Cây trồng khác

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ngải

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Quy tr&igrave;nh kỹ thuật trồng, chăm s&oacute;c được &aacute;p dụng theo một số ti&ecirc;u chuẩn kỹ thuật của quy tr&igrave;nh GACP - WH0: Quy tr&igrave;nh chăm s&oacute;c (QT06 - GACP - WH0, 2003).</span></p>

Hình ảnh: minh hoạ

Quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc được áp dụng theo một số tiêu chuẩn kỹ thuật của quy trình GACP - WH0: Quy trình chăm sóc (QT06 - GACP - WH0, 2003).

Với đặc điểm đất trồng của các tỉnh miền núi chủ yếu là đất chua vì vậy trong việc tiến hành xây dựng mô hình nên bổ sung vôi bột truớc khi trồng để cân bằng độ pH trong đất. Mặt khác Ngải là cây sống lâu năm, thân hóa gỗ, thu 02 vụ/năm, vì vậy khi trồng mới cần bổ sung lượng dinh dưỡng cho đất thì năm thứ 2 năng suất vẫn ổn định.

  Khi đã chọn được giống thì cắt thành từng đoạn dài từ 7 – 10 cm. Cắm xuống đất sâu từ 3 – 5 cm. Cần cắt tỉa bớt phần lá để giảm thoát hơi nước và kích cho cây nhanh ra lá mới, nhưng không được cắt hết tất cả các lá vì như vậy cây không thể quang hợp được và sẽ chết.

- Mật độ trồng: khoảng cách hàng là 25 cm và khoảng cách cây là 10 cm sẽ phù hợp hơn, không nên trồng dày hơn vì sẽ dễ tạo môi trường cho sâu bệnh phát sinh, hoặc nếu trồng thưa hơn thì sẽ không tận dụng được tôi đa diện tích mà chúng ta có.  Sau khi trồng thì nên phủ một lớp cỏ khô hay rơm và tưới nước ngay để cây được giữ ẩm, nên trồng vào buổi chiều để cây không bị mất nước nhiều.

  • Bón lót: Có thể bón lót theo 02 cách (cách 1 là bón theo hốc; Cách 2 là bón theo rạch). Thực tế cho thấy nếu bón phân theo rạch có thể tiết kiệm công lao động và khả năng hao phí phân bón rất ít. Trước khi phủ nilon, đánh rạch trên các luống, rạch rộng 15cm; sâu l0 cm, bón phân và lấp đất lại. Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, phân vi sinh, vôi bột.

          - Bón phân lưu gốc:Đối với trường hợp lưu gốc để thu hoạch cho vụ tiếp theo, để năng suât không giảm ta tiến hành cung cấp lượng phân bón cho cây như trồng mới. Tuy nhiên do đặc thù đất canh tác tại các vùng đất miền núi nghèo dinh dưỡng vì vậy cần bổ sung lượng phân bón Đạm Ưre trong giai đoạn đầu để thúc đẩy sự phát triển của lá và thân. Bón phân kết hợp làm cỏ vun gốc; chú ý tưới nước, giữ ẩm.

BBT

Kỹ thuật bón phân cho cây ngải

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trước khi phủ linong, tiến h&agrave;nh b&oacute;n ph&acirc;n bằng c&aacute;ch giải đều ph&acirc;n chu&ocirc;ng l&ecirc;n mặt luống, tiến h&agrave;nh c&agrave;y tơi đất, vun th&agrave;nh luống.</span></p>

Hình ảnh: minh hoạ

Trước khi phủ linong, tiến hành bón phân bằng cách giải đều phân chuông lên mặt luống, tiến hành cày tơi đất, vun thành luống.

Khối lượng phân bón : Phân bón trên 1 sào Bắc Bộ : NPK 16-16-8: 15kg ; phân chuồng hoai mục: 400kg ; Phân Lân : 15kg ; Phân Ưre : 8kg

Cách thức bón: Trộn hỗn họp phân NPK + Phân Lân + Phân ưre. Rạch rãnh giữa luống sâu khoảng 20cm tiến hành rách phân hỗn hợp NPK + Lân và Đạm.

Lưọng phân bón cho cây Ngải trồng mới (1 sào Bắc bộ/vụ)

STT

Tên phân bón

Lưọng phân bón (kg)

Bón lót (kg)

1

Phân chuồng

400

400

2

Đạm ure

8

8

 

 

3

Supe lân

15

15

4

NPK 16-16-8:

15

15

5

Vôi bột

300

300

 

 

Với đặc điểm đất trồng của các tỉnh miền núi chủ yếu là đất chua vì vậy trong việc tiến hành xây dựng mô hình nên bổ sung vôi bột trước khi trồng để cân bằng độ pH trong đất.

Mặt khác Ngải là cây sống ỉâu năm, thân hóa gỗ, thu 02 vụ/năm, vì vậy khi trông mới cần bổ sung lượng dinh dưỡng cho đất thì năm thứ 2 năng suất vẫn ổn định.

  1. Cách bón phân trồng mới:
  2. Bón lót: Có thể bón lót theo 02 cách (cách 1 là bón theo hốc; Cách 2 là bón theo rạch). Thực tế cho thấy nếu bón phân theo rạch có thể tiết kiệm công lao động và khả năng hao phí phân bón rất ít. Trước khi phủ nilon, đánh rạch trên các luống, rạch rộng 15cm; sâu lOcm, bón phân và lấp đất lại. Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, phân vi sinh, vôi bột.
  3. Cách bón phân lưu gốc

Đối với trường hợp lưu gốc để thu hoạch cho vụ tiếp theo, để năng suât không giảm ta tiến hành cung cấp lượng phân bón cho cây như trồng mới. Tuy nhiên do đặc thù đất canh tác tại các vùng đất miền núi nghèo dinh dưỡng vì vậy cần bổ sung lượng phân bón Đạm Ưre trong giai đoạn đầu để thúc đẩy sự phát triển của lá và thân. Bón phân kết họp làm cỏ vun gốc; chú ý tưới nước, giữ ẩm.

* Cách bón:

  • Bón lót gốc: Sau khi thu hoạch dược liệu, cần dọn sạch cỏ dại, 7-10 ngày sau tiến hành bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, phân vi sinh và vôi bột xung quanh gốc, cách gốc 10-15cm (trước khi bón phân dỡ nilon trên mặt luống ra, sau khi bón xong thì đậy lại)
  • Bón thúc lưu gốc:Sau khi cắt cây 20 ngày cây bắt đầu có hiện tượng bật chồi tiến hành bón thúc cho cây: Bón 60 kg Đạm ure/ha cho cây (chú ý là bón cách gốc 10-15cm).
  • Kỹ thuật trồng và chăm sóc

Quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc được áp dụng theo một số tiêu chuẩn kỹ thuật của quy trình GACP - WH0: Quy trình chăm sóc (QT06 - GACP - WH0, 2003).

