho nông dân vay lại, Nhà nước Nhật bảo đảm lãi suất vốn bỏ vào đó tương đương với lãi suất của ngân hàng thương mại. Đồng thời Nhà nước nâng đỡ nông dân bằng cách ấn định lãi suất cố định đối với vốn nông dân vay. Nếu lãi suất ngân hàng thương mại tăng thì Nhà nước bù vào chênh lệch lãi suất cho Nông hội. Vì vậy mọi người nông dân Nhật đều bỏ tiền vào quỹ tín dụng của Nông hội, không dại gì gửi tiền vào ngân hàng thương mại.
Nhưng trong giai đoạn đầu nông dân quá nghèo chưa thể có tiền gửi vào quỹ Nông hội, Nhà nước ứng trước để vào quỹ của Nông hội để các nông dân vay để sản xuất theo hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ khuyến nông, vài mùa sau là họ có dư vốn để góp vào quỹ Nông hội. Nhờ chính sách nâng đỡ của Nhà nước (chủ yếu qua chênh lệch lãi suất) mà nông dân ngày càng đóng góp cổ phần vào NH. Nông hội từng huyện phát triển lo cho mọi mặt sản xuất của nông dân. Ngày nay họ có những cửa hàng vật tư, những công ty xí nghiệp chế biến nông sản bảo đảm tối đa chất lượng và khối lượng sản phẩm đúng yêu cầu thời gian đặt hàng của các khách hàng (gồm hệ thống các siêu thị tại khắp nước Nhật và nước ngoài). Xí nghiệp cơ bản quan trọng nhất của Nông hội đối với tất cả nông dân Nhật là xí  nghiệp chế biến gạo (country grain elevators). Sau khi gặt lúa nông dân giao toàn bộ số lúa đó cho xí nghiệp chở về nhà máy sấy khô ngay để giữ phẩm chất gạo, xay xát và bảo quản. Chủ lúa yên tâm là tiền lúa của mình đã được gởi vào ngân hàng của Nông hội.  Nông hội mua vào 2,6 USD/kg ; chế biến đóng gói bán lẻ 5-6USD/kg gạo. Tiền lời được chia trở lại cho các hội viên. Chính phủ bảo vệ mậu dịch cho nông dân trồng lúa có lợi. (ở đây tác giả muốn nhấn mạnh là chỉ mô tả nguyên xi cách làm của Nhật Bản mà không có ý muốn đề nghị chính sách bù lỗ tương tự cho Việt Nam do hoàn cảnh ngân sách eo hẹp của xứ nhà). Các nông sản khác cũng được xử l&
yacute; theo qui trình tương tự. Nói cách khác, Nông hội lo cho nông dân sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với mức lời tối đa, giảm bớt hầu hết các trung gian. 
Nước ta có điều kiện làm cho nông dân giàu như Nhật không?
Căn cứ vào những thành tích đạt được mấy năm qua, tôi nghĩ nếu chúng ta muốn, thì ta dư sức làm được. Những năm vừa qua, nông dân thuộc Nông trường Sông Hậu và Nông trường Cờ Đỏ của tỉnh Cần Thơ rất phấn khởi sau khi thu hoạch lúa. Họ không còn lo bán lúa có được hay không, vì đã có nông trường tiêu thụ toàn bộ sản phẩm.
Một số chính sách khác
Khả năng xuất khẩu nông thủy sản của chúng ta càng lớn hơn nữa nếu có các công ty nước ngoài đầu tư sản xuất trên đất Việt Nam, đầu tư bằng vốn nước ngoài 100% hoặc hợp tác với công ty trong nước. Đã có nhiều công ty đầu tư vào rồi, nhưng với cung cách làm ăn của chúng ta, từ năm 1998 đến 2000, liên tiếp các công ty phải rút lui, doanh số đầu tư nước ngoài ngày càng giảm. Những nguyên nhân chính khiến họ ra đi vì luật pháp về hợp đồng của chúng ta còn lỏng lẻo, luật đầu tư còn nhiều điểm khắt khe, đe dọa của quốc doanh luôn luôn còn đó, khiến họ thấy đầu tư vào Việt Nam, một nước tuy có điều kiện an ninh lý tưởng, nhưng có rất nhiều rủi ro.  Nhìn ra thế giới, các nước Thái Lan, Malaysia, Philippines khôi phục lại rất nhanh sau đợt khủng hoảng kinh tế vừa qua nhờ họ tái thu hút đầu tư nước ngoài. Thậm chí như nước Nhật đã giàu như thế mà lượng tiền nước ngoài đầu tư vào Nhật cũng vẫn cứ tăng đều. Các nhà làm chính sách của chúng ta cần nhanh chóng thay đổi.
Đề xuất nghiên cứu ứng dụng mô hình kinh doanh NN theo chuỗi giá trị
Một hướng đi mới để thực hiện NQ26 là, một số nhà đầu tư khác đang xây dựng Công ty Cổ phần Nông nghiệp (CPNN) Đồng bằng sông Cửu Long trụ sở đặt tại An Giang. Hạt nhân của công ty là cụm công nghiệp sẽ được xây dựng tại huyện Phú Tân gồm hệ thống kho chứa lúa gạo, máy sấy lúa, nhà máy xay xát, đánh bóng gạo, đóng gói theo đơn đặt hàng, máy phát điện bằng gas trấu, nhà máy thức ăn gia súc. Bộ phận nông nghiệp của công ty sẽ tổ chức nông dân sản xuất thành các hợp tác xã, được huấn luyện tay nghề trồng lúa theo tiêu chuẩn VietGAP, được ứng trước vốn chuẩn bị đất, hạt giống, phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh. Lúa ướt mới gặt được đưa về cụm nhà máy để chế biến theo chuỗi giá trị gia tăng. Xã viên không lo bị rớt giá nữa. Tiến tới, các xã viên sẽ được quyền mua cổ phần của công ty (dùng lúa đổi lấy cổ phiếu) để cuối năm được chia lời.
Tuy nhiên mô hình trên đây chưa được nghiên cứu một cách khoa học để có thể kết luận một cách chắc chắn cho Đảng và Nhà nước có thể có cơ sở khoa học mà xây dựng chính sách mới cho nông nghiệp. Chúng ta cần nghiên cứu các mô hình ứng dụng này theo các nội dung sau đây:
Nòng cốt của Công ty CPNN là cụm nhà máy chế biến tổng hợp kể cả sử dụng các phụ phẩm từ hạt lúa. Hình thức đầu tư thế nào (Malaysia vay tiền của NHTG, ta thì Nhà nước có giúp vay vốn không? Hay cứ để mặc cho các tư nhân hùn vốn vào cổ phần?);
Nông dân mua cổ phần thế nào? (mỗi kỳ thu hoạch sản phẩm sẽ trích một phần sản phẩm để đổi lấy cổ phiếu được không?);
Chính sách bảo đảm giá nông sản cho các cổ đông nông dân: Nông dân bán lúa/nông sản nguyên liệu cho nhà máy vào thời điểm giá nông sản là xxxx đồng. 10 ngày sau công ty thanh toán tiền cho nông dân mà giá thị trường là xxxx-200 đồng, thì công ty vẫn trả cho cổ đông nông dân xxxx đồng; ngược lại nếu giá thị trường là xxxx+500 đồng, thì công ty vẫn trả cho nông dân xxxx+500 đồng. Nói cách khác, cổ đông nông dân không bị mất mát như lúc làm ăn với thương lái. Trường hợp công ty lỗ 200 đồng nói trên, xin Nhà nước có chính sách bù lỗ cho nông dân, như các cường quốc Mỹ, EU, Nhật Bản đang làm hằng năm cho nông dân họ.
Chia lời cuối năm của công ty cổ phần: ngoài chia lãi cổ tức, có nên thưởng theo tỷ lệ cho nông dân bán lúa cho công ty?
So sánh thu nhập của cổ đông nông dân và nông dân không tham gia công ty.
KẾT LUẬN
Việt Nam quyết tâm đuổi theo hướng của các con rồng châu Á. Nhưng mọi người chúng ta đều biết ta càng đuổi, họ càng bay cao, chớ không ai dừng lại chờ ta. Hàng nông thủy sản Việt Nam trong thời gian tới có thắng được hàng nước khác hay không còn do ta có sản xuất theo chất lượng mà khách hàng mong muốn, với giá thành thấp nhất hay không. Vì thế việc sống còn của nông thủy sản Việt Nam chính là “chất lượng và giá rẻ”. Phải có hợp tác giữa lực lượng sản xuất nguyên liệu và các doanh nghiệp đầu ra. Từng người nông dân và ngư dân phải có ý thức về “chất lượng và giá rẻ” trong khi sản xuất tại đồng ruộng, đồn điền, rẫy báy; hay trên thuyền đánh cá, vuông tôm, v.v. theo đúng tiêu chuẩn VietGAP hoặc GlobalGAP theo hướng dẫn của chuyên môn. Các công ty, xí nghiệp sản xuất/chế biến hàng xuất khẩu càng cần phải quan tâm đầu tư bảo quản chất lượng của sản phẩm ngay từ lúc nông, ngư dân thu hoạch, và tổ chức sản xuất sao cho giá thành thấp nhất. Trên hết Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý nêu trên đây để kích thích nông dân và các công ty, xí nghiệp hăng say sản xuất, bảo đảm cho sự lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam.
 
