Chăn nuôi-Gia súc

KỸ THUẬT VỖ BÉO BÒ

Nhóm thông tin: 
Hiện nay, nông dân Bến Tre có xu hướng mua bò gầy về vỗ béo để bán bò thịt. Tuy nhiên, nhiều người vẫn lúng túng về kỹ thuật vỗ béo bò để đem lại triệu quả kinh tế cao.
Chọn bò để vỗ bé Bò lý tưởng để nuôi vỗ béo là bò có bộ khung cơ thể càng lớn càng tốt. Loại bò này sẽ đạt được tốc độ tăng trọng khá nhanh. Thời gian cần thiết vỗ béo bò chỉ cần khoảng 2 tháng. Bò cái loại càng gầy, càng xấu có thể mang lại nhiều lợi nhuận ở giai đoạn đầu vỗ béo vì tiêu tốn thức ăn ít. Bò gầy thường mua giá rẻ hơn. Hoặc vỗ béo bò đực tơ lai Sind siêu thịt.
Nhu cầu thức ăn và năng lượng vỗ béo bò: Để bo có tốc độ lớn nhanh nhất thì lượng thức ăn đảm bảo năng lượng cao được ăn vào hàng ngày là 2,5% trọng lượng cơ thể. Ví dụ, bò nặng 200kg cần khoảng 5kg vật chất khô trong một ngày, còn thức ăn thô xơ khoảng 15 - 20kg. Khẩu phần hoàn chỉnh là đủ tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho bò. Bò có thể tự do lựa chọn sau khi đã trộn lẫn hoàn toàn cả hai loại thức ăn tinh và thô với nhau. Phương pháp cho ăn và tập cho bò ăn thức ăn tinh vô cùng quan trọng. Lúc đầu nên cho bò ăn nhiều thức ăn thô xanh, ít thức ăn tinh để bò làm quen với khẩu phần năng lượng cao. Nếu ngay từ đầu bò ăn nhiều thức ăn tinh có thể bị chết do ngộ độc axít (acidosis). Thức ăn thô xanh cần sử dựng kết hợp với thức ăn tinh để tạo ra một khẩu phần ăn hoàn chỉnh.
Phương pháp cho bò ăn: Tốt nhất là trộn vào máng ăn hỗn hợp bao gồm các nguyên liệu như sau: 5 kg mía chặt nhỏ hoặc cỏ xanh chặt nhỏ và 4kg thức ăn tinh hỗn hợp (65% bột khoai mì), rơm để riêng nếu bò muốn ăn và uống nước tự do. Phương pháp vỗ béo sử dụng cây mía chặt nhỏ hoặc cỏ xanh cộng với thức ăn tinh (khoai mì) rất thuận tiện và rẻ tiền. Nguyên liệu thô dùng để phối hợp thức ăn tinh thường không phải nghiện nhỏ trừ ngô (bắp) khi cần được thay thế cho tấm. Phối hợp 100 kg thức ăn trộn bằng xẻng trên nền nhà bằng xi măng, gạch hoặc bê tông. Việc cân đo số lượng thành phần các nguyên liệu thức ăn rất quan trọng, đặc biệt đối với 3% urê có trong khẩu phần. Vì nếu urê vượt quá giới hạn cho phép có thể gây ngộ độc do hàm lượng Amôniăc, vì vậy cần tuân thủ theo sự hướng dẫn khi cân nguyên vật liệu để phối hợp thức ăn cũng như khi cho bò ăn loại khẩu phần này.
Ngoài ra cần giữ vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, thoáng mát về mùa nông, ấm về mùa mưa. Thức ăn phải bảo quản nơi khô ráo, tuân thủ đúng theo quy trình phòng bệnh và định kỳ xổ lãi cho bò.
 