3

Supe lân

15

15

4

NPK 16-16-8:

15

15

5

Vôi bột

300

300

 

Với đặc điểm đất trồng của các tỉnh miền núi chủ yếu là đất chua vì vậy trong việc tiến hành xây dựng mô hình nên bổ sung vôi bột truớc khi trồng để cân bằng độ pH trong đất.

Mặt khác Ngải là cây sống lâu năm, thân hóa gỗ, thu 02 vụ/năm, vì vậy khi trồng mới cần bổ sung lượng dinh dưỡng cho đất thì năm thứ 2 năng suất vẫn ổn định.

  1. Cách bón phân trồng mới:
  2. Bón lót: Có thể bón lót theo 02 cách (cách 1 là bón theo hốc; Cách 2 là bón theo rạch). Thực tế cho thấy nếu bón phân theo rạch có thể tiết kiệm công lao động và khả năng hao phí phân bón rất ít. Trước khi phủ nilon, đánh rạch trên các luống, rạch rộng 15cm; sâu lOcm, bón phân và lấp đất lại. Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, phân vi sinh, vôi bột.
  3. Cách bón phân lưu gốc

Đối với trường hợp lưu gốc để thu hoạch cho vụ tiếp theo, để năng suât không giảm ta tiến hành cung cấp lượng phân bón cho cây như trồng mới. Tuy nhiên do đặc thù đất canh tác tại các vùng đất miền núi nghèo dinh dưỡng vì vậy cần bổ sung lượng phân bón Đạm Ưre trong giai đoạn đầu để thúc đẩy sự phát triển của lá và thân. Bón phân kết hợp làm cỏ vun gốc; chú ý tưới nước, giữ ẩm.

* Cách bón:

  • Bón lót gốc: Sau khi thu hoạch dược liệu, cần dọn sạch cỏ dại, 7-10 ngày sau tiến hành bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, phân vi sinh và vôi bột xung quanh gốc, cách gốc 10-15cm (trước khi bón phân dỡ nilon trên mặt luống ra, sau khi bón xong thì đậy lại)
  • Bón thúc lưu gốc:

Sau khi cắt cây 20 ngày cây bắt đầu có hiện tượng bật chồi tiến hành bón thúc cho cây: Bón 60 kg Đạm ure/ha cho cây (chú ý là bón cách gốc 10-15cm).

BBT

Chuẩn bị các điều kiện để trồng ngải

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ngải cứu l&agrave; một loại c&acirc;y dược liệu thường mọc hoang dại trong tự nhi&ecirc;n, v&agrave; ngo&agrave;i c&ocirc;ng dụng để l&agrave;m thuốc ra th&igrave; c&ograve;n được d&ugrave;ng để chế biến c&aacute;c m&oacute;n ăn, c&oacute; lợi cho sức khỏe. Tuy nhi&ecirc;n, việc trồng ngải cứu vẫn chỉ ở mức nhỏ lẻ, &ldquo;trồng v&agrave;i c&acirc;y để c&oacute; m&agrave; x&agrave;i&rdquo;, nhưng để ph&aacute;t triển th&agrave;nh sản phẩm đem lại hiệu quả kinh tế th&igrave; ngo&agrave;i kỹ thuật trồng ra ch&uacute;ng ta cần phải chuẩn bị c&aacute;c điều kiện trồng thật tốt.</span></p>

Hình ảnh: Cây ngải khi mới trồng

Ngải cứu là một loại cây dược liệu thường mọc hoang dại trong tự nhiên, và ngoài công dụng để làm thuốc ra thì còn được dùng để chế biến các món ăn, có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, việc trồng ngải cứu vẫn chỉ ở mức nhỏ lẻ, “trồng vài cây để có mà xài”, nhưng để phát triển thành sản phẩm đem lại hiệu quả kinh tế thì ngoài kỹ thuật trồng ra chúng ta cần phải chuẩn bị các điều kiện trồng thật tốt.

1. Chọn vùng trồng

  • Là vùng đất có khí hậu cận nhiệt đới và nhiệt đới trong .cả nước, thích hợp với các loại đất pha cát hoặc thịt nhẹ, nhiều mùn, toi xốp, tầng canh tác sâu, thoát nước tốt.
  • Đất trồng cần đảm bảo sạch bệnh, không có cỏ dại và thuận tiện cho việc tưới tiêu.
  • Tránh noi gần nghĩa trang, bãi tha ma, bãi rác sinh hoạt, bãi rác công nghiệp, nơi có nhiều tàn dư thuốc BVTV, tàn dư của sâu bệnh hại và kim loại nặng.
  • Cách xa đường lớn nhưng vẫn phải đảm bảo thuận lợi cho việc vận chuyển khi thu hoạch.
  • Lựa chọn đất: Chọn đất thịt nhẹ đến trung bình, đất tơi xốp, giàu chất hữu cơ, thoát nước tốt, chủ động tưới tiêu, có độ pH = 6,6 - 7,5 là thích họp nhất.
  •  Lưu ý: Cần lấy mẫu đất và nước của khu vực dự định trồng Ngải để phân tích trước khi trồng.

        2. Tiêu chuẩn cây con

Cây con được nhân giống từ hạt hoặc hom từ 2-4 tháng tuổi, có đường kính gốc 2-3mm; chiều dài 10-15cm; được nhân giống trong bầu đất (kích thước 7x9 cm).

  • Cây giống sinh trưởng phát triển tốt, có bộ rễ khỏe, không bị sâu bệnh hại, nấm bệnh.
  • Cây giống có chứng minh về nguồn gốc, xuất xứ theo quy định hiện hành.
  • Tuân thủ đúng quy trình quản lý giống (QT01, GACP - VN, 2003).

- Cây mẹ phải chọn đúng loài: Artemỉsỉa Japonỉca Thunb

3. Thời vụ trồng

Thời vụ trồng vào tháng 02 - 03 và tháng 7-8 dương lịch hàng năm

          4. Đất trồng và kỹ thuật làm đất

* Yêu cầu đất đai: Ngải là loại cây chịu hạn tốt, chịu úng kém, phát triển tốt ở nhiều loại đất. Đất phải cao ráo, tơi xốp, thoát nước tốt.

