Chăn nuôi-Gia súc

TTKN: Triển khai mô hình chăn nuôi lợn theo hướng hữu cơ

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">Thực hiện chương tr&igrave;nh khuyến n&ocirc;ng n</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">ăm 20</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">21,&nbsp;</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">Trung t&acirc;m Khuyến n&ocirc;ng phối hợp với Trung t&acirc;m Dịch vụ&nbsp;</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">K</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">ỹ thuật N&ocirc;ng nghiệp huyện&nbsp;</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">Việt Y&ecirc;n v&agrave; Lục Nam</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">&nbsp;triển khai m&ocirc; h&igrave;nh chăn nu&ocirc;i&nbsp;</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">lợn theo hướng hữu cơ gắn với x&acirc;y dựng thương hiệu sản phẩm,</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">&nbsp;quy m&ocirc;&nbsp;</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">80</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">&nbsp;con tại x&atilde;&nbsp;</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">Cẩm L&yacute;, huyện Lục Nam v&agrave; Thị trấn B&iacute;ch Động, huyện Việt Y&ecirc;n</span><span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify; box-sizing: border-box; padding: 0px; margin: 0px;">.</span></p>

Giống lợn Duroc chuyển giao trong mô hình

Thực hiện chương trình khuyến nông năm 2021, Trung tâm Khuyến nông phối hợp với Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp huyện Việt Yên và Lục Nam triển khai mô hình chăn nuôi lợn theo hướng hữu cơ gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm, quy mô 80 con tại xã Cẩm Lý, huyện Lục Nam và Thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên.

Theo đó, 02 hộ tham gia mô hình được hỗ trợ 70% giá giống, 50% thức ăn hỗn hợp giai đoạn 10kg đến xuất chuồng, 50% giá Vắc xin (gồm Vắc xin Lở mồm long móng, tai xanh, Dịch tả, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn và Đóng dấu lợn), 50% chế phẩm sinh học (gồm chế phẩm bổ xung vào thức ăn và xử lý mùi hôi chuồng trại). Ngoài ra, các hộ còn được hỗ trợ một phần thuốc tẩy ký sinh trùng (2 liều/con), hóa chất phun sát trùng chuồng trại.

Khi thực hiện mô hình các hộ được cán bộ kỹ thuật của Trung tâm tư vấn kỹ thuật chăn nuôi lợn theo hướng hữu cơ và quy trình xử lý chất độn chuồng trong quá trình nuôi. Hiện, mô hình đã chuyển giao xong giống và vật tư giai đoạn 1 cho các hộ.

Được biết, lợn Duroc là giống được chuyển giao trong mô hình. Lợn có màu lông hung đỏ hoặc nâu đỏ, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt nên được thị trường ưa chuộng.

Trong chăn nuôi lợn theo hướng hữu cơ có sử dụng chế phẩm sinh học phun chuồng nuôi và xử lý chất độn chuồng giúp khử mùi chuồng nuôi, tăng khả năng phân hủy dinh dưỡng trong chất thải, giảm quá trình hình thành các khí thải gây mùi, hạn chế tối đa phát triển của các nhóm vi khuẩn gây mùi.  Do đó, giúp vật nuôi giảm các bệnh liên quan tới đường hô hấp, làm hoai mục nhanh chất hữu cơ cặn bã, chất thải, đặc biệt hạn chế ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi, góp phần phát triển ngành chăn nuôi lợn của tỉnh phát triển bền vững.

Kỹ thuật chăn nuôi trâu lai, nghé lai

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tr&acirc;u lai, ngh&eacute; lai c&oacute; ưu điểm dễ nu&ocirc;i, c&oacute; khả năng chịu đựng kham khổ tốt, dễ th&iacute;ch nghi với điều kiện ngoại cảnh v&agrave; chống đỡ bệnh tật cao. Tr&acirc;u chỉ sử dụng nguồn thức ăn tự nhi&ecirc;n v&agrave; phế phụ phẩm từ trồng trọt m&agrave; con người v&agrave; c&aacute;c gia s&uacute;c kh&aacute;c kh&ocirc;ng sử dụng được. Tr&acirc;u lai l&agrave; gia s&uacute;c ki&ecirc;m dụng, c&oacute; thể sử dụng đa dạng, nu&ocirc;i tr&acirc;u c&oacute; thể c&agrave;y k&eacute;o kết hợp nu&ocirc;i vỗ b&eacute;o lấy thịt. Để n&acirc;ng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nu&ocirc;i, b&agrave; con n&ecirc;n chuyển sang tr&acirc;u lai để đạt hiệu quả cao. Dưới đ&acirc;y l&agrave; kỹ thuật chăn nu&ocirc;i tr&acirc;u lai, ngh&eacute; lai cho b&agrave; con chăn nu&ocirc;i.</span></p>

Trâu lai, nghé lai có ưu điểm dễ nuôi, có khả năng chịu đựng kham khổ tốt, dễ thích nghi với điều kiện ngoại cảnh và chống đỡ bệnh tật cao. Trâu chỉ sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên và phế phụ phẩm từ trồng trọt mà con người và các gia súc khác không sử dụng được. Trâu lai là gia súc kiêm dụng, có thể sử dụng đa dạng, nuôi trâu có thể cày kéo kết hợp nuôi vỗ béo lấy thịt. Để nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, bà con nên chuyển sang trâu lai để đạt hiệu quả cao. Dưới đây là kỹ thuật chăn nuôi trâu lai, nghé lai cho bà con chăn nuôi.

1. Nuôi dưỡng

        - Nuôi trâu lai rất đơn giản, chủ yếu theo phương thức chăn thả và bổ sung thêm ít cỏ, rơm vào ban đêm. trong những thời gian đẻ, bệnh, mùa đông thiếu cỏ thì có thể bổ sung thêm ít thức ăn tinh như cám gạo, bột sắn, ngô …

Ảnh minh họa

Giai đoạn nghé theo mẹ (giai đoạn bú sữa): Thời kỳ này có thể là 5-6 tháng hoặc nhiều khi người ta cho nghé bú mẹ dài hơn, đến khi cạn sữa.