(Theo GS Võ Tòng Xuân - Tia Sáng)Đặt vấn đề
Là một nước có trên 70% dân số sống về nghề nông, chúng ta đã thấy rõ rằng nếu ta không tạo được thị trường trong hoặc ngoài nước - nhất là thị trường quốc nội - nông, ngư dân không thể làm giàu được và do đó nông nghiệp nước nhà không thể tiến xa hơn nữa. Các nước chung quanh ta đã thấy vấn đề trước ta từ lâu, và đang tiếp tục cải tiến phẩm chất và sản lượng nông thuỷ sản của họ. Thậm chí một số nước không làm nông nghiệp, như Singapore hoặc Hồng Kông, đã nhập nguyên liệu nông thủy sản của nước khác về chế biến lại theo tiêu chuẩn cao để tái xuất. Như vậy một quốc gia sản xuất nông thủy sản với khối lượng lớn như Việt Nam phải làm gì để có thị trường ổn định cho nông dân được nhờ?  Một chiến lược chắc thắng nào cũng phải bắt đầu từ nguyên lý cơ bản "biết người biết ta". Chúng tôi tin rằng đến giờ này các cấp lãnh đạo đều đã thấy hiện trạng phân phối, xuất khẩu nông sản của nước ta còn quá kém, chưa làm cho nông dân giàu, do đó Đảng đã có NQ26 từ Hội nghị TW7 (Khóa X) hy vọng nông dân sẽ được làm giàu, nông thôn khang trang trong một nền nông nghiệp hiện đại. Mà muốn làm được cho thành công thực sự thì cần phải thực hiện trước tiên một số nghiên cứu ứng dụng những phương pháp/kinh nghiệm thành công của những quốc gia đi trước ta. Trong bài này tôi xin nêu một kinh nghiệm rất thành công của Malaysia và Nhật Bản mà chúng ta có thể vận dụng trong hoàn cảnh Việt Nam.
Phát triển thị trường
Trong thời buổi cạnh tranh ngày càng gay gắt, người ta càng thấy vai trò của việc phát triển thị trường càng trở nên bức thiết.  Nông dân chúng ta có thể trồng hầu hết mọi nông sản nhưng không thể tiêu thụ hết các sản phẩm vì không có thị trường. Một nông dân cá thể chỉ có thể sản xuất theo kiểu tự cấp thì được, nhưng muốn sản xuất hàng hoá thì phải kết hợp nhau lại để có thể sản xuất khối lượng lớn, chất lượng cao, cung cấp đúng thời điểm, và giá phải cạnh tranh. Việc xác định mặt hàng nào cần sản xuất phải được điều nghiên thị trường một cách khoa học và chu đáo, không thể dựa vào mắt thấy láng giềng bán được rồi mình cũng bắt chước sản xuất theo. Đối với một nước kém phát triển như ta, nông dân còn nghèo, phần lớn các công ty tư nhân chưa phát triển, và phần lớn các công ty quốc doanh lại kém năng động, Nhà nước cần phải có chính sách đồng bộ để tạo thị trường, kể cả việc các nguyên thủ quốc gia đi công du các nước bạn cũng là để mở thị trường như chính sách đồng bộ của Chính phủ Malaysia trong chiến lược đưa cây cọ dầu thành mũi nhọn xuất khẩu.
Một cuộc gặp gỡ tuy đã 43 năm rồi mà vẫn còn một dấu ấn rất sâu trong tâm trí tôi đó là lần tôi tham gia đoàn thanh niên Á châu sang thăm nước Malaysia năm 1968 và vinh dự được Thủ tướng Tungku Abdul Raman tiếp. Thủ tướng Tungku cho chúng tôi biết trong vòng 20 năm sau Malaysia sẽ là nước chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu dầu cọ. Nhóm thanh niên chúng tôi rất ngạc nhiên với sự quả quyết đó, nhất là khi chúng tôi không hiểu rõ cây cọ dầu là thứ gì mà được chú ý hơn cây lúa như vậy. Qua buổi nói chuyện, chúng tôi thấy hiện ra cả một chiến thuật mà vị Chỉ huy trưởng Tungku đã phác họa lên:
Tại sao chọn cây cọ dầu làm cây chiến lược? Đó là nguyên liệu cần thiết cho bữa ăn hằng ngày của người nào muốn giữ cho chất cholesterol trong máu không tăng, chắc chắn mọi người - nhất là những người giàu - sẽ là khách hàng thường xuyên. Thứ nữa là cây cọ dầu rất thích hợp điều kiện ẩm ướt quanh năm, mà Malaysia nằm gần ngay xích đạo nên lượng mưa phân bố đều suốt 12 tháng trong năm thật là lý tưởng.
Làm sao cho dân hưởng ứng kế hoạch trồng cọ dầu?
- Trước tiên Chính phủ đầu tư cho ngành nông nghiệp nghiên cứu giống cọ dầu tốt nhất, và nghiên cứu phương pháp canh tác thích hợp nhất cho các vùng đất cọ dầu khác nhau của Malaysia. Những kỹ thuật này được đưa cho ngành khuyến nông để sẵn sàng hướng dẫn cho nông dân.
- Đồng thời Chính phủ công bố chính sách ưu đãi về thuế: miễn thuế 10 năm đầu cho những ai đầu tư trồng cọ dầu trên đất mới khai phá, và miễn 5 năm đầu cho những trang trại cao su già cỗi chuyển sang trồng cọ dầu.
 