- Làm đất, lên luống trồng: Đất phải được làm sạch cỏ dại trước khi trông (Không sử dụng các loại thuốc hóa học để diệt cỏ), cày ải cho gốc cỏ chết, sau đó

bừa kỹ cho đất tơi xốp. Lên luống cao 30-3 5cm, rộng l-l,2m; rãnh sâu 30cm, rộng ít nhất 40cm để tiêu nước khi trời mưa và thuận tiện cho việc chăm sóc, thu hoạch.

- Sau khi làm đất tiến hành phủ nilon lên toàn bộ mặt luống để tránh cỏ dại phát triển. Nilon nên đặt loại đã đục lỗ sẵn theo kích thước và mật độ quy định. Nilon phủ xong phải ghim chặt hai đầu và xung quanh để tránh bị gió thổi bật.

BBT

 

 

 

Đặc điểm thực vật, nguồn gốc và phân bố của cây ngải

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Ngải&nbsp;cứu l&agrave;&nbsp;c&acirc;y&nbsp;th&acirc;n thảo, sống l&acirc;u năm, l&aacute; mọc so le, chẻ l&ocirc;ng chim, phiến men theo cuống đến tận gốc, d&iacute;nh v&agrave;o th&acirc;n như c&oacute; bẹ, c&aacute;c th&ugrave;y h&igrave;nh m&aacute;c hẹp, đầu nhọn, mặt tr&ecirc;n m&agrave;u lục sậm, mặt dưới phủ đầy l&ocirc;ng nhung m&agrave;u trắng. Những l&aacute;&nbsp;ở&nbsp;ngọn c&oacute; hoa kh&ocirc;ng chẻ.&nbsp;C&acirc;y ngải&nbsp;cứu ưa ẩm, dễ trồng bằng c&aacute;ch gi&acirc;m c&agrave;nh hay&nbsp;c&acirc;y&nbsp;con.</span></p>

Hình ảnh: Cây ngải cứu

Ngải cứu là cây thân thảo, sống lâu năm, lá mọc so le, chẻ lông chim, phiến men theo cuống đến tận gốc, dính vào thân như có bẹ, các thùy hình mác hẹp, đầu nhọn, mặt trên màu lục sậm, mặt dưới phủ đầy lông nhung màu trắng. Những lá ở ngọn có hoa không chẻ. Cây ngải cứu ưa ẩm, dễ trồng bằng cách giâm cành hay cây con.

1. Đặc điểm sinh thái

Cây mọc ở bìa rừng, vên đường, đôi dôc, đât khô hoặc âm, độ cao từ thâp đến trung bình, 300-1700 mét so với mực nước biển.

2. Phân bố và công dụng

Trên thế giới: Cây phân bố ở một số nước như Trung Quốc (An Huy, Quảng

Đông, Quảng Tây, Hồ Nam,...), Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Tại

Việt Nam: Được trồng ở 1 số tỉnh: Lạng Son, Bắc Giang, Thừa Thiên Huế, Một Số tỉnh Tây Nguyên. Cây thuộc loại này sử dụng làm thuốc, có tác dụng trừ cảm mạo, cầm máu, an thai, thanh nhiệt, kháng viêm, kháng khuẩn, kháng virus, tây giun.

          Ngải cứu là cây ưa ẩm, có thể hơi chịu bóng, thường được trồng phân tán trong các vườn gia đình, hay các vườn thuốc của các cơ sở y học dân tộc. Cây mọc thành từng khóm, nếu không bị thu hái, tỉa thưa sẽ nhanh chóng bò lan tạo thành đám lớn khó phân biệt giữa các cá thể. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân - hè; về mùa đông, phần thân cành trên mặt đất có hiện tượng tàn lụi một phần. Ngải cứu ra hoa quả nhiều hàng năm, song hạt không được sử dụng để gieo trồng.

3. Giá trị dưọc liệu cây Ngải

        Ngải cứu là một loại thảo dược được sử dụng trong rất nhiều bài thuốc điều trị bệnh của y học cổ truyền từ hàng trăm năm về trước

-      Thành phần hóa học cây Ngải: các nhóm chất chính trong các Ngải như Hàm lượng Polyphenol tổng số 2,85±0,08; Hàm lượng ílavonid l,34±0,02; Hàm lượng tinh dầu 1,22 ±0,04 và một vài dẫn xuất của coumarin, triterpen tricyclovetiven và artemisia - ceton.

-      Tác dụng dược lý:

Dung dịch 1% tinh dầu ngải Nhật có tác dụng ức chế các vi khuẩn Klebsiella pneumoniae, Pemudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus. Tinh dầu không có tác dụng trên Escherichia coli.

Tác dụng kháng nấm mạnh cũng thấy khi thử với Candida albicans và Sporotrichum scheckii

Tác dụng trên ký sinh trùng sốt rét:Cao chiết bằng ethanol của phần trên mặt đất của cây ngải Nhật đã được thử trên ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum chủng nhạy với cloroquin và trùng kháng cloroquin.

Trên đây là đặc điểm thực vật, nguồn gốc và sự phân bố của cây ngải./.

BBT

Cách trồng măng tây theo phương pháp hữu cơ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Tr&ecirc;n mặt liếp d&ugrave;ng cuốc đ&agrave;o một r&atilde;nh dọc theo chiều d&agrave;i rộng 50cm, s&acirc;u 25cm hoặc đ&agrave;o hố k&iacute;ch thước 40- 45 cm c&aacute;ch nhau 45- 50cm, đảo đều ph&acirc;n với đất với lượng 12- 15 tấn ph&acirc;n hữu cơ hoai mục, 1200- 1500kg v&ocirc;i cho 1 ha đất trồng sau đ&oacute; rạch bịch nilong để trồng.</span></p>

Hình ảnh: cây măng tây

1. Bón lót

Trên mặt liếp dùng cuốc đào một rãnh dọc theo chiều dài rộng 50cm, sâu 25cm hoặc đào hố kích thước 40- 45 cm cách nhau 45- 50cm, đảo đều phân với đất với lượng 12- 15 tấn phân hữu cơ hoai mục, 1200- 1500kg vôi cho 1 ha đất trồng sau đó rạch bịch nilong để trồng.

2. Bón thúc

Thời gian chăm sóc chưa thu hoạch được chia làm 4- 6 lần: Lần đầu sau trồng 15- 20 ngày; thông thường cứ sau 15- 20 ngày sẽ bón phân 1 lần (dịch trùn quế pha, đạm cá ủ, phân vi sinh) và phun chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu bệnh và nấm bệnh. Đồng thời phun gốc sau mỗi lần bón phân để bảo vệ cổ rễ. Trước khi vào thời kỳ thu hoạch măng (khoảng 120 ngày sau trồng) bón thêm 15- 20 tấn phân chuồng/ha nhằm cung cấp thêm dinh dưỡng cho cây mẹ đẻ nhiều măng. Sau khi thu hoạch 3,5 tháng, cắt tỉa bớt cây mẹ già, chỉ giữ lại những cây khoẻ và tiếp tục bón thúc bổ sung thêm phân chuồng, phân ủ để kích thích cây tiếp tục sinh trưởng và cho nhiều chồi măng năng suất chất lượng hơn.