Yêu cầu nghé phải được bú sữa đầu sau khi đẻ chậm nhất 1 giờ. Sữa đầu rất quan trọng, có tác dụng tẩy sạch đường tiêu hoá và cung cấp cho nghé các kháng thể, các dưỡng chất. Thời gian cho nghé ăn sữa đầu là 7-10 ngày. Mỗi ngày ăn 2-3 lần hoặc cho nghé bú tự do. Sau khi sinh, trước lúc cho bú sữa đầu cần tiến hành cân khối lượng của nghé sơ sinh

Cần tập cho nghé ăn được sớm các loại thức ăn, nhất là thức ăn thô xanh. Nghé càng sớm ăn được cỏ khô, cỏ xanh, cỏ ủ tươi, thức ăn tinh thì càng có điều kiện phát triển tốt vào thời kỳ sau cai sữa. Ngày thứ 15 sau khi đẻ có 

BBT

Những lưu ý chăm sóc trâu bò trong mùa nắng nóng

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Theo Trung t&acirc;m Dự b&aacute;o Kh&iacute; tượng Thủy văn Quốc gia, m&ugrave;a h&egrave; năm nay nắng n&oacute;ng c&oacute; thể k&eacute;o d&agrave;i v&agrave; c&oacute; xu thế diễn biến bất thường. Với mức nhiệt cao v&agrave; k&eacute;o d&agrave;i sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, ph&aacute;t triển v&agrave; giảm sức đề kh&aacute;ng của đ&agrave;n vật nu&ocirc;i, nguy cơ ph&aacute;t sinh v&agrave; l&acirc;y lan dịch bệnh l&agrave; rất cao. Để giảm thiểu t&aacute;c động do nắng n&oacute;ng g&acirc;y hại tr&ecirc;n tr&acirc;u, b&ograve;, người chăn nu&ocirc;i cần lưu &yacute; một số biện ph&aacute;p kỹ thuật sau:</span></p>

ảnh minh họa

Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, mùa hè năm nay nắng nóng có thể kéo dài và có xu thế diễn biến bất thường. Với mức nhiệt cao và kéo dài sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và giảm sức đề kháng của đàn vật nuôi, nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh là rất cao. Để giảm thiểu tác động do nắng nóng gây hại trên trâu, bò, người chăn nuôi cần lưu ý một số biện pháp kỹ thuật sau:

1. Chuồng trại

Làm chuồng gia súc xa nhà dân, khu dân cư. Mái chuồng nên làm đơn giản, có thể bằng mái ngói, tranh, tre, lá để chống nóng trực tiếp. Nếu có điều kiện nên làm mái chuồng theo kiểu 2 mái để tăng cường độ thoáng của chuồng nuôi. Có thể trồng thêm một số loại dây leo phủ mái như bìm bìm, hoa giấy, mướp…để làm mát.

Hệ thống che chắn xung quanh chuồng cũng nên làm bằng lá, tranh, tre tạo sự thông thoáng. Tuy nhiên cũng cần lưu ý trong những ngày nắng nóng thường có mưa đột xuất, nhất là về đêm. Lúc này cần nhanh chóng che chắn để đảm bảo cho trâu bò không bị nhiễm lạnh đột ngột.

Thường xuyên khơi thông cống rãnh, không để phân và chất thải ứ đọng sẽ phát sinh mầm bệnh. Sử dụng các chế phẩm khử mùi nhằm hạn chế mùi hôi trong chuồng nuôi. Sau vệ sinh cơ giới có thể dùng nước rửa chuồng, lưu ý khi rửa chuồng trại xong không nên để nước đọng trên nền chuồng để tránh cho trâu, bò uống phải nước bẩn.

2. Nuôi dưỡng, chăm sóc  

Tăng cường thức ăn xanh như rau cỏ tươi, củ, quả...; tăng cường chất đạm, giảm tinh bột, mỡ, đường; bổ sung thêm vitamin C, khoáng chất trong trường hợp khẩu phần ăn của gia súc chưa đầy đủ.  

Những đợt nắng nóng kéo dài, cho ăn gia súc ăn vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Đảm bảo cho gia súc ăn đủ thức ăn thô xanh (trâu, bò từ 15 - 35 kg/con/ngày) và bổ sung thức ăn tinh (1 - 2,5 kg/con/ngày). Đối với bò sữa thì lượng thức ăn tinh bổ sung theo năng suất sữa. Đảm bảo thường xuyên có đủ nước mát, sạch cho gia súc uống.

Mùa nắng nóng nên tắm chải cho gia súc 1 - 2 lần/ngày để làm giảm nhiệt cho cơ thể. Chú ý đối với bò sữa nên tắm trước hoặc sau khi vắt sữa 2 – 3 giờ.

Thời gian chăn thả gia súc: buổi sáng từ 6h00 – 9h00; buổi chiều chăn thả muộn từ 16h00 – 18h00. Không chăn thả gia súc ngoài trời nắng gắt trong thời gian dài, nếu nhiệt độ ngoài trời quá cao, nắng gắt nên nhốt trâu, bò và cho ăn tại chuồng, hoặc buộc ở những nơi có bóng mát.

3. Phòng bệnh

Cần thực hiện các biện pháp về chăn nuôi an toàn sinh học: Giảm nhiệt độ chuồng nuôi bằng cách vệ sinh chuồng nuôi sạch sẽ, thu gom phân đưa vào hố chứa phân, rắc vôi bột trên bề mặt và đậy nắp. Định kỳ mỗi tuần sát trùng, tẩy uế chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi từ 1 - 2 lần để tiêu diệt mầm bệnh bằng vôi bột hoặc các loại thuốc sát trùng như Benkocid, Han-Iodine, Five-Iodine, RTD-Iodine,…

Hàng ngày quan sát, theo dõi trạng thái, sức khỏe của đàn vật nuôi. Khi phát hiện thấy trâu, bò có biểu hiện không bình thường (do cảm nắng, cảm nóng, do vận chuyển có mật độ nhốt cao…) cần áp dụng ngay các biện pháp làm mát để hạn chế rủi ro. Cần tách riêng trâu, bò ra nơi có bóng mát, tạo sự thông thoáng nơi nhốt, dùng ngay hệ thống quạt làm mát nhưng không nên cho thổi trực tiếp vào trâu, bò, tránh cho trâu, bò bị sốc, choáng. Có thể dùng đá lạnh chườm mát vùng đầu, vùng mặt; đồng thời cho trâu, bò uống nước điện giải khi ổn định mới cho trâu, bò nhập đàn.

Chủ động phòng một số bệnh thường gặp khi nhiệt độ thời tiết lên cao như cảm nắng, viêm phổi, tiêu chảy, tụ huyết trùng…. Tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin cho trâu, bò theo hướng dẫn của cơ quan thú y.

Đối với các trang trại cần thực hiện tốt việc dùng các hố sát trùng và rắc vôi bột ngoài khu vực chuồng nuôi.