- Đối với những người dân khai khẩn đất mới để trồng cọ dầu Nhà nước cho vay ưu đãi để họ hăng hái bỏ công sức lập trang trại cọ dầu.
 
- Đồng thời Nhà nước lập dự án vay vốn Ngân hàng Thế giới (NHTG) để xây dựng những nông trường cọ dầu (dân Malaysia quen gọi FELDA). Vốn NHTG được dùng vào việc kiến thiết mặt bằng, phân lô đất, xây nhà ở cho nông trường viên, xây đường xá giao thông trong nông trường, xây chợ, trạm xá, nhà trẻ, trường học, bưu điện, và nhà máy sơ chế dầu cọ. Người dân được chọn vào FELDA ký nhận nợ để lãnh một cái nhà ở, một lô đất, giống cây và phân bón. Nợ này phải trả trong vòng 20 năm theo qui định của NHTG bắt đầu khi cây cọ có trái và chủ hợp đồng bắt đầu giao cọ dầu cho nhà máy sơ chế.
Làm sao tiêu thụ cọ dầu?
- Chính phủ lập ra Viện Nghiên cứu chế biến các loại thực phẩm từ dầu cọ, và khuyến khích xây dựng các nhà máy tinh chế dầu cọ xuất khẩu.
- Chính phủ đồng thời cũng lập thêm Cục xúc tiến tiêu thụ dầu cọ đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu các mặt hàng từ dầu cọ. Nhờ vậy mà khách hàng khắp nơi đã đặt mua dầu cọ.
Tôi có nhiều dịp đi Malaysia sau đó và đã thăm nhiều vùng trồng dầu cọ trong các FELDA và trang trại của dân, và được biết rằng dân hợp đồng trong FELDA thường đã trả hết nợ sau 15 năm và họ làm chủ căn nhà và lô đất đã hợp đồng. Và dĩ nhiên ngày nay Malaysia thật sự là bá chủ thế giới về xuất khẩu cọ dầu.
Như thế, các điều kiện do Nhà nước tạo ra như trên đã đóng vai trò quyết định cho sự thành công của Malaysia trong lãnh vực phát triển cọ dầu.
Thông Tin Thị trường
Nông dân và các nhà sản xuất của chúng ta thường không nắm đủ các thông tin thị trường, vì nhiều lý do khách quan và một
lý do chủ quan dễ nhận ra nhấ

TỪ 30/3 NGƯỜI THU NHẬP THẤP ĐƯỢC TRỢ CẤP KHÓ KHĂN

Nhóm thông tin: 
Ngày 30/3, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 471/QĐ-TTg về trợ cấp khó khăn đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người hưởng lương hưu có mức lương thấp, người hưởng trợ cấp ưu đãi người có công và hộ nghèo đời sống khó khăn.
 
Theo đó, từ 30/3, những đối tượng trên sẽ được Nhà nước trợ cấp khó khăn theo hai mức 100.000 và 250.000 đồng/người. Việc hỗ trợ này được thực hiện làm hai lần trong quý II năm nay.
 
Nguồn kinh phí thực hiện trợ cấp khó khăn đối với các đối tượng hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách Nhà nước, hộ nghèo quy định tại quyết định này được bảo đảm từ ngân sách Nhà nước và nguồn thu hợp pháp của cơ quan, đơn vị.
 
Các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện trợ cấp khó khăn cho các lao động từ các Quỹ tài chính hợp pháp của doanh nghiệp; khuyến khích các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước được sử dụng các quỹ tài chính hợp pháp hỗ trợ để cho người lao động có thêm điều kiện cải thiện cuộc sống; các doanh nghiệp hỗ trợ cho người lao động mà nguồn từ các quỹ hợp pháp không đủ chi, được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính phủ giao Bộ Tài chính có hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp thực hiện.
 
                                                                                                                                                                                                                  (Theo Vietnam+)

ỨNG PHÓ VỚI GIÁ XĂNG DẦU

Nhóm thông tin: 
Đợt tăng giá xăng dầu ngày 29-3 đã tác động mạnh đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp vận tải cho biết giá cước vận tải sẽ tăng 5-7% sau đợt điều chỉnh lần này. Nhiều doanh nghiệp, nông dân... cho biết đang cố gắng tìm cách thích nghi trong điều kiện giá xăng dầu tăng cao.
 
Không tăng cước quá cao
 
Ngay sau khi giá xăng dầu được điều chỉnh tăng 2.000-2.800 đồng/lít, các công ty vận tải khẳng định đã điều chỉnh giá cước, thu thêm phụ phí xăng dầu tăng giá. Anh Vũ Hoài Nam, tài xế xe tải chạy tuyến Bắc - Nam của một công ty dịch vụ vận tải ở TP.HCM, cho biết sáng 30-3 chạy tuyến đầu tiên phải đổ dầu ở mức giá mới sau khi tăng 2.800 đồng/lít, khiến cước vận chuyển tuyến đường Bắc - Nam của anh phải thu thêm 3 triệu đồng phụ phí giá dầu.
 
Tương tự, ông Nguyễn Anh Tuấn, giám đốc Công ty vận tải Nguyễn Anh Tuấn (TP.HCM), cho biết giá dầu mới tạo áp lực mạnh lên chi phí vận tải. Công ty có mười đầu xe tải, nếu không thực hiện tăng cước ngay sẽ phải bù đắp rất nhiều chi phí. Theo ông Tuấn, đối với các tuyến chạy khoảng 100km xung quanh khu vực TP.HCM, giá cước cũ 2-2,2 triệu đồng (xe tải 5 tấn), nay phải tăng thêm 5-10% (tùy mặt hàng chở).
 
Tuy nhiên, tăng mạnh nhất là tuyến Nam - Bắc, khoảng 10%. Đầu năm 2011, cước vận tải của xe 5 tấn chạy tuyến Bắc - Nam dao động từ 16-17 triệu đồng (mức giá phụ thuộc vào tính chất mặt hàng). Nhưng qua hai đợt tăng giá xăng dầu từ đầu năm đến nay, giá cước mới lên tới 24,2 triệu đồng/chặng.
 