                                                                                                                                                                                                                                     BBT

CÁCH PHỐI TRỘN THỨC ĂN CHO LỢN CON BỊ MẤT MẸ HOẶC MẤT SỮA

Nhóm thông tin: 
Giai đoạn đầu 7-10 ngy tuổi: dùng sữa bột tốt 97%, mật ong 2% và 1% Premix khoáng sinh tế. Tất cả trộn đều cho ăn 25-40g/con (tuỳ theo giống lợn) với 150cc nhóc ấm đun sôi. Cho ăn mỗi ngy 6 bữa vào lúc 6-9- 12-15-18-21 giờ trong ngày. Trong 2 ngày đầu, lợn con chưa quen có thể dùng găng tay (tránh sờ trực tiếp bàn tay vào lợn) bắt từng con, lấy lông gà sạch quệt hỗn hợp thức ăn ny vào miệng lợn con. Sang ngày thứ 4 cho ăn bằng thìa. Khi bón cho từng con hạ dần thìa xuống đĩa để lợn con liếm láp tha và sau đó tự liếm trên đĩa, không cần phải bón nữa, lợn con sẽ tự đến đĩa ăn. Chỉ cần huấn luyện vi con biết ăn, những con khác sẽ bắt chước đến ăn đĩa. Nếu lượng lợn con nhiều có thể cho ăn bằng máng nông rộng hơn.
- Giai đoạn 11-20 ngy: lấy 1/3 sữa bột đóng túi trộn với 2/3 bột m trộn đều rồi ho với nước nấu chín, để nguội trộn với 1% Premix khoáng sinh tố (hoặc thay bằng 100-200g rau xanh non thái nhỏ và 0,5% bột khoáng). Giai đoạn này mỗi con cho ăn 110-250g hỗn hợp chia làm 5 bữa vào 6-10-14-18-20 giờ trong ngày.
- Giai đoạn từ 40-60 ngy: Nơi nào có yêu cầu nuôi lợn con có khối lượng lớn hơn thì nuôi tiếp đến 60 ngy. Dùng cám gạo loại 1 (bỏ trấu bổi) 58% + 8% bột đỗ tương + 4% bột cá nhạt trộn đều, nấu chín dạng lỏng sệt, để nguội bớt, rồi trộn với 1% Premix khoáng sinh tố hoặc thay bằng 10% bột ngô bằng bỗng rượu. Cho ăn hỗn hợp ny trên mỗi con 200-350g/ngày, chia làm 4-5 bữa/ngày. Ngoài ra có thể dùng 45% cám gạo tốt + 30% bột ngô nấu thật nhừ để nguội rồi trộn với 25% thức ăn đậm đặc dính cho lợn con tập ăn của các hăng Proconco, Higro CP... để nuôi lợn con giai đoạn này.
4. Phòng trị bệnh
- Thường xuyên giữ ô úm, nền chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Sau mỗi bữa ăn rửa máng sạch sẽ. Sau mỗi lứa xuất chuồng cọ rửa chuồng sạch sẽ, tiu độc ô úm, khe kẽ các dóng ngăn, nền chuồng v để trống chuồng từ 3- 5 ngày mới nhập đàn mới.
- Khi cho đn lợn ăn, quan sát phát hiện những con lờ đờ ăn kém, chậm chạp để kịp thời bắt nhốt ring theo dõi chữa trị và bồi dưỡng tốt hơn.
- Tiêm phòng: 20 ngày tiêm vaccin dịch tả, 25 ngày tiêm vaccin đóng dấu -tụ huyết trùng, 30 ngày tẩy giun sán, 35 ngày tiêm nhắc lại vaccin dịch tả.
 
                                                                                                                                                                                                                                     BBT

ĐỂ GIA SÚC KHÔNG BỊ NGỘ ĐỘC LÁ SẮN

Nhóm thông tin: 
Trâu, bò, lợn đều rất thích ăn lá sắn. Nhưng nếu để chúng ăn nhiều sẽ bị ngộ độc vì lá sắn chứa chất độc axit cianhydric, nồng độ cao trên 320 mg/kg lá, vì vậy khi gia súc ăn nhiều sẽ bị ngộ độc nặng, có thể tử vong.
 
Để làm giảm nồng độ axit cianhydric, người chăn nuôi cần lấy lá sắn đem ủ chua, sau một thời gian từ 70 ngày trở lên sẽ làm giảm nồng độ axit tới mức cho phép là 0,32mg/kg lá, khi đó mới cho gia súc ăn sẽ an toàn tuyệt đối. Lá sắn khi ủ chua cho gia súc ăn rất có lợi cho cơ thể nhất là những con gia súc vừa sinh sản được ăn lá sắn ủ chua sẽ tiết nhiều sữa cho con bú.
 
Cách ủ chua lá sắn như sau: Cứ 100 kg lá sắn đem về cắt ngắn từ 1,5 đến 2 cm, trộn với khoảng 5 đến 8 kg cám gạo hay bột mỳ. Tuỳ theo số lượng lá sắn, ta đào hố vừa đủ chứa, sau khi trộn lá sắn và cám gạo đều ta rải các lớp lá sắn lên. Cứ 20 cm một lớp, sau đó dùng chân dẫm lên nén thật chặt. Xếp xong các lớp lá sắn, lấp đất đầy trên hố dầm chặt theo kiểu mu rùa. Khoảng nửa tháng sau khi lá sắn xẹp xuống ta đắp đất tiếp theo cho đầy như cũ. Khoảng từ 80 ngày trở lên là lấy lá sắn cho gia súc ăn được. Khi đó lá sắn có mùi thơm gia súc thích ăn, đảm bảo an toàn tuyệt đối.
 