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Yên Thế: Giữ vững và phát triển thương hiệu "gà đồi Yên Thế"

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> Với những nỗ lực của c&aacute;c cấp ch&iacute;nh quyền, sự hưởng ứng đồng l&ograve;ng của c&aacute;c hộ chăn nu&ocirc;i, sản phẩm g&agrave; đồi Y&ecirc;n Thế đ&atilde; được Cục Sở hữu tr&iacute; tuệ - Bộ Khoa học C&ocirc;ng nghệ cấp văn bằng bảo hộ Nh&atilde;n hiệu Chứng nhận &quot;g&agrave; đồi Y&ecirc;n Thế&quot; năm 2011. Trong những năm qua, nhằm giữ vững v&agrave; ph&aacute;t triển hơn nữa thương hiệu g&agrave; đồi Y&ecirc;n Thế, UBND huyện đ&atilde; chỉ đạo triển khai c&aacute;c giải ph&aacute;p chuẩn h&oacute;a con giống, n&acirc;ng cao chất lượng g&agrave; thương phẩm, đẩy mạnh quảng b&aacute; thương hiệu gi&uacute;p g&agrave; đồi Y&ecirc;nThế ng&agrave;y c&agrave;ng vươn xa.</p>
Tổng đàn gà của Yên Thế hiện duy trì ổn định từ 3,8 - 4,2 triệu con mỗi năm
 
Với những nỗ lực của các cấp chính quyền, sự hưởng ứng đồng lòng của các hộ chăn nuôi, sản phẩm gà đồi Yên Thế đã được Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học Công nghệ cấp văn bằng bảo hộ Nhãn hiệu Chứng nhận "gà đồi Yên Thế" năm 2011. Trong những năm qua, nhằm giữ vững và phát triển hơn nữa thương hiệu gà đồi Yên Thế, UBND huyện đã chỉ đạo triển khai các giải pháp chuẩn hóa con giống, nâng cao chất lượng gà thương phẩm, đẩy mạnh quảng bá thương hiệu giúp gà đồi YênThế ngày càng vươn xa.
 
Giữ vững thương hiệu
 
Theo UBND huyện, quy mô tổng đàn gà của Yên Thế hiện duy trì ổn định từ 3,8 - 4,2 triệu con/năm; cơ cấu giống gà theo hướng đa dạng sản phẩm với nhiều phân khúc. Hàng năm cung cấp ra thị trường từ 10 - 12 triệu con, giá trị sản xuất khoảng 1.400 tỷ đồng.Đến nay, sản phẩm gà đồi Yên Thế không những trở thành sản phẩm chủ lực của huyện mà trở thành một trong những sản phẩm chủ lực của tỉnh, sản phẩm gà qua giết mổ hút chân không, giò gà đã đạt sản phẩm OCOP 4 sao cấp tỉnh, thương hiệu gà đồi Yên Thế đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng cả nước. Để giữ vững thương hiệu đã được công nhận, ngoài việc tập trung tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ của trung ương, của tỉnh; huyện cũng đã ban hành nhiều chương trình, đề án, các cơ chế hỗ tợ như: Đề án hỗ trợ phát triển chăn nuôi gà đồi Yên Thế theo hướng VietGAHP giai đoạn 2013 - 2015; Đề án hỗ trợ phát triển chăn nuôi gà đồi hàng hóa bền vững huyện Yên Thế giai đoạn 2016 - 2020... Chỉ đạo, định hướng quy hoạch và xây dựng các vùng chăn nuôi tập trung, trong đó quan tâm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất như: lai tạo giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi, bảo vệ môi trường, sử dụng hệ thống máng ăn, máng uống tự động, hệ thống làm mát.... Hướng dẫn và chỉ đạo quyết liệt trong thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi, nhất là công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh; công tác tiêm phòng, vệ sinh tiêu độc khử trùng; công tác quản lý vật nuôi vận chuyển ra - vào trên địa bàn huyện...
 
Mặt khác, công tác thúc đẩy quảng bá, xúc tiến thương mại, phát triển thương hiệu đã được huyện quan tâm thương xuyên. Trong giai đoạn 2015 - 2020 huyện đã phối hợp tổ chức thành công 02 Hội nghị, hội thảo sản xuất, chế biến, tiêu thụ Gà đồi Yên Thế; định hướng phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của huyện gắn với du lịch vào năm 2017 và năm 2019.
 
Phát triển thương hiệu bền vững
 
Trong thời gian tới, để thương hiệu "Gà đồi Yên Thế" phát triển một cách bền vững thì bên cạnh việc chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt các giải pháp hiệu quả như: đổi mới, phát triển các hình thức tổ chức, liên kết sản xuất, cơ cấu lại phương thức chăn nuôi đáp ứng nhu cầu thị trường... thì một nhiệm vụ quan trọng là thực hiện tốt công tác phòng chống dịch cho đàn gà trên địa bàn huyện. Các hộ chăn nuôi trên địa bàn cần chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sản phẩm gà sạch, an toàn, rõ nguồn gốc…Đồng thời, quan tâm khuyến khích phát triển, tổ chức sản xuất theo hướng chăn nuôi trang trại, gia trại quy mô lớn; xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất thông qua phát triển các tổ hợp tác, hợp tác xã trong chăn nuôi, xây dựng các mô hình chăn nuôi quy mô lớn làm cơ sở nhân ra diện rộng...
 
Tin rằng, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhất là sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng từ huyện tới cơ sở, sự tích cực chủ động của các hộ chăn nuôi sẽ góp phần tiếp tục giữ vững thương hiệu "gà đồi Yên Thế", thúc đẩy phong trào chăn nuôi gà đồi của huyện tiếp tục phát triển mạnh và bền vững, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Theo khuyennongbacgiang.com

Mô hình vỗ béo bò thịt cho hiệu quả kinh tế cao

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Đ&oacute; l&agrave; m&ocirc; h&igrave;nh chăn nu&ocirc;i vỗ b&eacute;o b&ograve; thịt của gia đ&igrave;nh anh Vi văn Chiến th&ocirc;n Cầu Đ&aacute; x&atilde; Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, mỗi năm thu nhập tr&ecirc;n 300 triệu đồng.</span></p>

Anh Chiến đang đưa cán bộ KN đi thăm mô hình vỗ béo của gia đình mình

Đó là mô hình chăn nuôi vỗ béo bò thịt của gia đình anh Vi văn Chiến thôn Cầu Đá xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, mỗi năm thu nhập trên 300 triệu đồng.

Tiếp chúng tôi tại trang trại chăn nuôi của gia đình, anh Chiến vui vẻ cho biết, gia đình bắt đầu nuôi bò năm 2015, thời điểm đó, vốn ít cộng thêm kinh nghiệm chưa nhiều nên chỉ nuôi 6 con. Sau quá trình nuôi và vỗ béo bò nhận thấy tuy vỗ béo bò cho hiệu quả không cao bằng nuôi lợn, nuôi gà nhưng đầu ra lại tương đối ổn định, tính an toàn cao do nuôi bò ít bị dịch bệnh nên anh quyết tâm bám trụ với nghề.

Những năm đầu anh thường đi gom bê trong dân về vỗ béo nhưng việc gom bê nhiều khi phụ thuộc lại mất thời gian nên anh bàn với chị mua thêm bò cái về nuôi sinh sản để chủ động nguồn giống. Đến nay, gia đình anh đang nuôi 60 con bò, trong đó 22 con bò cái đang trong độ tuổi sinh sản, số còn lại là bò thịt đang trong giai đoạn nuôi vỗ béo.