Trong ngày 30-3, Hiệp hội Vận tải hàng hóa TP.HCM đã có khuyến cáo đối với các doanh nghiệp về việc điều chỉnh giá cước vận tải do giá dầu tăng cao. Theo thông báo do phó chủ tịch hiệp hội Đinh Nam Dinh ký, chi phí nhiên liệu chiếm 45-50% giá thành vận tải nên khuyến cáo các doanh nghiệp thành viên tăng cước khoảng 8-10%. Các doanh nghiệp điều chỉnh giá cước cần kê khai giá cước mới với Sở Tài chính, Sở Giao thông vận tải và Cục Thuế TP.HCM.
 
Trong khi đó, ông Nguyễn Khánh Toàn - phó tổng thư ký Hiệp hội Vận tải ôtô VN - cho biết hiệp hội có văn bản gửi các đơn vị, doanh nghiệp vận tải khuyến cáo doanh nghiệp trong việc điều chỉnh tăng giá cước phù hợp, đúng quy định. “Theo tôi, mức tăng giá cước vận tải do điều chỉnh giá xăng dầu chỉ tối đa 5-7%. Chúng tôi sẽ có nhắc nhở các doanh nghiệp nếu tăng quá cao để hài hòa lợi ích người tiêu dùng, doanh nghiệp” - ông Toàn nói.
 
“Ăn” vào lợi nhuận
 
Sáng 30-3, tin giá xăng dầu tăng thêm hơn 2.000-2.800 đồng/lít đã lan nhanh tới tận các vùng sâu vùng xa ở ĐBSCL. Ông Nguyễn Văn Phú ở xã Vĩnh Thạnh, huyện Tân Hưng (Long An) nói 5ha lúa đông xuân của ông đang thu hoạch, nếu như hôm trước tiền công thuê máy gặt đập liên hợp và vận chuyển lúa hết 1,8 triệu đồng/ha thì nay đã tăng tới 2,5 triệu đồng. Tính ra 5ha lúa này ông Phú mất 3,5 triệu đồng do giá xăng dầu tăng.
 
Còn ông Dương Quốc Thịnh ở thị trấn Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng (Long An) có máy cày làm đất thuê cho nông dân địa phương. Trước đây tiền công cày 1ha đất là 550.000 đồng, nay ông phải tăng giá thêm 200.000 đồng/ha mới đủ chi phí và có lời chút đỉnh. Theo nhiều nông dân ở các huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, với giá xăng dầu tăng hai lần từ đầu năm đến nay đã làm chi phí sản xuất lúa của họ tăng cao, ước tính gần 3.500 đồng/kg, lợi nhuận vì vậy cũng giảm rất nhiều.
 
Đối với nông dân đang chuẩn bị gieo sạ vụ hè thu, nhiều người đã tính toán biện pháp tiết kiệm bớt chi phí. Ông Châu Hồng Phong ở xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng nói vừa mất đứt 1 triệu đồng chi phí làm đất, bơm nước 2ha vụ lúa hè thu cũng vì giá xăng dầu tăng. Theo ông Phong, tới đây ông sẽ học cách tiết kiệm nước, chỉ bơm vào ruộng khi thật sự cần thiết chứ không phải thấy cạn là bơm.
 
Giá dầu tăng khiến nhiều chủ tàu đánh bắt xa bờ lo lắng. Bà Mười, chủ tàu cá Kim Dung tại cảng cá Mỹ Tho, cho biết tàu của bà cần 3.000 lít dầu cho mỗi chuyến ra khơi. Trước đây chỉ tốn 70-80 triệu đồng, nay đã tăng tới 100-110 triệu đồng/chuyến. Theo bà Mười, nếu có cắt giảm bớt chi phí thì không đáng kể. “Cũng may là hiện nay giá cá ở mức cao nên cũng đủ bù đắp chi phí. Nếu giá cá giảm thì chắc chắn không thể nào ra khơi được” - bà Mười nói.
 
Ông Tô Duy Đại - chủ tịch Hội Nghề cá TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang - cho biết từ khi giá xăng dầu tăng, ông nhận được rất nhiều điện thoại “kêu trời” của các chủ tàu cá. “Nhiều chủ tàu cho biết sau chuyến ra khơi này khi quay vào bờ phải tính lại, nếu không sẽ lỗ” - ông Đại nói.
 
Theo TTO

GAS TĂNG GIÁ, THAN TỔ ONG LÊN NGÔI

Nhóm thông tin: 
 
Gas tăng giá, than tổ ong lên ngôi
 
Nhiều gia đình ở thành phố đã chuyển sang dùng bếp than vì giá gas tăng chóng mặt trong thời gian qua.
 
Dùng thêm bếp than
 
Với lý do Petro Việt Nam ngừng cấp nguồn hàng từ Dung Quất, cộng với tình hình bất ổn trên thế giới khiến các tàu hàng chở dầu không nhập cảng đúng thời gian, các hãng gas đã đồng loạt tăng thêm 14.000 đồng/bình 12k kể từ sáng 26-3. Theo đó, giá bán lẻ gas tới tay người tiêu dùng, tùy loại, sẽ có giá khoảng 340.000 - 380.000 đồng/bình.
 
Xăng vừa tăng giá, hàng loạt các mặt hàng thiết yếu cũng đua nhau tăng theo khiến công nhân và người lao động có thu nhập thấp phải gồng mình hứng chịu cơn "bão giá". Giờ giá gas lại tăng, nhiều hộ gia đình trung lưu tại Hà Nội bắt đầu chuyển sang dùng than tổ ong để giảm chi phí đun nấu.
 
Chị Nguyễn Thị Hòa (Công nhân nhà máy in Viettel, KCN Nam Thăng Long, Hà Nội) cho biết, gia đình chị đang sử dụng bếp gas nhưng khi nghe tin gas tăng giá, chị sắm thêm chiếc bếp than để đun nấu thay cho bếp gas. Tất cả các món luộc, rán, nấu, ninh xương chị chuyển sang bếp than tổ ong, chỉ những đồ ăn cần nhiệt lớn như các món xào hoặc có việc gì "cần kíp" thì mới dùng bếp gas. "Vợ chồng mình lương tháng chả được bao nhiêu, bây giờ gas lại tăng nữa thì phải chuyển sang dùng bếp than thôi. Tiết kiệm được khoản nào hay khoản ấy", chị Hòa nói.
 
Tại các khu ven đô, nơi tập trung nhiều người lao động có thu nhập thấp như Nam Thăng Long, Mai Động, Thanh Trì và đặc biệt là những khu tập thể tập cũ tập trung nhiều đối tượng hưu trí như khu tập thể Nghĩa Tân, khu tập thể Thành Công,..một số hộ gia đình cũng bắt đầu chuyển sang dùng bếp than để đun nấu thay cho bếp gas.
 