3. Tưới nước

Nước là yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng măng, thường xuyên cung cấp đủ nước sạch đảm bảo duy trì độ ẩm ở mức 60- 70%, nên sử dụng nước giếng khoan, có thể tưới phun, tưới nhỏ giọt hoặc tưới rãnh ngày 2 lần vào mùa nắng, 1- 2 ngày/lần vào mùa mưa. Nên tưới vào buổi sáng sau khi thu hoạch măng xong và buổi chiều nhưng kết thúc trước 5h chiều để khỏi làm ảnh hưởng đến những mầm măng mới nhú. Vào mùa nắng cần giữ ẩm bằng cách phủ rơm rạ, hoặc sơ dừa, tro trấu, lục bình…, mùa mưa cần làm rãnh thoát nước tốt, tuyệt đối ko để măng bị ngập úng.

4. Tỉa cành, làm cỏ

Sau khi trồng, định kỳ bón phân cần được làm cỏ sạch sẽ, thời gian đầu chưa cho măng có thể dùng màng phủ nông nghiệp hoặc các loại rơm rạ lục bình đã qua sử lý phủ gốc để hạn chế cỏ dại. Ngay sau khi trồng cây ra đất tiến hành cắm cọc tre hàng đôi cao 120cm mỗi cọc cách nhau 3- 4m dùng dây kẽm hoạch dây cước bền nối các cọc trên một hàng với nhau cách mặt đất 20- 30cm, kẹp cây măng ở giữa để đỡ cây măng khỏi đổ ngã (cây măng ở giữa, 2 dây 2 bên tránh cột dây kẹp sát cây măng), sau đó nâng dần dây đôi lên hoặc cột thêm hàng dây ở độ cao 75- 90cm, sau mỗi lần làm cỏ bón phân tiến hành đồng thời tỉa bỏ những cây ốm yếu, bị sâu bệnh chậm phát triển, cây đổ ngã, cây nhỏ, cây già để tránh cạnh tranh dinh dưỡng, chỉ để lại 4- 6 cây mẹ to khoẻ/1 bụi/

Khi cây ở độ cao 4,5 – 5 tháng tuổi, đường kính gốc cây mẹ đạt> 10cm lá cây mẹ từ màu xanh nhạt chuyển sang xanh đậm là lúc cây bắt đầu cho thu hoạch cần cắt bắt ngọn cây chỉ giữ lại chiều cao 1- 1,2 m, tỉa bớt lá gốc ở khoảng cách 30- 40cm cho dễ thu hoạch măng.

Trên đây là cách trồng măng tây theo hướng hữu cơ bà con có thể tham khảo./.

BBT

Các điều kiện để trồng măng tây

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">C&acirc;y măng t&acirc;y thuộc loại thực vật l&acirc;u năm v&agrave; c&oacute; nguồn gốc từ c&aacute;c nước Ch&acirc;u &Acirc;u, Bắc Phi v&agrave; T&acirc;y &Aacute;. Lo&agrave;i c&acirc;y n&agrave;y đ&atilde; du nhập v&agrave;o nước ta từ những năm 1960 v&agrave; được trồng ở v&ugrave;ng Đ&ocirc;ng Anh (H&agrave; Nội), Kiến An (Hải Ph&ograve;ng) hay Đức Trọng (L&acirc;m Đồng).</span></p>

Hình ảnh: cây măng tây

Cây măng tây thuộc loại thực vật lâu năm và có nguồn gốc từ các nước Châu Âu, Bắc Phi và Tây Á. Loài cây này đã du nhập vào nước ta từ những năm 1960 và được trồng ở vùng Đông Anh (Hà Nội), Kiến An (Hải Phòng) hay Đức Trọng (Lâm Đồng).

1. Thời vụ trồng:

Măng tây được gieo trồng tốt nhất vào vụ thu đông từ cuối tháng 8- tháng 3 và vụ xuân hè từ cuối tháng 2 đến tháng 6 dương lịch.

2. Điều kiện nhiệt độ

Măng tây là loại cây loại cây phát triển tốt khi ở trong môi trường khí hậu mát, ưa nắng và cần được tưới nhiều nước, nhưng lại chịu rét và ngập úng kém, vào điều kiện trời nắng nóng thì Măng tây cũng khó sinh trưởng tốt. Nhiệt độ thích hợp nhất để trồng măng tây là khoảng 25- 300C.

3. Điều kiện đất, sử dụng phân bón cho măng tây

Đất trồng măng tây cũng phải có mực nước ngầm thấp trên 1,5m. Đất phải tiêu nước tốt, không bị dí dễ, ngập úng vào mùa mưa. Đất phù sa ven sông, đất thịt nhẹ, đất cát ven biển được xem là những loại phù hợp để trồng măng tây.

Khu vực trồng măng tây cần phải được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, nếu thiếu nắng và thiếu ánh sáng sẽ khiến cây sinh trưởng chậm và năng suất cũng như chất lượng măng tây thấp.

Từ khâu làm đất chuẩn bị trồng, chỉ sử dụng vỏ trấu, phân bò, kết hợp với bột men vi sinh (ủ từ 3 tháng trở lên) sau đó bón xuống luống để trồng.

Đối với khâu chăm sóc cây con đến khi thu hoạch, thông thường cứ sau 15 đến 20 ngày sẽ bón phân 1 lần để phục hồi.

Trên đây là các điều kiện cần để trồng măng tây bà con có thể tham khảo./.

BBT

Trồng thêm rong biển để làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và nhiên liệu

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: Arial; text-align: justify; box-sizing: border-box; margin: 0px 0px 10px; font-size: 13px; font-weight: bold;"> <span style="font-size: 12px;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Một nghi&ecirc;n cứu do Đại học Queensland UQ chủ tr&igrave; đ&atilde; chỉ ra rằng việc mở rộng canh t&aacute;c rong biển to&agrave;n cầu c&oacute; thể gi&uacute;p giải quyết c&aacute;c th&aacute;ch thức về an ninh lương thực, mất đa dạng sinh học v&agrave; biến đổi kh&iacute; hậu tr&ecirc;n h&agrave;nh tinh.</span></span></p> <div> &nbsp;</div> <div id="txtImage" style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: Arial; text-align: justify; box-sizing: border-box;"> <div style="box-sizing: border-box;"> <div id="imgPro" style="box-sizing: border-box;"> &nbsp;</div> </div> </div>

 

Một nghiên cứu do Đại học Queensland UQ chủ trì đã chỉ ra rằng việc mở rộng canh tác rong biển toàn cầu có thể giúp giải quyết các thách thức về an ninh lương thực, mất đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu trên hành tinh.