Để mở rộng quy mô anh nhận khoán thêm hơn 3ha đất của doanh trại bộ đội nơi xây thêm hai dãy chuồng và trồng cỏ để vỗ béo bò.

Khu chăn nuôi được anh làm rất quy củ. Đàn bò cái được nuôi nhốt tại một khu riêng biệt bởi theo anh bò cái có chửa cần được yên tĩnh để bê con phát triển một cách tốt nhất. Còn khu nuôi vỗ béo anh phân ra làm hai dãy. Mỗi dãy chuồng phân ra từng khu riêng biệt theo nguyên tắc cùng vào, cùng ra. Theo đó, phía cuối dãy chuồng là khu nuôi bò giai đoạn tạo khung, đây là nơi nuôi nhốt bò khi bò vừa qua giai đoạn nuôi tân đáo. Tiếp đó là khu nuôi vỗ béo, cuối cùng là khu bò vỗ béo thành công đang trong giai đoạn chờ xuất bán.

Sở dĩ, phân thành nhiều khu nuôi riêng biệt là do ở mỗi giai đoạn nuôi thì khẩu phần thức ăn và nuôi dưỡng bò là khác nhau nên rất để thuận tiện cho việc theo dõi quá trình sinh trưởng và chăm sóc đàn bò.

Một điều đặc biệt nữa chúng tôi nhận thấy ở mô hình vỗ béo bò của gia đình anh Chiến là đối tượng bò được anh đưa vào vỗ béo đồng nhất cả về giống và lứa tuổi. Anh Chiến chỉ lựa chọn giống bò Charolais và BBB để vỗ béo vì theo anh đây là những giống bò chuyên thịt sẽ cho hiệu quả kinh tế cao hơn các giống bò địa phương và chọn bê có cùng độ tuổi từ 6-8 tháng để đưa vào nuôi vỗ béo theo nguyên tắc cùng vào cùng ra.

Để bảo đảm nguồn cung cấp bê giống đồng nhất về tuổi cho từng đợt vỗ béo anh liên kết với đội ngũ dẫn tinh viên trên địa bàn huyện. Theo đó, khi dẫn tinh viên đến phối giống cho đàn bò cái của gia đình anh và các gia đình khác trên địa bàn huyện, nếu có bê con đến tuổi bán họ sẽ giới thiệu anh đến thu gom về vỗ béo.

Khi phần lớn những người chăn nuôi đều cho rằng cái khó khăn nhất trong quá trình chăn nuôi là yếu tố dịch bệnh thì anh Chiến nuôi bò lại cho rằng cái khó khăn nhất trong quá trình vỗ béo bò mà gia đình anh gặp phải không phải là vấn đề dịch bệnh mà là vấn đề giải quyết thức ăn thô xanh cho đàn bò khi mùa đông đến. Để giải quyết khó khăn này anh nhận khoán thêm đất của Doanh trại nơi anh công tác để trồng cỏ. Các giống cỏ được anh ưu tiên trồng là giống cỏ tía, cỏ VA06 cỏ voi…. Vào những tháng mùa xuân cỏ sinh trưởng phát triển mạnh anh thường thu hoạch để ủ chua, rồi anh thu gom thân cây ngô ở các vùng lân cận về chế biến, bảo quản dự trữ khi mùa đồng đến. Đồng thời, thường xuyên tham gia các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật do Trung tâm Khuyến nông, Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện tổ chức nên anh cập nhập và áp dụng những tiến bộ khoa học trong chăn nuôi vào thực tiễn sản xuất rất kịp thời.

Ông Nguyễn Khánh Hùng- Giám đốc Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Lạng Giang chia sẻ, mô hình vỗ béo bò thịt của gia đình anh Vi Văn Chiến thôn Cầu Đá, xã Quang Thịnh là một trong những mô hình điển hình tiên tiến trong phong trào chăn nuôi của huyện. Mô hình được đông đảo bà con chăn nuôi đến tham quan học tập kinh nghiệm. Hiện mô hình cũng đã được nhân rộng trên địa bàn xã Quang Thịnh và các xã lân cận trên địa bàn.

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Tân Yên: Nhờ xử lý tốt môi trường, hộ chăn nuôi yên tâm tái đàn sau dịch

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: arial, helvetica, sans-serif; text-align: justify;">Nhằm hướng người n&ocirc;ng d&acirc;n ph&aacute;t triển chăn nu&ocirc;i theo hướng vừa sản xuất an to&agrave;n bảo vệ đ&agrave;n vật nu&ocirc;i tr&aacute;nh nhiễm dịch bệnh, vừa bảo vệ m&ocirc;i trường tại địa b&agrave;n huyện T&acirc;n Y&ecirc;n phong tr&agrave;o nu&ocirc;i tr&ugrave;n quế xử l&yacute; chất thải trong chăn nu&ocirc;i đang được ph&aacute;t triển mạnh.</span></p>

Phân thải lợn, trâu bò được trùn quế xử lý rất tơi xốp và không còn mùi hôi thối - anh Trần Văn Liệu thôn tiêu, xã An Dương huyện Tân Yên chia sẻ

Nhằm hướng người nông dân phát triển chăn nuôi theo hướng vừa sản xuất an toàn bảo vệ đàn vật nuôi tránh nhiễm dịch bệnh, vừa bảo vệ môi trường tại địa bàn huyện Tân Yên phong trào nuôi trùn quế xử lý chất thải trong chăn nuôi đang được phát triển mạnh.

Bảo vệ môi trường sinh thái 

Gia đình anh Trần Văn Liệu thôn Tiêu, xã An Dương, huyện Tân Yên đang nuôi 30 con lợn và 7 con trâu bò, lượng phân thải ra rất lớn. Qua tìm hiểu, anh Liệu được tham gia mô hình sử dụng phân lợn làm nguyên liệu để nuôi trùn quế của Dự án LCASP. Trong quá trình nuôi anh Liệu nhận thấy, trùn quế có sức tiêu hóa rất lớn, tác dụng phân giải hữu cơ của chúng chỉ đứng sau các vi sinh vật. Thậm chí chúng có thể ăn một lượng thức ăn lớn tương đương với trọng lượng cơ thể nó trong 1 ngày 1 đêm. Như vậy, trùn quế có thể xử lý chất thải hữu cơ từ gia súc  đồng thời là nguồn thức ăn phong phú, giàu dinh dưỡng cho vật nuôi.

Nuôi trùn quế 2 tháng sau khi thả giống là có thể thu hoạch theo chu kì hàng tháng, trong khi ủ phân thông thường phải 3 tháng trở lên mới đạt yêu cầu. Điều đặc biệt là nuôi trùn quế, con trùn sẽ tiết ra dịch chống ruồi nên chuồng trại nuôi trùn quế không hề có mùi hôi thối và không có ruồi, bọ. Với 70m2 chuồng nuôi trùn quế, toàn bộ lượng phân trâu bò thải ra đều được nuôi trùn quế nên chuồng trại  sạch sẽ, đàn lợn và đàn trâu, bò cũng ít bệnh.