Bà Lê Thị Mai (Khu tập thể Nghĩa Tân) cho biết nhà bà có cháu nhỏ nên thường xuyên phải ninh xương, hầm thịt. Bây giờ giá gas tăng nên bà quyết định sắm thêm chiếc bếp than để dùng lúc cần thiết. "Đằng nào thì tôi cũng ở nhà nên thoải mái nhóm bếp. Xào nấu gì thì dùng bếp gas còn ninh xương, hầm thịt thì dùng bếp than cho đỡ tốn. Nhân tiện đun thêm nước tắm chứ dùng bình nóng lạnh cũng tốn điện lắm", bà Mai nói.
 
Nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng, nhiều cửa hàng chuyên bán bếp than đã nhập thêm các mặt hàng mới, đa dạng chủng loại để người tiêu dùng thoải mái lựa chọn. Theo khảo sát của phóng viên, các loại bếp sản xuất trong nước như bếp Quốc phòng giá 85.000 đồng/bếp và bếp con gà 135.000 đồng/bếp khá được ưa chuộng. Các loại bếp Trung Quốc giá rẻ hơn nhưng nhanh hỏng nên ít người dùng.
 
Tiết kiệm nhưng hại sức khỏe
 
Chi phí đun nấu bằng than tổ ong thấp nên mặc những lời cảnh báo nguy hại đến sức khỏe nhiều hộ gia đình vẫn quyết dùng bếp than thay bếp gas hoặc dùng song song với bếp ga.
 
Bà Lê Thị Mai (Khu tập thể Nghĩa Tân) nhẩm tính: "Mỗi ngày nhà tôi đun hết 2 viên than, mỗi viên 2.000 đồng, một tháng vị chi hết 120 ngàn tiền than. Trong khi đó dùng gas trung bình một tháng rưỡi đổi một bình, thế là hết 230 ngàn một tháng".
 
Với những người thu nhập thấp, dùng bếp than khi gas tăng giá là một cách để cân đối chi tiêu. Tuy nhiên không phải ai cũng lưu tâm đến những nguy hiểm mà bếp than tổ ong mang lại.
 
Chị Nhàn (làng Nhân Mỹ, Mỹ Đình) cho biết chị cũng nghe nói đun bếp than tổ ong độc hại, nhưng vì điều kiện kinh tế nên chị vẫn "nhắm mắt" làm liều. Chị chia sẻ: "Đun than thì rẻ nhưng khổ lắm, nhiều khi bị khói xông vào mắt cay xè, nước mắt nước mũi trào ra... Nghe nói bếp than độc hại thật nhưng những căn bệnh này còn lâu mới chết, không có cái ăn mới là vấn đề. Gas đắt thế thì đành chấp nhận vậy chứ biết làm thế nào".
 
PGS.TS Trần Hồng Côn (Khoa Hóa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết, việc đun các loại than từ trước đến nay đều được cảnh báo là độc hại vì trong than có khí độc CO2. Khi đốt than, nhất là ở giai đoạn nhóm lò, lượng ôxy trong không khí cấp vào lò than không đủ. Bởi vậy cũng như khi ủ than nó thải ra một lượng khí độc rất lớn. Ngoài khí CO2, khi đốt than còn thải ra một số các khí độc khác như SO2, CO. "Người hít phải khí độc này sẽ gây cảm giác tức ngực, mệt mỏi vì nồng độ oxi trong máu giảm. Trẻ em thường xuyên hít phải mùi than rất dễ bị viêm phổi. Đặc biệt khi đốt than trong phòng kín rất dễ bị suy hô hấp, thậm chí dẫn đến tử vong nếu như hít thở CO2 ở nồng độ quá cao", ông Côn nói.
 
Ông Côn cũng khuyến cáo, người tiêu dùng nên chọn các loại chất đốt an toàn thay cho than vừa để bảo vệ sức khỏe, vừa bảo vệ môi trường. Nếu không thể thay thế thì có thể hạn chế sự ảnh hưởng của khói than bằng cách đặt chỗ đun than cách xa nơi mình ở, đun ở chỗ thoáng, dùng tôn có thành cao quây khu vực nấu lại sao cho khói thoát ra chỗ xa.
 
Dùng bếp than thay cho bếp gas chỉ là giải pháp trước mắt để giảm chi phí sinh hoạt. Bên cạnh chi phí rẻ, việc đun than trong nhà rất dễ dẫn đến ngộ độc, gây cháy nổ khu dân cư và tình trạng ô nhiễm môi trường cũng tăng theo. So sánh mức độ nguy hiểm và số tiền tiết kiệm được từ bếp than, không ít người tiêu dùng vẫn chọn "trung thành" với bếp gas.
 
"Nhà mình thường khoảng gần 2 tháng hết 1 bình gas với gia đình có 2 vợ chồng, bà và bé", một bà nội trợ chia sẻ. "Thay vì việc tiết kiệm tiền bằng cách phải dùng than thì mình dùng gas 1 cách tiết kiệm và hợp lý. Ví dụ luôn chú ý để lửa gas không bị đỏ, luôn chỉnh lửa vừa bằng đáy nồi, chọn nồi phù hợp với lượng thức ăn và chọn mặt bếp phù hợp (bếp nhà mình có 3 mâm từ to đến nhỏ nhất). Sử dụng các loại nồi áp suất, ủ để giảm thời gian đun. Nấu cháo thì thường mình đun sôi rồi tắt bếp để hạt gạo nở rồi đun tiếp, rất nhanh nhừ. Xương thì mình ninh nhiều rồi chia vào các hộp để khi nấu ăn cho tiện và không phải ninh nhiều lần."
 
Báo Bắc Giang
 

GIÁ THỊ TRƯỜNG BẮC GIANG NGÀY 30-3

Nhóm thông tin: 
1. Vàng SJC: Mua vào 3.647.000 đ/chỉ, bán ra 3.656.000 đ/chỉ.
 
2. Đô-la: 1USD = 21.050- 21.100 VND (Mua vào- bán ra).
 
3. ơ- rô: 1EUR= 28.520VND (mua vào) – 28.620VND (bán ra)
 
4. Vật tư nông nghiệp
 
Đạm U rê: 8.800 đ/kg; lân Lâm Thao: 3.200-3.300 đ/kg; kali (nhập khẩu): 11.500 đ/kg; NPK Lâm Thao loại 5-10-3: 4.300 đ/kg; NPK Lâm Thao loại 12-5-10: 6.700 đ/kg.
 