Theo Báo Nông Nghiệp Việt Nam

KỸ THUẬT NUÔI BÒ SINH SẢN VÀ BÊ LAI

Nhóm thông tin: 
I. Chọn bò cái sinh sản
 
1. Ngoại hình
 
- Dáng nhanh nhẹn, da mỏng, lông thưa, thuần tính, hiền lành, có sự hài hoà giữa các phần đầu và cổ, thân và vai.
 
- Đầu thanh nhẹ, mõm rộng, mũi to, hàm răng đều đặn, trắng bóng; cổ dài vừa phải và thanh, da cổ có nhiều nếp nhăn.
 
- Ngực sâu, rộng: Xương sườn mở rộng, cong về phía sau, bụng to nhưng không sệ, bốn chân thẳng và mảnh, móng khít, mông nở, lưng ít dốc.
 
- Bầu vú phát triển về phía sau, 4 núm vú đều, dài vừa phải, không có vú kẹ, da vú mỏng, đàn hồi, tĩnh mạch vú nổi rõ, phân nhánh ngoằn nghoèo.
 
2. Chọn bò cái sinh sản
 
Bò có khả năng đẻ sớm và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ngắn.
 
Bò động dục lần đầu khoảng 18-21 tháng tuổi, từ 27-30 tháng tuổi có thể đẻ lứa đầu.
 
Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ngắn: Từ 12-14 tháng đẻ 1 con bê.
 
II. Phối giống cho bò
 
1. Phát hiện động dục và phối giống
 
Muốn bò cái khi phối giống đạt tỷ lệ thụ tinh cao, phát hiện kịp thời bò cái động dục. Bò cái động dục có biểu hiện: bò kêu rống, đi lại bồn chồn, phá chuồng, kém ăn hoặc bỏ ăn, hưng phấn cao độ, thích nhảy lên lưng con khác sau đó đứng yên để con khác nhảy lên, âm hộ hơi mở, có màu đỏ hồng, niêm dịch từ âm hộ chảy ra như nhựa chuối.
 
2. Phối giống cho bò
 
Có 2 phương pháp:
 
- Thụ tinh nhân tạo: Dùng tinh cọng rạ đông lạnh và dụng cụ để dẫn tinh viên phối giống nhân tạo vào bò cái. Bê lai đẻ ra do thụ tinh nhân tạo sẽ đẹp và to hơn so với dùng bò đực cho phối giống trực tiếp.
 
- Dùng bò đực các giống Zebu thuần hoặc lai cho nhảy trực tiếp: ở những vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện phối giống nhân tạo. Tốt nhất là bò đực giống lai F2 có 3/4 máu của 1 trong các giống bò Red Sindhi, Sahiwal, Brahman.
 
III. Chăm sóc, nuôi dưỡng bò đẻ và bê
 
1. Chăm sóc bò chửa
 
Bò cái đẻ cần được ăn uống đầy đủ, mỗi ngày 30-35 kg cỏ tươi, 2 kg rơm ủ, 1kg thức ăn tinh (ngô, cám,…), 25- 30gr muối, 30-40 gr bột xương. Không bắt bò làm những việc nặng như: cày bừa, kéo xe,… Tránh xua đuổi mạnh đối với bò đang có chửa tháng thứ 3, tháng thứ 7, thứ 8 và thứ 9.
 
2. Đỡ đẻ cho bò
 
Thời gian mang thai trung bình của bò là 281 ngày.
 
- Triệu chứng bò sắp đẻ: Bò có hiện tượng sụt mông, bầu vú căng, đầu vú chĩa về hai bên, niêm dịch treo lòng thòng ở mép âm môn, đau bụng, đứng lên nằm xuống, chân cào đất, ỉa, đái nhiều lần, khi bắt đầu đẻ bọc ối thò ra ngoài trước.
 
- Đỡ đẻ cho bò: Trong trường hợp bò đẻ bình thường (thai thuận) không cần can thiệp hoặc chỉ cần hỗ trợ cho bò cái bằng cách dùng tay kéo nhẹ thai ra. Cắt dây rốn dài khoảng 10-12 cm (không cần buộc dây rốn), sát trùng bằng cồn Iốt 5%. Lau rớt, rãi trong mũi, mồm bê, để bò mẹ tự liếm con. Bóc móng để bê con đỡ trơn trượt khi mới tập đi. Vệ sinh phần thân sau và bầu vú bò mẹ, cho bò mẹ uống nước thêm ít muối, cám và nước ấm. Trường hợp đẻ khó phải gọi cán bộ thú y can thiệp kịp thời.
 