Yên tâm tái đàn

Anh Liệu cho biết, mặc dù tâm lý còn e dè nhưng khi có mô hình nuôi trùn quế của Dự án hỗ trợ để xử lý chất thải chăn nuôi, gia đình anh cũng phần nào yên tâm tiếp tục vào lợn để phát triển kinh tế sau dịch.

Ngoài chăn nuôi lợn thì gia đình anh Liệu cũng chăn nuôi thêm khoảng 500-700 gà thịt, tiền cám chi phí cho số gà này cũng mất khoảng 60 triệu đồng/lứa. Để giảm chi phí tăng lợi nhuận anh Liệu dùng trùn quế làm thức ăn cho gà, gà ăn trùn khỏe mạnh, tiêu hóa tốt, không bệnh tật từ đó giảm 40% chi phí thức ăn cho mỗi lứa gà. Hiện tại, dự kiến khu chuồng nuôi trùn quế khoảng 20 ngày nữa là được thu hoạch.

Nhận thấy lợi ích từ các mô hình xử lý chất thải của Dự án LCASP trong thời gian tới anh có dự tính xây thêm một hầm biogas giúp việc xử lý chất thải trong trang trại được triệt để hơn.

Ông Nguyễn Đức Thảo, cán bộ Khuyến nông xã An Dương cho biết, mô hình sử dụng phân lợn làm nguyên liệu nuôi trùn quế của Dự án LCASP đã giúp các hộ chăn nuôi trên địa bàn xã có thêm hướng để xử lý chất thải trong chăn nuôi. Chất thải trong chăn nuôi lợn được xử lý tốt, tình hình dịch bệnh giảm hẳn, giúp bà con xã An Dương yên tâm tái đàn sản xuất. Dự án đã và đang nhân rộng mô hình sử dụng phân lợn làm nguyên liệu nuôi trùn quế đến nhiều người chăn nuôi, góp phần thúc đẩy kinh tế trang trại của xã An Dương phát triển.

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Yên Thế: Nâng tầm sản phẩm OCOP

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<h5 style="color: inherit; font-family: inherit; margin: 10px 0px; line-height: 20px; text-rendering: optimizelegibility; font-size: 14px;"> <span style="font-size: 12px;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đồng Hưu l&agrave; x&atilde; miền n&uacute;i của huyện Y&ecirc;n Thế, tỉnh Bắc Giang, điều kiện tự nhi&ecirc;n kh&aacute; thuận lợi cho ph&aacute;t triển vườn đồi, trang trại, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, phong ph&uacute;, c&oacute; gi&aacute; trị kinh tế cao như nhung hươu, mật ong, g&agrave; đồi, c&acirc;y l&acirc;m nghiệp v&agrave; c&aacute;c loại c&acirc;y ăn quả c&oacute; m&uacute;i. Đặc biệt, n&oacute;i đến Đồng Hưu, kh&ocirc;ng thể kh&ocirc;ng nhắc sản phẩm nổi tiếng l&agrave; nhung hươu.</span></span></h5>
Đồng Hưu là xã miền núi của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho phát triển vườn đồi, trang trại, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú, có giá trị kinh tế cao như nhung hươu, mật ong, gà đồi, cây lâm nghiệp và các loại cây ăn quả có múi. Đặc biệt, nói đến Đồng Hưu, không thể không nhắc sản phẩm nổi tiếng là nhung hươu.

Nuôi hươu lấy nhung ở Đồng Hưu đang phát triển khá mạnh, là sản phẩm thế mạnh, riêng biệt không phải vùng nào cũng có. Tuy nhiên, trước đây giá trị mang lại chưa thật sự xứng với tiềm năng. Vài năm trở lại đây, được sự quan tâm của các cấp, ngành, xã Đồng Hưu lựa chọn sản phẩm nhung hươu là sản phẩm chủ lực tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) để nâng tầm sản phẩm.

Mỗi con hươu đực được nhốt vào từng ô chuồng riêng để tránh đánh nhau

Được biết đến là một trong những hộ chăn nuôi hươu quy mô lớn ở xã Đồng Hưu, gia đình ông Lê Văn Cường ở thôn Trại Vanh hiện đang nuôi hươu cho biết: do ít vốn nên ban đầu gia đình chỉ đầu tư mua 5 con hươu sao giống về nuôi. Nhờ áp dụng kiến thức nuôi hươu học được sau lần tham quan mô hình tại các mô hình nuôi hươu khác, đàn hươu phát triển, sinh sản tốt. Sang năm thứ hai, đàn hươu bắt đầu sinh sản lứa thứ nhất.

Những năm đầu, ông Cường chủ yếu gây giống để nhân đàn. Sau đó, mở rộng quy mô chuồng nuôi, đến nay đàn hươu phát triển lên 21 con, trong đó 13 con đực đang cho khai thác nhung, 6 con nái và 2 hươu con được 5 tháng tuổi. Mỗi con đực sau khoảng 18 tháng tuổi bắt đầu cho khai thác nhung. Lần đầu khai thác, mỗi con cho từ 1- 2 lạng nhung. Những năm tiếp theo sản lượng đạt cao dần lên và đến năm thứ 7 thì sản lượng nhung đạt cao nhất, mỗi con đạt 1,5kg nhung/năm, cá biệt, những con to đạt 1 – 1,1 kg nhung/con/ lần khai thác.

Thời gian khai thác nhung theo mùa, mỗi con hươu cho 2 đợt nhung. Hươu ra nhung khoảng từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau là cắt mẻ nhung cuối cùng. Nhung ra nhiều nhất là tháng 2, khi mùa xuân đến, mùa của đâm chồi nảy lộc nên con nào cũng ra nhung bất kể là ra lần một hay lần hai. Nếu tháng 2 ra nhung thì đến tháng 5 được cắt nhung.

Trong quá trình chăn nuôi, ngoài kinh nghiệm thực tế, ông Cường còn chịu khó tìm học tài liệu kỹ thuật chăm sóc. Do vậy, ông đã nắm được đặc tính của hươu. Chăm sóc hươu không khó, thức ăn của chúng chủ yếu là lá cây rừng, cỏ voi và các loại rau, củ, quả. Từ tháng 10 trở đi, giai đoạn trước khi lên nhung khoảng 3 tháng thì người nuôi nên chăm sóc bổ sung dinh dưỡng cho hươu để nhung được to, phát triển tốt. Đến giai đoạn này, người nuôi hươu nên bổ sung thêm mầm ngô, đậu tương bằng cách ngâm ủ hạt giống như làm giá đỗ để cho hươu ăn và cần cho ăn cà dốt để có được màu nhung đẹp hơn, chất lượng nhung tốt.