Nguồn: 1080 Bắc Giang, Chi nhánh Công ty cổ phần Vật tư Kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang tại Yên Dũng

Vải thiều Bắc Giang bán với giá 8-12 USD/kg tại Nhật Bản

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Vừa qua, c&aacute;c doanh nghiệp xuất khẩu vải thiều sang thị trường Nhật Bản cho biết: l&ocirc; vải thiều 2 tấn quả tươi đầu ti&ecirc;n của tỉnh Bắc Giang đ&atilde; xuất khẩu th&agrave;nh c&ocirc;ng, với gi&aacute; b&aacute;n lẻ tại c&aacute;c si&ecirc;u thị Nhật Bản l&agrave; 8 &ndash; 12 USD/kg v&agrave; đ&atilde; &ldquo;ch&aacute;y h&agrave;ng&rdquo;.</span></p>

Vừa qua, các doanh nghiệp xuất khẩu vải thiều sang thị trường Nhật Bản cho biết: lô vải thiều 2 tấn quả tươi đầu tiên của tỉnh Bắc Giang đã xuất khẩu thành công, với giá bán lẻ tại các siêu thị Nhật Bản là 8 – 12 USD/kg và đã “cháy hàng”.

 

Ông Vi Văn Nhuần thôn Hóa - Tân Sơn - Lục Ngạn vui vẻ vì quả vải trong vườn của gia đình đã bay thành công sang Nhật Bản

Qua đó, toàn bộ 2 tấn vải xuất khẩu sang Nhật Bản được 2 Công ty Chánh Thu và Công ty Amei tiến hành thu mua. Các điểm thu mua của công ty đều được đặt trực tiếp tại các hộ có mã vùng sản xuất vải thiều GlobalGap đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản của huyện Lục Ngạn. Theo kí kết của công ty thu mua đối với các hộ sản xuất vải thiều từ đầu vụ, giá vải thiều thu mua tại vườn có giá 30.000 đồng/kg. Sau khi được đưa vào chế biến để xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản bằng đường bay hoặc đường thủy, giá bán 1kg vải thiều Bắc Giang tại siêu thị Nhật Bản là 8-12 USD/kg.

Được biết, ngày 15/12/2019, Bộ Nông – Lâm – Ngư nghiệp Nhật BẢn (MAFF) đã đồng ý với Bộ Nông nghiệp và PTNT điều kiện nhập khẩu vải tươi từ Việt Nam sang Nhật Bản bắt đầu từ năm 2017. Đối với riêng tỉnh Bắc Giang đã phối hợp với Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và PTNT lựa chọn và đề nghị phía Nhật Bản chấp nhận tổng cộng 19 mã số vùng trồng, với diện tích 98 ha vải chính vụ tại huyện Lục Ngạn, sản lượng đạt khoảng 500 tấn. Chi cục Trồng trọt BVTV tỉnh Bắc Giang cùng với lực lượng Khuyến nông xã trên địa bàn huyện Lục Ngạn thường xuyên bám sát để hướng dẫn bà con kĩ thuật chăm sóc quả vải diễn ra theo đúng quy trình, sản phẩm đã được cấp mã vùng sản xuất thường xuyên kiểm tra dư lượng thuốc BVTV trên quả vải trước khi thu hái.

Ngay sau khi được cái “gật đầu” của chuyên gia Nhật hiện tại đã có 9 tấn vải tươi của huyện Lục Ngạn đã được xử lý thành công dưới sự giám sát sát sao của chuyên gia đã xuất hành sang Nhật Bản bằng 2 đường: đường bay và đường biển. Trong đó có 3,4 tấn vải được xuất khẩu bằng đường bay đã có mặt tại các siêu thị tại Nhật. Được biết, mỗi ngày Công ty Toàn Cầu có thể xử lý được 3 tấn vải/ngày, dự kiến trong vụ vải năm 2020 Lục Ngạn sẽ cung cấp gần 100 tấn vải thiều tươi chế biến sang thị trường Nhật Bản bằng cả đường bay và đường biển.

Theo ông Trần Văn Toản - Chi cục Trồng trọt và BVTV, người trực tiếp hướng dẫn, giám sát quy trình sản xuất vải thiều xuất khẩu cho biết “thị trường Nhật Bản là một thị trường khó tính, có quy trình sản xuất rất khắt khe, không giống sản xuất vải truyền thống của Việt Nam trước kia. Đặc biệt, thị trường Nhật Bản chỉ thu quả vải chín mã mây, chín ương, chín tới, quả chín đỏ không thu mua.Việc thường xuyên test thử sản phẩm để kiểm tra dư lượng thuốc BVTV được thực hiện nghiêm ngặt trong thời gian gần thu hoạch, đảm bảo các mã vùng đã thu hoạch đưa đi chế biến xuất khẩu không còn dư lượng thuốc BVTV trong quả vải.”

Với 2,5 ha vải được cấp mã vùng sản xuất đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang Nhật của gia đình ông Vi Văn Nhuần thôn Hóa - Tân Sơn – Lục Ngạn, toàn bộ diện tích vải này của gia đình ông Nhuần được sản xuất đạt tiêu chuẩn GlobalGap, được cung cấp mã vùng đủ điều kiện xuất khẩu sang Nhật Bản. “Năm nay sản lượng vải của gia đình tôi dự kiến thu được khoảng gần 20 tấn quả, với giá bán kí kết với Công ty là 30.000 đồng/kg từ đầu vụ nên gia đình chỉ cần chuyên tâm vào sản xuất, không còn lo được mùa mất giá. Với giá bán 30.000 đồng/kg sẽ có thời điểm giá bán này cao hơn hoặc thấp hơn thị trường bên ngoài nhưng gia đình vẫn muốn bán cho Công ty, vì sản xuất như vậy sẽ ổn định hơn. Chún tôi không phải lo về đầu ra là thích nhất!” Ông Vi Văn Nhuần phấn khởi chia sẻ.

Đến thời điểm hiện tại, lô vải đầu tiên đã “cháy hàng” tại các siêu thị Nhật Bản và được người dân Nhật đón nhận và đánh giá cao về chất lượng. Sắp tới, mỗi tuần sẽ có khoảng gần 10 tấn vải tươi của Bắc Giang được chế biến và xuất khẩu đi Nhật bằng cả đường biển và đường hàng không. Việc xuất khẩu thành công và được người tiêu dùng ở thị trường này đón nhận là một tín hiệu khả quan cho ngành sản xuất vải thiều của tỉnh trong thời gian tới, từ đó thúc đẩy sản xuất vải thiều theo hướng nâng cao chất lượng, `tăng giá trị quả vải thiều Bắc Giang trên thị trường.