 


Ứng viên Tiến sĩ Scott Spilias, từ Trường Khoa học Trái đất và Môi trường của UQ, cho biết rong biển mang đến một giải pháp thay thế bền vững cho việc mở rộng nông nghiệp trên đất liền nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thế giới về thực phẩm và nguyên liệu.

Ông Spilias nói: “Rong biển có tiềm năng thương mại và môi trường to lớn như một loại thực phẩm bổ dưỡng và là nguyên liệu cho các sản phẩm thương mại bao gồm thức ăn chăn nuôi, nhựa, sợi, dầu diesel và ethanol. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng việc mở rộng canh tác rong biển có thể giúp giảm nhu cầu đối với cây trồng trên cạn và giảm phát thải khí nhà kính nông nghiệp toàn cầu (GHG) tương đương tới 2,6 tỷ tấn CO2 mỗi năm”.

Các nhà nghiên cứu đã lập bản đồ tiềm năng nuôi trồng thêm 34 loài rong biển quan trọng về mặt thương mại bằng Mô hình Quản lý Sinh quyển Toàn cầu. Họ đã ước tính lợi ích môi trường của một loạt các kịch bản dựa trên những thay đổi trong sử dụng đất, phát thải khí nhà kính, sử dụng nước và phân bón cũng như những thay đổi dự kiến về sự hiện diện của các loài vào năm 2050.

Ông Spilias nói: “Trong một kịch bản mà chúng ta thay thế 10% khẩu phần ăn của con người trên toàn cầu bằng các sản phẩm từ rong biển, thì có thể ngăn chặn việc sử dụng 110 triệu ha đất để canh tác. Chúng tôi cũng đã xác định được hàng triệu ha đại dương có sẵn trong các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), nơi có thể phát triển nông nghiệp. Phần lớn nhất phù hợp của đại dương là ở vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia, nơi ước tính có tới 114 triệu ha phù hợp cho việc trồng rong biển. Vùng đặc quyền kinh tế của Úc cũng cho thấy tiềm năng to lớn và sự đa dạng về loài, với ít nhất 22 loài có khả năng thương mại và ước tính 75 triệu ha đại dương là phù hợp”.

Ông Spilias cho biết nhiều loài rong biển bản địa ở vùng biển Úc vẫn chưa được nghiên cứu dưới góc độ sản xuất thương mại.

Ông nói: “Qua hàng nghìn năm lai tạo, chúng ta đã phát triển được các loại cây trồng chủ lực làm nền tảng cho các xã hội hiện đại và rong biển rất có thể có tiềm năng tương tự trong tương lai. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra những gì có thể được thực hiện để giải quyết một số vấn đề ngày càng tăng về tính bền vững toàn cầu mà chúng ta phải đối mặt”.

Theo https://www.mard.gov.vn/

Nghiên cứu, gây trồng thử nghiệm cây Thanh thất phục vụ trồng rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<h1 style="font-variant-numeric: normal; font-variant-east-asian: normal; margin: 10px 0px; font-stretch: normal; font-size: 18px; line-height: 18px; font-family: Arial, Helvetica, sans-serif; color: rgb(1, 121, 233); text-rendering: optimizelegibility; padding-left: 4px; text-align: justify;"> <span style="font-size: 12px;">Ng&agrave;y 09/2/2023, UBND tỉnh Bắc Giang ph&ecirc; duyệt đề t&agrave;i: &ldquo;Nghi&ecirc;n cứu, g&acirc;y trồng thử nghiệm c&acirc;y Thanh thất (Ailanthus triphysa (Dennst) Alston) phục vụ trồng rừng gỗ lớn v&agrave; khoanh nu&ocirc;i x&uacute;c tiến t&aacute;i sinh tự nhi&ecirc;n c&oacute; trồng bổ sung tr&ecirc;n địa b&agrave;n tỉnh Bắc Giang&rdquo;; cơ quan chủ tr&igrave; l&agrave; Chi cục Kiểm l&acirc;m tỉnh Bắc Giang; chủ nhiệm đề t&agrave;i l&agrave; Thạc sĩ L&atilde; Mạnh Cường; thời gian thực hiện: 36 th&aacute;ng (từ th&aacute;ng 3/2023 đến th&aacute;ng 3/2026).</span></h1>

Ngày 09/2/2023, UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt đề tài: “Nghiên cứu, gây trồng thử nghiệm cây Thanh thất (Ailanthus triphysa (Dennst) Alston) phục vụ trồng rừng gỗ lớn và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”; cơ quan chủ trì là Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Giang; chủ nhiệm đề tài là Thạc sĩ Lã Mạnh Cường; thời gian thực hiện: 36 tháng (từ tháng 3/2023 đến tháng 3/2026).

Mục tiêu của đề tài là: 1) Bổ sung loài cây mới vào danh mục cây trồng chính của tỉnh Bắc Giang; 2) Tuyển chọn, công nhận 50 cây trội làm nguồn giống phục vụ sản xuất giống cây Thanh thất; 3) Xây dựng mô hình sản xuất giống cây Thanh thất từ hạt với quy mô 5.500 cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn; 4) Xây dựng các Quy trình kỹ thuật: Quy trình kỹ thuật nhân giống cây Thanh thất từ hạt, Quy trình kỹ thuật trồng rừng Thanh thất thuần loài, Quy trình kỹ thuật trồng rừng Thanh thất khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung; 5) Xây dựng mô hình trồng rừng Thanh thất, quy mô 05 ha; nội dung thực hiện chủ yếu là: 1) Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của cây Thanh thất;  2) Tuyển chọn công nhận 50 cây trội làm nguồn giống phục vụ sản xuất giống cây Thanh thất; 3) Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhân giống cây Thanh thất từ hạt; 4) Xây dựng 05 ha mô hình trồng rừng Thanh thất (trong đó: 02 ha trồng rừng thuần loài với mật độ trồng 1.100 cây/ha; 03 ha trồng rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung với mật độ trồng 250 cây/ha); 5) Tổ chức 02 hội thảo khoa học về nội dung nghiên cứu của đề tài.