Ông Cường bật mí, “Hươu là loài vật dễ nuôi, chủ yếu nuôi nhốt. Vốn đầu tư ban đầu không lớn, chỉ từ 20 triệu đồng/cặp giống. Khi hươu đủ 2 tuổi bắt đầu sinh sản, trong khi hươu đực cũng cho khai thác nhung lần đầu. Đợt khai thác nhung vừa qua, gia đình tôi thu hoạch được 13kg nhung, với giá bán tại nhà dao động từ 17 – 20 triệu đồng/kg tùy thời điểm, trừ các khoản chi phí đem lại thu nhập trên 200 triệu đồng/năm. Ngoài khai thác nhung, hàng năm gia đình tôi còn thu được hàng chục triệu đồng từ việc bán con giống”.

Học tập mô hình của ông Cường, hiện nay trên địa bàn xã Đồng Hưu có 45 hộ nuôi hươu, quy mô mỗi hộ khoảng từ 5- 20 con. Cùng đó, ông Cường cũng hỗ trợ kỹ thuật và bán giống cho các hộ trên địa bàn để mở rộng quy mô, phát triển mô hình và cho hiệu quả khá tốt.

Anh Nguyễn Khắc Hải- Chủ tịch Hội Nông dân xã Đồng Hưu, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang cho biết, “ông Lê Văn Cường nuôi hươu được gần 20 năm, đây là mô hình chăn nuôi hươu tiêu biểu của xã. Thực tế nuôi hươu của ông Cường cho hiệu quả rõ rệt. Tới đây, xã Đồng Hưu đăng ký thành lập Tổ hợp tác, Hợp tác xã chăn nuôi hươu nhằm liên kết các hộ trong sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm. Từ đó, nâng tầm sản phẩm nhung hươu mà xã đã đăng ký nhung hươu là sản phẩm chủ lực tham gia chương trình mỗi xã một sản phẩm nhằm tạo việc làm tại chỗ và tăng thu nhập cho bà con ở địa phương”.

Hương Giang-

TheoTT snnptnt.bacgiang.gov.vn

Yên Thế: Đồng Hưu nâng tầm sản phẩm nhung hươu

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: &quot;Times New Roman&quot;, serif; text-align: justify;">Đồng Hưu l&agrave; x&atilde; miền n&uacute;i của huyện Y&ecirc;n Thế, điều kiện tự nhi&ecirc;n kh&aacute; thuận lợi cho ph&aacute;t triển vườn đồi, trang trại, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, phong ph&uacute;, c&oacute; gi&aacute; trị kinh tế cao như nhung hươu, mật ong, g&agrave; đồi, c&acirc;y l&acirc;m nghiệp v&agrave; c&aacute;c loại c&acirc;y ăn quả c&oacute; m&uacute;i. Đặc biệt, n&oacute;i đến Đồng Hưu, kh&ocirc;ng thể kh&ocirc;ng nhắc sản phẩm nổi tiếng l&agrave; nhung hươu.</span></p>

Mỗi con hươu đực được nhốt vào từng ô chuồng riêng để tránh hiện tượng đánh nhau

Đồng Hưu là xã miền núi của huyện Yên Thế, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho phát triển vườn đồi, trang trại, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú, có giá trị kinh tế cao như nhung hươu, mật ong, gà đồi, cây lâm nghiệp và các loại cây ăn quả có múi. Đặc biệt, nói đến Đồng Hưu, không thể không nhắc sản phẩm nổi tiếng là nhung hươu.

Nuôi hươu lấy nhung ở Đồng Hưu đang phát triển khá mạnh, là sản phẩm thế mạnh, riêng biệt không phải vùng nào cũng có. Tuy nhiên, trước đây giá trị mang lại chưa thật sự xứng với tiềm năng. Vài năm trở lại đây, được sự quan tâm của các cấp, ngành, xã Đồng Hưu lựa chọn sản phẩm nhung hươu là sản phẩm chủ lực tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) để nâng tầm sản phẩm.

Được biết đến là một trong những hộ chăn nuôi hươu quy mô lớn ở xã Đồng Hưu, gia đình ông Lê Văn Cường ở thôn Trại Vanh hiện đang nuôi hươu cho biết: do ít vốn nên ban đầu gia đình chỉ đầu tư mua 5 con hươu sao giống về nuôi. Nhờ áp dụng kiến thức nuôi hươu học được sau lần tham quan mô hình tại các mô hình nuôi hươu khác, đàn hươu phát triển, sinh sản tốt. Sang năm thứ hai, đàn hươu bắt đầu sinh sản lứa thứ nhất.

Những năm đầu, ông Cường chủ yếu gây giống để nhân đàn. Sau đó, mở rộng quy mô chuồng nuôi, đến nay đàn hươu phát triển lên 21 con, trong đó 13 con đực đang cho khai thác nhung, 6 con nái và 2 hươu con được 5 tháng tuổi. Mỗi con đực sau khoảng 18 tháng tuổi bắt đầu cho khai thác nhung. Lần đầu khai thác, mỗi con cho từ 1- 2 lạng nhung. Những năm tiếp theo sản lượng đạt cao dần lên và đến năm thứ 7 thì sản lượng nhung đạt cao nhất, mỗi con đạt 1,5kg nhung/năm, cá biệt, những con to đạt 1 – 1,1 kg nhung/con/ lần khai thác.

Thời gian khai thác nhung theo mùa, mỗi con hươu cho 2 đợt nhung. Hươu ra nhung khoảng từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau là cắt mẻ nhung cuối cùng. Nhung ra nhiều nhất là tháng 2, khi mùa xuân đến, mùa của đâm chồi nảy lộc nên con nào cũng ra nhung bất kể là ra lần một hay lần hai. Nếu tháng 2 ra nhung thì đến tháng 5 được cắt nhung.

Trong quá trình chăn nuôi, ngoài kinh nghiệm thực tế, ông Cường còn chịu khó tìm học tài liệu kỹ thuật chăm sóc. Do vậy, ông đã nắm được đặc tính của hươu. Chăm sóc hươu không khó, thức ăn của chúng chủ yếu là lá cây rừng, cỏ voi và các loại rau, củ, quả. Từ tháng 10 trở đi, giai đoạn trước khi lên nhung khoảng 3 tháng thì người nuôi nên chăm sóc bổ sung dinh dưỡng cho hươu để nhung được to, phát triển tốt. Đến giai đoạn này, người nuôi hươu nên bổ sung thêm mầm ngô, đậu tương bằng cách ngâm ủ hạt giống như làm giá đỗ để cho hươu ăn và cần cho ăn cà dốt để có được màu nhung đẹp hơn, chất lượng nhung tốt.