Bài, ảnh: Minh Nga

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Bắc Giang xuất khẩu lô vải thiều đầu tiên sang thị trường Nhật Bản

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<h5 style="color: inherit; font-family: inherit; margin: 10px 0px; line-height: 20px; text-rendering: optimizelegibility; font-size: 14px;"> <span style="font-size: 12px;">Theo th&ocirc;ng tin từ UBND tỉnh Bắc Giang, ng&agrave;y 19/6/2020, Bắc Giang xuất khẩu l&ocirc; vải thiều đầu ti&ecirc;n sang thị trường Nhật Bản.</span></h5>
Theo thông tin từ UBND tỉnh Bắc Giang, ngày 19/6/2020, Bắc Giang xuất khẩu lô vải thiều đầu tiên sang thị trường Nhật Bản.
Nông dân huyện Lục Ngạn thu hoạch vải thiều. Ảnh minh họa: BGP/Nguyễn Miền

Trong thời gian qua, Bộ Nông nghiệp PTNT, nhất là Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ Công Thương đã chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan hỗ trợ lựa chọn và cấp 19 mã số vùng trồng đủ điều kiện, diện tích 103 ha với 107 hộ nông dân tham gia sản xuất vải thiều, ước sản lượng đạt trên 600 tấn. Đồng thời, UBND tỉnh chỉ đạo xây dựng cơ sở xông hơi, khử trùng, bảo quản, đóng gói sản phẩm, phân tích mẫu sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thực phẩm Toàn Cầu (Phố Kim, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) phục vụ cho xuất khẩu vải thiều.

Bên cạnh đó, trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, gây khó khăn cho công tác tiêu thụ vải thiều, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu. UBND tỉnh Bắc Giang đã chủ động chỉ đạo các sở, ban, ngành thực hiện các biện pháp chuyên môn; đồng thời có văn bản báo cáo, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương cho phép thương nhân, chuyên gia nước ngoài được nhập cảnh vào Việt Nam đến Bắc Giang thu mua vải thiều. Các trường hợp vào Bắc Giang đều phải cách ly theo quy định của Bộ Y tế về phòng, chống dịch Covid-19.

Ngày 17/6/2020, chuyên gia Nhật Bản đã thực hiện kiểm tra, đánh giá sản phẩm, cơ sở sơ chế, đóng gói tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thực phẩm Toàn Cầu, phân tích mẫu sản phẩm tại các mã vùng trồng. Kết quả đều đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Nhật Bản.

Theo Kế hoạch, ngày 19/6/2020, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu và Công ty cổ phần Ameii Việt Nam sẽ xuất khẩu 2 tấn vải thiều đầu tiên sang thị trường Nhật Bản bằng đường hàng không. Từ ngày 20/6/2020 trở đi các Công ty TNHH Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thực phẩm Toàn Cầu, Công ty cổ phần Ameii Việt Nam, Công ty cổ phần Quốc tế BamBoo… tiếp tục xuất khẩu vải thiều của Bắc Giang sang thị trường Nhật Bản qua đường biển và đường hàng không.

Nhằm đẩy mạnh xúc tiến tiêu thụ vải thiều, UBND tỉnh Bắc Giang cam kết sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp, thương nhân trong và ngoài nước đến thu mua, tiêu thụ vải thiều. Đồng thời mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, giúp đỡ các các bộ, ngành Trung ương; các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và địa phương tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giúp cho thương hiệu vải thiều Bắc Giang đến gần hơn với người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Xem chi tiết Văn bản tại đây./.

Nguyễn Miền

Theo https://snnptnt.bacgiang.gov.vn

Huy động người Việt Nam giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm Việt Nam ở nước ngoài

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<h5 style="color: inherit; font-family: inherit; margin: 10px 0px; line-height: 20px; text-rendering: optimizelegibility; font-size: 14px;"> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 12px;">Sở Ngoại vụ Bắc Giang vừa ban h&agrave;nh Kế hoạch số 41/KH-SNgV triển khai thực hiện Đề &aacute;n &quot;Huy động người Việt Nam ở nước ngo&agrave;i tham gia giới thiệu, ti&ecirc;u thụ sản phẩm v&agrave; ph&aacute;t triển c&aacute;c k&ecirc;nh ph&acirc;n phối h&agrave;ng Việt Nam ở nước ngo&agrave;i, giai đoạn 2020 - 2024&quot;.</span></span></h5>
Sở Ngoại vụ Bắc Giang vừa ban hành Kế hoạch số 41/KH-SNgV triển khai thực hiện Đề án "Huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài, giai đoạn 2020 - 2024".
Ảnh minh họa: BGP/Dương Thủy

Theo đó, Kế hoạch đưa ra 5 nhiệm vụ trọng tâm là công tác thông tin, tuyên truyền; xây dựng cơ sở dữ liệu; xúc tiến thương mại và kết nối doanh nghiệp Việt Nam ở trong và ngoài nước; thúc đẩy vai trò của hội, đoàn, hiệp hội doanh nghiệp; chuyên gia, trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN); đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả các hình thức tập hợp, vận động. Trong đó, mỗi nhiệm vụ phân công cụ thể đơn vị chủ trì và đơn vị phối hợp.

Cụ thể, Ban Biên tập Cổng Thông tin điện tử, các phòng, đơn vị thuộc Sở Ngoại vụ thường xuyên tích cực nghiên cứu, tìm hiểu các văn bản, chương trình, kế hoạch liên quan đến NVNONN; tăng cường viết, tổng hợp tin, bài trên Cổng Thông tin điện tử của Sở nhằm tiếp tục đẩy mạnh triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trong cộng đồng NVNONN thông qua các hình thức đa dạng; đẩy mạnh tuyên truyền về cơ chế, chính sách cuộc vận động để cộng đồng NVNONN nói chung và người Bắc Giang ở nước ngoài nói riêng biết và hiểu về chất lượng, tính ưu việt của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam, khả năng sản xuất, kinh doanh trong nước, phù hợp với từng địa bàn. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về những tấm gương sáng người Việt Nam và kiều bào Bắc Giang thành đạt ở nước ngoài.

Phối hợp với Báo Bắc Giang, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh xây dựng các chương trình, chuyên mục giới thiệu sản phẩm, hàng hóa dịch vụ của tỉnh bằng nhiều hình thức trên các kênh thông tin hướng vào NVNONN...

Phòng Lãnh sự và NVNONN, UBND các huyện, thành phố và các cơ quan liên quan định kỳ hàng quý tiếp tục cập nhật dữ liệu về người Bắc Giang ở nước ngoài vào phần mềm dữ liệu người Bắc Giang ở nước ngoài. Phối hợp với Sở Công Thương, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh nghiên cứu xây dựng dữ liệu về các hội đoàn doanh nghiệp kiều bào ở các nước.

Phòng Hợp tác quốc tế, Sở Công Thương và các cơ quan liên quan hàng năm phối hợp với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, chính quyền sở tại trong việc tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại của tỉnh tại nước ngoài hàng năm nhằm giới thiệu, quảng bá các sản phẩm, hàng hóa chủ lực, đặc trưng của tỉnh Bắc Giang và kết nối các doanh nghiệp người Bắc Giang và nước ngoài. Tăng cường tham gia các sự kiện quốc tế hoặc các sự kiện có sự tham gia của đại sứ quán các nước, tổ chức quốc tế để quảng bá sản phẩm, hàng hóa của tỉnh Bắc Giang với các đối tác nước ngoài và NVNONN...