Theo đó, việc phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và của ngành Lâm nghiệp, đã được cụ thể hóa trong Luật lâm nghiệp (2017); Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp (Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 8/7/2013); Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025 (Quyết định số 809/QĐ-TTg ngày 12/7/2022); Chỉ thị 08/CT-TTg ngày 28/3/2019 của Thủ tướng chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển nhanh và bền vững ngành công nghệ chế biến gỗ và lâm sản gỗ phục vụ xuất khẩu. Chủ trương lớn này đã được tỉnh Bắc Giang cụ thể hóa thông qua Nghị quyết 401-NQ/TU ngày 3/4/2019 của Tỉnh ủy Bắc Giang về chiến lược phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Giang đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2035; Kế hoạch số 44/KH-UBND ngày 09/02/2021 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc triển khai thực hiện Chương trình trồng mới 1 tỷ cây xanh theo chỉ thị số 45/CT-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng chính phủ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2021-2025.

Một số hình ảnh cây Thanh thất tại huyện Tân Yên

Vì vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ để chọn giống, nhân giống và trồng rừng Thanh thất theo hướng trồng rừng gỗ lớn để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của rừng trồng; đồng thời làm cơ sở bổ sung cây Thanh thất là loài cây bản địa gỗ lớn, sinh trưởng nhanh vào danh mục cây trồng lâm nghiệp chính của tỉnh Bắc Giang là rất cần thiết, nhằm từng bước thực hiện tốt chủ trương lớn này.

Cây Thanh thất có tên khoa học là Ailanthus triphysa (Dennst) Alston (tên gọi khác là Sứt, Càng hom, Bút, Xú xuân, Bông xuất, Càn thôn...), thuộc họ Thanh thất (Simaroubaceae). Là cây bản địa, gỗ lớn, thường xanh, cao tới 30m, đường kính đạt tới 1,2m, thân tròn thẳng, phân cành cao. Vỏ xám nâu, có mùi hắc. Lá kép lông chim 1 lần lẻ, dài từ 50-100cm, thường tập trung ở đầu cành. Cuống lá màu nâu hồng phủ lông mềm, rải rác đốm nâu nhạt. Lá chét 11-35 đôi, mọc gần đối, các lá chét ở giữa tương đối lớn. Phiến lá hình trứng ngọn giáo, đầu nhọn dần, đuôi lệch, dài 7–12 cm, rộng từ 2-4,5cm, mép nguyên, nách gân lá phía gốc có 1 túm lông nhỏ. Cuống lá chét dài 0,5-1cm. Lá rụng có màu đỏ. Hoa tự hình chùm viên chuỳ ở đầu cành hay nách lá. Hoa tạp tính, đài hợp gốc, phía ngoài phủ lông. Cánh tràng 5 xếp vòng, màu xanh vàng. Nhị mười, dài băng cánh tràng. Quả kín có cánh, dài 5,5cm, rộng 1,7cm. Cuống dài 2cm. Hoa nở vào tháng 3-4. Quả chín vào tháng 6-7. Rụng lá vào mùa khô.

Một số hình ảnh cây Thanh thất tại huyện Tân Yên

Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước bước đầu cho thấy, Thanh thất là cây lâm nghiệp đa tác dụng, được sử dụng trong đóng đồ, gỗ ván ép, bao bì, dược liệu, trồng cây cảnh quan,... Là loài cây có gỗ mềm, sáng, thớ mịn, dễ gia công chế biến, dễ bóc nên có thể phát triển kinh doanh gỗ lớn, gỗ ván ép, bao bì...; vỏ, thân, lá, quả có công dụng về dược liệu như kháng khuẩn, diệt trùng, thanh nhiệt lợi thấp, bổ máu, tiêu cơm, điều kinh, chữa đại tiện ra máu, ho... được dùng làm dược liệu; lá được sử dụng làm thuốc trừ sâu sinh học, nhựa mủ từ vỏ được sử dụng làm thuốc nhuộm; lá, vỏ cây có vị đắng nên gia súc không ăn...; vỏ dày, chứa nhiều nước, cây phân cành cao nên có tác dụng phòng, chống cháy rừng, thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn. Đây là cây thường xanh, thân thẳng, tròn, tán lá đẹp và trước khi rụng lá có màu đỏ rất đẹp mắt, có thể gây trồng làm cây cảnh quan, bóng mát tại các khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, đường phố,... Đặc biệt, đây là loài cây bản địa của tỉnh, có khả năng chịu hạn cao, có bộ rễ khỏe và đã được một số tỉnh miền Nam trồng khảo nghiệm trên đất nghèo kiệt, khẳng định được tính ưu việt về khả năng chịu hạn và kháng sâu, bệnh cao... phù hợp đưa vào trồng rừng trên địa bàn tỉnh.

Ngoài ra, đây là loài cây có tính quần thụ cao, sống lâu năm, phân bố sinh thái rộng; tại tỉnh Bắc Giang đã ghi nhận cây Thanh thất tái sinh tự nhiên và phát triển tốt trong rừng trồng Bạch đàn, Keo, rừng tự nhiên, rừng phục hồi hoặc mọc phân tán trên địa bàn các huyện trong tỉnh Bắc Giang. Mặc dù đã có những nghiên cứu về cây Thanh thất, tuy nhiên địa điểm nghiên cứu trước đây mới chỉ nghiên cứu ở một số tỉnh đại diện cho các vùng, chưa có nghiên cứu cụ thể tại Bắc Giang. Việc phát triển cây Thanh thất nhằm cung cấp gỗ lớn cũng như đảm bảo phát triển rừng bền vững, đáp ứng được chức năng môi trường, cảnh quan trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cần có những nghiên cứu cụ thể trước khi đưa ra trồng đại trà trên diện rộng.

Để có cơ sở và đảm bảo độ tin cậy trước khi đưa vào danh mục cây trồng chính của tỉnh, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu, gây trồng thử nghiệm cây Thanh thất (Ailanthus triphysa (Dennst) Alston) phục vụ trồng rừng gỗ lớn và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” là thực sự cần thiết và cấp bách hiện nay./.