Ông Cường bật mí, “Hươu là loài vật dễ nuôi, chủ yếu nuôi nhốt. Vốn đầu tư ban đầu không lớn, chỉ từ 20 triệu đồng/cặp giống. Khi hươu đủ 2 tuổi bắt đầu sinh sản, trong khi hươu đực cũng cho khai thác nhung lần đầu. Đợt khai thác nhung vừa qua, gia đình tôi thu hoạch được 13kg nhung, với giá bán tại nhà dao động từ 17 – 20 triệu đồng/kg tùy thời điểm, trừ các khoản chi phí đem lại thu nhập trên 200 triệu đồng/năm. Ngoài khai thác nhung, hàng năm gia đình tôi còn thu được hàng chục triệu đồng từ việc bán con giống”.

Học tập mô hình của ông Cường, hiện nay trên địa bàn xã Đồng Hưu có 45 hộ nuôi hươu, quy mô mỗi hộ khoảng từ 5- 20 con. Cùng đó, ông Cường cũng hỗ trợ kỹ thuật và bán giống cho các hộ trên địa bàn để mở rộng quy mô, phát triển mô hình và cho hiệu quả khá tốt.

Anh Nguyễn Khắc Hải- Chủ tịch Hội Nông dân xã Đồng Hưu cho biết, “ông Lê Văn Cường nuôi hươu được gần 20 năm, đây là mô hình chăn nuôi hươu tiêu biểu của xã. Thực tế nuôi hươu của ông Cường cho hiệu quả rõ rệt. Tới đây, xã Đồng Hưu đăng ký thành lập Tổ hợp tác, Hợp tác xã chăn nuôi hươu nhằm liên kết các hộ trong sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm. Từ đó, nâng tầm sản phẩm nhung hươu mà xã đã đăng ký nhung hươu là sản phẩm chủ lực tham gia chương trình mỗi xã một sản phẩm nhằm tạo việc làm tại chỗ và tăng thu nhập cho bà con ở địa phương”.

Bài, ảnh: Hương Giang

Theo http://khuyennongbacgiang.com/

Lục Nam: Lợn “sạch” Vô Tranh

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<p> <span style="color: rgb(51, 51, 51); font-family: &quot;Times New Roman&quot;, serif; text-align: justify;">Hiện nay, vấn đề an to&agrave;n vệ sinh thực phẩm đang được người ti&ecirc;u d&ugrave;ng quan t&acirc;m, nhất l&agrave; sản phẩm chăn nu&ocirc;i sạch theo quy tr&igrave;nh đảm bảo an to&agrave;n. Xuất ph&aacute;t từ thực tế đ&oacute;, gia đ&igrave;nh anh Ng&ocirc; Thế Cường th&ocirc;n Ao V&egrave;, x&atilde; V&ocirc; Tranh, huyện Lục Nam đ&atilde; mạnh dạn đầu tư hệ thống chuồng trại chăn nu&ocirc;i lợn theo phương ph&aacute;p hữu cơ, với mục ti&ecirc;u hướng tới sản phẩm sạch đ&aacute;p ứng nhu cầu của người ti&ecirc;u d&ugrave;ng.</span></p>

 

Hiện nay, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm đang được người tiêu dùng quan tâm, nhất là sản phẩm chăn nuôi sạch theo quy trình đảm bảo an toàn. Xuất phát từ thực tế đó, gia đình anh Ngô Thế Cường thôn Ao Vè, xã Vô Tranh, huyện Lục Nam đã mạnh dạn đầu tư hệ thống chuồng trại chăn nuôi lợn theo phương pháp hữu cơ, với mục tiêu hướng tới sản phẩm sạch đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

 

 

Theo chân cán bộ nông nghiệp xã Vô Tranh chúng tôi đến thăm trại lợn với tổng diện tích gần 2ha, chăn nuôi theo hướng hữu cơ của gia đình anh Cường, diện tích chuồng trại 500m2, diện tích còn lại được anh Cường bố trí trồng các loại rau phục vụ nuôi lợn hữu cơ và các loại cây ăn quả như bưởi, cam, hồng xiêm, chuối và chăn nuôi gà.

Anh Cường cho biết, “sau khi khảo sát thị trường, tham khảo các thông tin, tôi nhận thấy, người dân ngày càng chú ý đến việc tiêu dùng các loại thực phẩm sạch mà thịt lợn là một trong những thực phẩm có nhu cầu tiêu dùng nhiều. Phần lớn người dân hiện nay đều mua thịt lợn theo kiểu tìm những chỗ thân quen, chủ yếu dựa vào sự tin tưởng lẫn nhau để mua. Tôi nghĩ tại sao mình không chuyển sang nuôi lợn sạch để đáp ứng nhu cầu của thị trường và mở hướng mới trong nghề chăn nuôi”.

Năm 2019, gia đình anh Cường bắt đầu xây dựng trang trại lợn bằng hệ thống chuồng sàn chăn nuôi lợn tiết kiệm nước giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi, mặt chuồng nuôi luôn khô ráo, lợn sạch sẽ ít bệnh, không tốn công chăm sóc, dọn dẹp và đặc biệt không tốn nước rửa chuồng. Ngoài ra gia đình anh còn xây bể biogas để vừa xử lý chất thải chăn nuôi và vừa có khí ga để đun nấu. Sau khi xây xong chuồng và dịch tả lợn Châu Phi ổn định anh bắt đầu vào chăn nuôi lợn hữu cơ, ban đầu nuôi với quy mô gần 70 con.

Khu vực nuôi lợn của gia đình anh được bố trí rất quy củ, gồm 6 chuồng, phân chia theo lứa tuổi gồm khu nuôi lợn nái sinh sản, khu nuôi lợn mới tách mẹ và đặc biệt có khu nuôi lợn con lợn con sau khi được tách mẹ và được chăm sóc ổn định khoẻ thì cho vào chuồng.

Thức ăn toàn bộ sử dụng các loại thức ăn tự nhiên hữu cơ như cám gạo, cám ngô. Rau xanh để ủ làm thức ăn cho lợn. Để bổ sung thêm chất đạm, dinh dưỡng cho lợn, anh Cường còn đầu tư xây dựng cả một khu chuồng nuôi trùn quế với diện tích 300m2. Sản phẩm trùn sẽ làm thức ăn cho lợn.

Chăn nuôi hữu cơ, công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn lợn được gia đình anh rất quan trọng. Theo anh Cường, việc phòng bệnh được anh ưu tiên hàng đầu. thực hiện chặt chẽ nghiêm ngặt công tác phòng bệnh, phun thuốc khử trùng toàn bộ và xung quanh chuồng trại thường xuyên, người ra vào chuồng cũng phải tuân thủ tiêu độc khử trùng trước khi ra vào khu vực chuồng trại. Nếu như nuôi lợn theo phương pháp công nghiệp thời gian nuôi từ khi sinh đến khi xuất chuồng chỉ mất khoảng 4- 4,5 tháng, thì nuôi lợn phương pháp hữu cơ phải mất 6 - 7 tháng, bởi khi lợn nuôi lâu, lớn chậm thì da mới dày và thịt mới chắc, thơm ngon. Đầu năm, gia đình đã bán 50 con lợn thịt, lợn này được gia đình mổ bán với giá bán 150.000 đồng/kg trừ chi phí thu lãi 400 triệu đồng, trong khi đó, thịt lợn tại địa phương bán với giá 135.000 đồng/kg.