Phòng Lãnh sự và Người Việt Nam ở nước ngoài, các sở, ngành, UBND huyện, thành phố có liên quan khi có chuyến thăm chính thức của lãnh đạo tỉnh đề xuất, tham mưu trao đổi thông tin về ý nghĩa, mục đích và các hoạt động của Đề án trong các buổi tiếp xúc, làm việc với kiều bào tại tỉnh hoặc trong các chuyến công tác nước ngoài của lãnh đạo tỉnh; vận động các doanh nhân, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tích cực chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến về tỉnh, hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa trong nước...

Phòng Lãnh sự và NVNONN, các cơ quan liên quan thường xuyên phối hợp với Ủy ban Nhà nước về NVNONN, Bộ Ngoại giao cập nhật, nắm bắt thông tin, nguyện vọng của cộng đồng NVNONN, tham mưu UBND tỉnh các chính sách phù hợp để kêu gọi kiều bào hướng về xây dựng quê hương.

Bên cạnh đó, làm việc với các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài đề nghị hỗ trợ tỉnh gặp kiều bào của địa phương nhân các chuyến đi công tác nước ngoài của lãnh đạo tỉnh nhằm tìm hiểu đời sống, tâm tư, nguyện vọng của các thế hệ, tạo sự gắn kết, giao lưu, tăng cường thu hút sự quan tâm, tham gia của thế hệ kiều bào trong các hoạt động giới thiệu, bán sản phẩm hàng Việt Nam chất lượng cao, đặc biệt là các sản phẩm chủ lực, thế mạnh của tỉnh...

Xem chi tiết Văn bản tại đây./.

Dương Thủy

Theo https://snnptnt.bacgiang.gov.vn/

Xuất khẩu hơn 60 nghìn tấn vải thiều Bắc Giang sang Trung Quốc

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<h5 style="color: inherit; font-family: inherit; text-align: justify; margin: 10px 0px; line-height: 20px; text-rendering: optimizelegibility; font-size: 16px;"> <span style="font-size: 12px;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Theo th&ocirc;ng tin từ Trung t&acirc;m Khuyến c&ocirc;ng v&agrave; X&uacute;c tiến thương mại tỉnh (Sở C&ocirc;ng Thương Bắc Giang), t&iacute;nh đến ng&agrave;y 30/6 c&oacute; hơn 60 ngh&igrave;n tấn vải thiều của tỉnh đ&atilde; xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.</span></span></h5>
Theo thông tin từ Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại tỉnh (Sở Công Thương Bắc Giang), tính đến ngày 30/6 có hơn 60 nghìn tấn vải thiều của tỉnh đã xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
Lực lượng chức năng tại Cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn) kiểm tra vải thiều xuất khẩu.

Sản lượng vải thiều xuất khẩu sang Trung Quốc tăng nhanh trong khoảng hai tuần trở lại đây, chiếm khoảng 40% tổng sản lượng vải đã tiêu thụ của tỉnh. Trong đó, vải thiều Bắc Giang xuất khẩu qua cửa khẩu Lạng Sơn hơn 35 nghìn tấn, cửa khẩu Lào Cai hơn 25 nghìn tấn. 

Để có được điều này là do các cấp chính quyền của tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong việc xúc tiến tiêu thụ vải thiều tại thị trường truyền thống Trung Quốc. Trong đó, tỉnh tích cực thực hiện việc hỗ trợ đón thương nhân Trung Quốc đến địa bàn tham gia thu mua vải thiều; phối hợp với tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai bố trí lực lượng, cán bộ chuyên môn phân luồng giao thông riêng cho xe chở vải thiều hoạt động và làm các thủ tục thông quan nhanh nhất, giúp vải xuất khẩu thuận lợi.

Bên cạnh thị trường truyền thống Trung Quốc, hiện vải thiều Bắc Giang đã xuất khẩu được 75 tấn sang Nhật Bản, 100 tấn sang Singapore, 36 tấn sang Úc, 81 tấn sang Mỹ và 521 tấn sang các nước EU.

Theo baobacgiang.com.vn

Tiêu thụ gần 3 nghìn tấn vải thiều chế biến

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<h5 style="color: inherit; font-family: inherit; text-align: justify; margin: 10px 0px; line-height: 20px; text-rendering: optimizelegibility; font-size: 16px;"> <span style="font-size: 12px;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Th&ocirc;ng tin từ UBND huyện Lục Ngạn, t&iacute;nh đến ng&agrave;y 2/7 tr&ecirc;n địa huyện c&oacute; c&aacute;c doanh nghiệp như: C&ocirc;ng ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vifoco, C&ocirc;ng ty cổ phần Xuất nhập khẩu To&agrave;n Cầu, C&ocirc;ng ty TNHH Thương mại Dịch vụ Rồng Đỏ&hellip; v&agrave; nhiều người d&acirc;n tr&ecirc;n trong huyện đ&atilde; thu mua gần 3 ngh&igrave;n tấn vải thiều Lục Ngạn để chế biến cung cấp ra thị trường trong, ngo&agrave;i nước.</span></span></h5>
Thông tin từ UBND huyện Lục Ngạn, tính đến ngày 2/7 trên địa huyện có các doanh nghiệp như: Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vifoco, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Toàn Cầu, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Rồng Đỏ… và nhiều người dân trên trong huyện đã thu mua gần 3 nghìn tấn vải thiều Lục Ngạn để chế biến cung cấp ra thị trường trong, ngoài nước.
Sơ chế vải thiều tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Toàn Cầu.

Trong đó, vải chế biến ép nước đóng lon, tách cùi, chè vải, kem vải… hơn 650 tấn; vải sấy khô 2.150 tấn, tăng 30% so với năm ngoái. Hiện Trung Quốc là thị trường tiêu thụ chính đối với sản phẩm vải sấy khô, giá bán dao động từ 70 đến 90 nghìn đồng/kg.

Ông Nguyễn Xuân Việt, Chủ tịch Hội đồng quản trị - Giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vifoco cho biết, hiện đơn vị đã chế biến được gần 400 tấn vải thiều thành các sản phẩm: Cùi vải thiều đóng hộp, cùi vải đông và vải thiều nguyên quả cắt cuống cấp đông sang Hàn Quốc, Đức, Pháp và một phần nhỏ bán tại thị trường nội địa. 

Dự kiến cả vụ này, đơn vị sẽ tiêu thụ khoảng 700 tấn, ước tổng giá trị vải chế biến của công ty khoảng 600 nghìn USD, cao hơn nhiều lần so với vải bán trong nước. 

Sản phẩm vải thiều chế biến của Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vifoco.

Việc doanh nghiệp, người dân, hợp tác xã… thu mua chế biến quả vải thiều giúp tăng giá trị nông sản; kéo dài thời gian sử dụng và giảm áp lực tiêu thụ quả vải tươi. Đây chính là một trong những biện pháp tiêu thụ thuận lợi cần được nhân rộng hơn nữa trong những vụ tới. 

Theo baobacgiang.com.vn