Theo https://snnptnt.bacgiang.gov.vn/

Kỹ thuật chăm sóc nương chè

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p style="text-align: justify;"> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>1. Kỹ thuật tưới nước cho ch&egrave;</strong></span></p> <p style="text-align: justify;"> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tưới nước cho ch&egrave; c&oacute; t&aacute;c dụng r&uacute;t ngắn thời gian ngủ, nghỉ của c&acirc;y, ch&egrave; cho b&uacute;p sớm v&agrave; k&eacute;o d&agrave;i thời gian cho b&uacute;p trong năm. Năng suất cao chất lượng tốt. Qua nghi&ecirc;n cứu thấy rằng: tưới nước cho ch&egrave; l&agrave;m tăng sản lượng từ 6 - 48 %&nbsp; so với đối chứng, tuỳ năm hạn nhiều hạn &iacute;t. Để lấy nước tưới cho ch&egrave; c&oacute; thể d&ugrave;ng bể chứa nước tr&ecirc;n đồi ch&egrave;, đ&agrave;o hoặc khoan giếng, lấy nước từ c&aacute;c hồ, đập, b&ecirc; t&ocirc;ng h&oacute;a hệ thống k&ecirc;nh mương dẫn nước để sử dụng nước tiết kiệm ,..vv. Đồng thời d&ugrave;ng m&aacute;y bơm qua hệ thống dẫn nổi hoặc ch&igrave;m đến c&aacute;c h&agrave;ng ch&egrave; v&agrave; gốc ch&egrave;. C&oacute; thể d&ugrave;ng v&ograve;i phun cố định, v&ograve;i phun quay để tưới ch&egrave; hoặc sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt. Tuỳ theo điều kiện kinh tế của từng cơ sở hoặc hộ gia đ&igrave;nh m&agrave; c&oacute; h&igrave;nh thức tưới ch&egrave; cho ph&ugrave; hợp.</span></p>

Hình ảnh: Cây chè

1. Kỹ thuật tưới nước cho chè

Tưới nước cho chè có tác dụng rút ngắn thời gian ngủ, nghỉ của cây, chè cho búp sớm và kéo dài thời gian cho búp trong năm. Năng suất cao chất lượng tốt. Qua nghiên cứu thấy rằng: tưới nước cho chè làm tăng sản lượng từ 6 - 48 %  so với đối chứng, tuỳ năm hạn nhiều hạn ít. Để lấy nước tưới cho chè có thể dùng bể chứa nước trên đồi chè, đào hoặc khoan giếng, lấy nước từ các hồ, đập, bê tông hóa hệ thống kênh mương dẫn nước để sử dụng nước tiết kiệm ,..vv. Đồng thời dùng máy bơm qua hệ thống dẫn nổi hoặc chìm đến các hàng chè và gốc chè. Có thể dùng vòi phun cố định, vòi phun quay để tưới chè hoặc sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt. Tuỳ theo điều kiện kinh tế của từng cơ sở hoặc hộ gia đình mà có hình thức tưới chè cho phù hợp.

+ Căn cứ vào ẩm độ đất là cách xác định thời điểm tưới nước phổ biến hiện nay. Độ ẩm đất thích hợp là 75 - 80%.

+ Có thể dựa vào kinh nghiệm, quan sát thấy lớp đất mặt chuyển màu sắc từ màu đậm sang nhạt để tiến hành tưới nước kịp thời. Tuyệt đối không để tình trạng cây thiếu nước có biểu hiện héo.

- Sử dụng các phương tiện tưới nước tùy theo điều kiện cụ thể.

- Thường tưới nước kết hợp với bón phân thúc để tăng hiệu quả phân bón.

- Lượng nước tưới tăng dần theo sản lượng búp thu hoạch được. Tránh lãng phí nước, làm xói mòn hoặc gây kết váng bề mặt đất.

- Kết hợp giữa tưới nước và tủ gốc giữ ẩm cho chè.

Yêu cầu :

Chỉ sử dụng nguồn nước tưới đã được xác định không bị ô nhiễm hoá chất và VSV. Không sử dụng nước từ các vùng sản xuất công nghiệp, nước thải, nhà máy vì nó có thể đem lại các chất độc hại và gây ô nhiễm

2. Bón phân

- Yêu cầu đối với phân bón:

Cần sử dụng phân bón không nhiễm hóa chất và các vi sinh vật gây hại để bón cho chè; tuyệt đối không sử dụng các loại phân không rõ nguồn gốc, xuất xứ; tăng cường sử dụng phân hữu cơ và hữu cơ vi sinh; phân chuồng khi bón cho cây phải đảm bảo được ủ hoai mục.

- Bón phân cho chè kinh doanh (Tính cho 1 ha):

* Phân hữu cơ:

- Thời gian bón: Phân chuồng hoai mục bón hàng năm vào tháng 1.

- Lượng bón: 30 - 35 tấn/ha.

Nông dân có thể dùng phân bón gốc hữu cơ NITEX 840kg/ha khi không chủ động được nguồn phân hữu cơ hoai mục như trên.

* Phân khoáng:

- Hàng năm bón đạm: lân:ka li theo tỷ lệ 3:1:1.

- Lượng bón: 30 - 35 kg N/1 tấn sản phẩm (Tương đương 65 - 75 kg đạm Urê; 55 - 65 kg Supe Lân; 18 - 21 kg Kali clorua/1 tấn sản phẩm) + 75kg  phân trung vi lượng Magnesium Sulfate/ha.

- Thời gian bón:

+ Tháng 2: Bón 30% NPK + 45kg phân trung vi lượng Magnesium Sulfate

+ Tháng 4-5: Bón 30% NPK + 30kg phân trung vi lượng Magnesium Sulfate

+ Tháng 7: Bón 25% NPK

+ Tháng 9: Bón 15% NPK.

- Cách bón: Rạch hàng bón hoặc bổ hốc bón; bón khi đất ẩm, sau lứa hái 7-10 ngày.

* Phân bón lá: Mỗi lứa có thể phun phân bón qua lá để bổ sung dinh dưỡng từ 1 - 2 lần.

3. Kỹ thuật đốn chè

Đối với chè sản xuất kinh doanh (SXKD)

a) Đốn phớt

Hai năm đầu đốn trên vết cũ 5 cm. Sau đó mỗi năm đốn cao thêm 3 cm, khi vết đốn dưới cùng cao 70 cm so với mặt đất thì hàng năm chỉ đốn cao thêm 1 cm so với vết cũ. Tuyệt đối không sửa cành la, đảm bảo độ che phủ khép tán trên đồi chè.

b) Đốn lửng

Những đồi chè đã được đốn phớt nhiều năm, vết đốn cao quá 90 cm so với mặt đất, nhiều cành tăm hương, u bướu, búp nhỏ, năng suất giảm thì đốn lửng cách măt đất 60 - 65 cm hoặc chè năng suất khá nhưng cây cao quá cũng đốn lửng cách mặt đất 70 - 75 cm.

c) Đốn đau

Những đồi chè được đốn lửng nhiều năm, cành nhiều mấu, cây sinh trưởng kém năng suất giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 40 - 45 cm.

d) Đốn trẻ lại

Những đồi chè già, cằn cỗi đã được đốn đau nhiều lần, năng suất giảm nghiêm trọng thì đốn trẻ lại cách mặt đất 10 - 25 cm.