Sau khi thấy hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi anh Cường mở rộng quy mô lên 12 lợn nái sinh sản và gần 200 con lợn thịt. Lợn nái sinh sản đến đâu gia đình để nhân giống để nuôi. Hiện, có 25 - 30 con lợn thịt đang đạt trọng lượng 90kg dự kiến 20 ngày nữa xuất chuồng với giá bán hiện tại 170.000 đồng/kg ước tính thu lãi khoảng 300 triệu.

Thịt lợn của gia đình anh bán cho bà con quanh xã mọi người đều phản hồi thịt thơm ngon. Dự kiến thời gian tới anh sẽ mở rộng thị trường và đưa sản phẩm lợn hữu cơ vào các cửa hàng thực phẩm sạch của huyện và tỉnh Bắc Giang.

Ông Tăng Văn Luật - Giám đốc trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện Lục Nam cho biết mô hình chăn nuôi lợn theo phương pháp hữu cơ là cách làm mới, mạnh dạn của gia đình anh Ngô Thế Cường. Đây là mô hình có hướng phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp, tạo ra sản phẩm an toàn cho sức khoẻ người tiêu dùng.

Bài, ảnh: Trần Vĩnh

theo http://khuyennongbacgiang.com/

 

 

Bắc Giang: Công nghệ Wetland xử lý hiệu quả môi trường chăn nuôi

Nhóm thông tin: 
Giới thiệu: 
<h5 style="text-align: justify;"> <span style="font-size: 12px;">Đến thăm trang trại chăn nu&ocirc;i của gia đ&igrave;nh anh Dương Đức Việt ở th&ocirc;n Nguộn, x&atilde; Thượng Lan, huyện Việt Y&ecirc;n, mỗi năm chăn nu&ocirc;i h&agrave;ng trăm con lợn thịt kh&ocirc;ng những đem lại lợi nhuận kinh tế h&agrave;ng trăm triệu đồng m&agrave; c&ograve;n đem lại hiệu quả kinh tế cao từ thu hoạch c&aacute; v&agrave; c&acirc;y ăn quả&hellip;</span></h5> <p style="text-align: justify;"> Đ&acirc;y cũng l&agrave; hộ ti&ecirc;n phong trong việc ứng dụng m&ocirc; h&igrave;nh xử l&yacute; nước thải sau biogas bằng c&ocirc;ng nghệ Wetland đem lại hiệu quả thiết thực.</p>
Đến thăm trang trại chăn nuôi của gia đình anh Dương Đức Việt ở thôn Nguộn, xã Thượng Lan, huyện Việt Yên, mỗi năm chăn nuôi hàng trăm con lợn thịt không những đem lại lợi nhuận kinh tế hàng trăm triệu đồng mà còn đem lại hiệu quả kinh tế cao từ thu hoạch cá và cây ăn quả…

Đây cũng là hộ tiên phong trong việc ứng dụng mô hình xử lý nước thải sau biogas bằng công nghệ Wetland đem lại hiệu quả thiết thực.

Trang trại chăn nuôi của anh Việt nằm xa khu dân cư, với quy mô trang trại khoảng 3 mẫu, gia đình anh quy hoạch khoảng 2 mẫu là chuồng nuôi lợn, vườn cây ăn quả, còn lại 1 mẫu đào ao, thả cá. Từ khi bắt đầu nuôi lợn gia đình có xây dựng hầm khí sinh học để xả chất thải của lợn. Nhưng nhận thấy, để xử lý triệt để hơn mùi hôi cần xây dựng mô hình xử lý chất thải sau biogas bằng công nghệ Wetland nên anh đã được Dự án Hỗ trợ Nông nghiệp cac bon thấp tư vấn và hỗ trợ xây dựng.

Hệ thống bể Wetland của gia đình anh Dương Đức Việt 

Đây là mô hình xử lý nước thải sau biogas bằng phương pháp sinh học và cơ học không sử dụng hóa chất nhờ những loại cây thủy sinh như cỏ voi, cỏ Vetiver... Xử lý nước bằng cách lợi dụng khả năng hấp thụ các chất ô nhiễm của các loại thủy sinh như các chất hữu cơ, amoni, các kim loại nặng, As, Fe …, chúng hấp thụ các chất khó phân giải này như nguồn thức ăn từ đó phát triển thành sinh khối. Từ đó, các chất ô nhiễm sẽ bị loại bỏ trong quá trình chúng phát triển.

Theo đánh giá của anh Dương Đức Việt, từ khi xây dựng bể xử lý nước thải sau biogas mùi hôi từ môi chuồng trại không còn nữa. Đặc biệt, nước thải sau biogas được chảy xuống bể và qua các ngăn lọc đến bể chứa có thể tận dụng làm nước tưới cho vườn cây ăn quả và định kỳ xả xuống ao nuôi cá.

Thăm quan vườn cây ăn quả của anh Việt để cảm nhận được màu xanh tốt của cây bưởi, hồng xiêm, chanh và đặc biệt dưới những tán cây đó hàng năm, gia đình thu hoạch được hàng tấn sả, đem lại lợi nhuận khoảng 30-40 triệu đồng. Xung quanh vườn, các loại rau ăn lá mọc xanh tốt, xum xuê, đó thực sự là nguồn rau hữu cơ được tưới nước ở bể nước thải sau biogas. Toàn bộ khu vườn vẫn xanh tốt mà không cần mất tiền mua phân hóa học, mỗi năm cũng tiết kiệm được một khoản chi phí cho gia đình.

Vườn cây nhà anh Dương Đức Việt xanh tốt nhờ nước tưới sau biogas

Anh Ngô Văn Cường, kỹ thuật viên Dự án LCASP huyện Việt Yên cho biết, hiện công nghệ Wetland đang được đánh giá là công nghệ xử lý nước thải mới nhất, hiện đại nhất, ứng dụng rộng rãi, như một giải pháp cho phương án xử lý nước cấp, nước thải mà yêu cầu không dùng hóa chất, thân thiện với môi trường và phù hợp với xu thế phát triển. Với khả năng xử lý làm sạch môi trường nước sau biogas, thì hệ thống này còn làm cho khuôn viên xanh sạch, mang lại cho người dân sống trong khu vực bầu không khí trong lành. Công nghệ Wetland được ứng dụng rộng rãi sẽ giúp việc xử lý hiệu quả nước thải sau biogas, thân thiện với môi trường. Mô hình cần được tuyên truyền và nhân ra diện rộng để các trang trại, gia trại chăn nuôi đều được tiếp cận.

Theo https://snnptnt.bacgiang.gov.vn/