* Thời vụ đốn: Từ giữa tháng 12 đến hết tháng 1 năm sau; Nơi thường bị sương muối đốn muộn hơn, đốn sau đợt sương muối nặng.

- Đối với vùng đảm bảo độ ẩm, hoặc có điều kiện chủ động tưới chè và thu hoạch chè vụ Đông có thể đốn một phần diện tích vào tháng 4 - 5 sau đợt chè xuân góp phần rải vụ thu hoạch chè.

4. Phòng trừ cỏ dại

- Vụ đông xuân xới sạch cỏ dại, cày giữa hàng hoặc phay sâu 10 cm, lấp phân hữu cơ và cành lá già sau khi đốn, nếu hạn không cày được thì xới sạch toàn bộ.

- Vụ hè thu: đào gốc cây dại, phát luổng hoặc xới cỏ gốc giữa hàng, bừa 3 - 4 lần hoặc phay sâu.

 - Đồi chè được tủ cỏ, rác kín đất trong vụ đông xuân thì bớt khâu làm cỏ trong vụ hè thu. Ngoài vật liệu cành chè đốn, có thể huy động rác tủ bằng phế phụ phẩm của nông nghiệp như: thân cây ngô, rơm, rạ...

BBT

Kỹ thuật trồng và chăm sóc sắn bằng hom tại miền Bắc

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Sắn l&agrave; loại c&acirc;y lương thực rất quen thuộc với người d&acirc;n Việt Nam. Sắn dễ trồng, th&iacute;ch nghi với nhiều loại đất v&agrave; v&ugrave;ng sinh th&aacute;i ngay cả trong điều kiện kh&iacute; hậu mưa nắng khắc nghiệt sắn vẫn xanh tốt. Nhưng để đạt năng suất cao th&igrave; b&agrave; con h&atilde;y c&ugrave;ng t&igrave;m hiểu với ch&uacute;ng t&ocirc;i qua b&agrave;i viết n&agrave;y nh&eacute;.</span></p>

Ảnh: minh hoạ

Sắn là loại cây lương thực rất quen thuộc với người dân Việt Nam. Sắn dễ trồng, thích nghi với nhiều loại đất và vùng sinh thái ngay cả trong điều kiện khí hậu mưa nắng khắc nghiệt sắn vẫn xanh tốt. Nhưng để đạt năng suất cao thì bà con hãy cùng tìm hiểu với chúng tôi qua bài viết này nhé.

1. Chuẩn bị

- Thời vụ:từ tháng 2 đến tháng 4 là thích hợp để trồng sắn nhất.

- Làm đất:trước khi trồng cầnthu dọn rễ cây và tàn dư thực vật, san lấp mặt bằng; xử lý cỏ dại. Sắn cần đất tơi xốp, có độ sâu để rễ, củ phát triển. Cày đất sâu tầm 25cm, chia ra cày làm 2 lần, mỗi lần cách nhau 10 – 15 ngày, bừa cũng 2 lần (lần 1 sau khi cày lật đất lần 1 khoảng 7 – 15 ngày và lần 2 sau khi cày 2,5 – 7 ngày).

- Chuẩn bị hom:Chọn những cây sắn giống khỏe mạnh, không bị nhiễm sâu bệnh, ngắn đốt từ vườn nhân giống hoặc nương sắn sản xuất, đã đủ 8 tháng tuổi trở lên. Chọn đoạn giữa thân để chặt hom giống, loại bỏ những cây bị khô, bị trầy xước. Dùng dao sắc chặt hom, khi chặt tránh làm dập nát hai đầu hom. Chiều dài hom 15 – 20 cm, tối thiểu mỗi hom có 4 – 6 đốt.

2. Cách trồng

Trồng hom nằm ngang trên những diện tích đất tương đối bằng phẳng, ở những diện tích đất có mưa nhiều thoát nước kém có thể kéo luống hoặc lên líp để trồng với các phương pháp hom đứng và hom xiên. Ngoài ra, nếu trồng vào vụ cuối mưa, ẩm độ đất thấp thì nên trồng hom đứng.

Từ 10 – 13 ngày sau khi trồng sắn, hom nảy mầm. Cần kiểm tra đồng ruộng. Khoảng 20 ngày nếu đất còn độ ẩm thì dặm lại các hom không nảy mầm hoặc hom yếu.

3. Cách chăm sóc

Sắn cần hút nhiều chất dinh dưỡng thì mới phát triển được. Vậy nên người trồng phải bón phân đầy đủ và cân đối cho cây. Bón lót khi cày bừa hoặc theo hốc trước khi trồng sắn bằng phân chuồng và phân lân. Sau 25 đến 30 ngày trồng sẽ bón thúc lần 1 bao gồm ½ lượng phân đạm và ½ phân kali. Tiếp tục bón thúc lần 2 gồm ½ phân đạm và ½ phân kali còn lại khi sắn trồng được 50 đến 60 ngày. Ngoài ra, bà con nên tránh bón phân giữa lúc trời nắng hay mưa lớn. Nên bón phân lúc đất được cung cấp đầy đủ độ ẩm. 

4. Phòng trừ sâu bệnh

Một số bệnh hại trên sắn: bệnh cháy lá do vi khuẩn, bệnh đốm lá, bệnh chổi rồng. Biện pháp phòng trừ tốt nhất là sử dụng cây giống sạch bệnh, bón phân cân đối, đầy đủ.

Một số sâu hại trên sắn: mối, rệp sáp; trong đó mối là loại sâu hại chủ yếu và quan trọng trên sắn. Mối gây hại chủ yếu ở giai đoạn mới trồng và quá trình bảo quản. Để phòng trừ mối gây hại, sử dụng Diazan 10H từ 3 - 5kg /ha rải vào đất khi cày bừa hoặc theo hốc lúc trồng.

5. Thu hoạch

Cần thu hoạch sắn đúng thời điểm khi cây đã rụng gần hết lá ngọn và lá chuyển từ màu xanh sang vàng nhạt. Thu hoạch đến đâu cần vận chuyển ngay đến các cơ sở chế biến, tránh để lâu hoặc phơi nắng ngoài đồng làm giảm hàm lượng và chất lượng tinh bột trong củ. Đối với trường hợp bán sắn lát, sắn thu hoach đến đâu thì phải tiến hành xắt lát rồi phơi khô tại ruộng. Sắn lát khô với ẩm độ từ 11- 12% cỏ thể đem bán ngay hoặc bảo quản trong bao- kho chứa, cần xử lý các loại thuốc xông hơi để phòng trừ côn trùng và mọt.

BBT