3. Chăm sóc, nuôi dưỡng bò đẻ và bê con
 
3.1. Đối với bò mẹ
 
- 15- 20 ngày đầu sau khi đẻ cho bò mẹ ăn cháo (1,0- 1,5 kg thức ăn tinh/con/ngày) và 25-30 gr muối ăn, 30-40 gr bột xương, có đủ cỏ non xanh ăn tại chuồng.
 
- Những ngày sau, trong suốt thời gian nuôi con, một ngày cho bò mẹ ăn 30 kg cỏ tươi, 2-3 kg rơm ủ, 1-2 kg cám hoặc thức ăn hỗn hợp để bò mẹ phục hồi sức khoẻ, nhanh động dục lại để phối giống.
 
3.2. Đối với bê
 
- Từ khi sinh ra đến 30 ngày tuổi bê được nuôi ở nhà, cạnh bò mẹ. Luôn giữ ấm cho bê, tránh gió lùa, chỗ bê nằm khô, sạch.
 
- Trên 1 tháng tuổi, chăn thả theo bò mẹ ở bãi gần chuồng, tập cho bê ăn thức ăn tinh.
 
- Từ 3-6 tháng tuổi: cho 5-10 kg cỏ tươi và 0,2 kg thức ăn tinh hỗn hợp. Tập cho bê ăn cỏ khô. Nên cai sữa bê vào khoảng 6 tháng tuổi.
 
- Từ 6- 24 tháng tuổi, chăn thả là chính, mỗi ngày cho ăn thêm 10-20 kg cỏ tươi, ngọn mía, cây ngô non. Mùa thiếu cỏ có thể cho ăn thêm 2-4 kg cỏ khô một ngày.
 
IV. Kỹ thuật ủ rơm với urê
 
Đặc điểm bộ máy tiêu hoá của trâu, bò, dê có thể chuyển hoá đạm vô cơ của urê thành nguồn đạm cho cơ thể, vì vậy nên áp dụng phương pháp ủ rơm với urê để bổ xung đạm cho bò.
 
- Cho urê, muối, vôi bột hoà tan trong nước rồi dùng bình tưới phun đều lên rơm khô theo từng lớp, sau đó ủ rơm trong bao nilông hoặc bể gạch đậy kín. Sau 7 ngày lấy dần cho bò ăn. Tỷ lệ urê 4kg cho 100 kg rơm khô.
 
V. Phòng và trị bệnh ký sinh trùng cho bò, bê
 
1. Ký sinh trùng ngoài da (ve, ruồi, muỗi, ghẻ,…)
 
- Dùng 1,25 g Neguvôn + 0,03 lít dầu ăn + 0,5 thìa xà phòng bột cho vào 1 lít nước rồi lắc cho thuốc tan đều. Lấy giẻ sạch tẩm dung dịch thuốc đã pha sát lên toàn thân trâu bò.
 
2. Giun sán
 
- Thuốc Lêvavét để tẩy giun tròn. Cứ 1 gói 5gr dùng cho 13-20kg trọng lượng hơi của bò, bê.
 
- Thuốc viên Fasinex 900 để tẩy sán lá gan. 1 viên cho 80-100 kg trọng lượng hơi của bò, bê, nhét trực tiếp vào miệng cho bò nuốt.
 
BBT
 

GIÀU LÊN NHỜ NUÔI LỢN SIÊU NẠC

Nhóm thông tin: 
Nói đến chăn nuôi theo phương thức sản xuất hàng hóa không còn xa lạ với nhiều người, nhưng ở quê tôi - Danh Thắng - Hiệp Hòa, thì anh Nguyễn Văn Nghiệp là người đi đầu, nói cho chính xác là người duy nhất đang thành công trong nuôi lợn siêu nạc.
 
Là một thanh niên nông thôn, học xong phổ thông, hoàn thành nghĩa vụ quân sự phục vụ tại ngũ từ năm 1985 ở biên giới Cao Bằng; cuối năm 1988, anh xuất ngũ về địa phương. Anh lập gia đình rồi ở riêng như bao thanh niên khác. Là một đảng viên trẻ được kết nạp từ trong quân đội, anh xông xáo, lăn lộn sớm khuya để đưa kinh tế gia đình đi lên. Hai vợ chồng, hai đứa con nhỏ với mảnh vườn và 3 sào ruộng, vài con lợn mỗi lứa, anh xoay sở tất bật quanh năm cũng chỉ đủ ăn, dư dật chẳng đáng là bao.
 
Năm 1995, anh mạnh dạn nhận thầu 1ha đồi sỏi khô cằn ở Đống Vồng một vùng đồi cao nhất xã. Thời kỳ đó đang có phong trào trồng vải thiều, anh vay vốn tập trung trồng vải. Đến khi vải thiều cho thu hoạch thì giá quá rẻ, 10 năm không thu đủ vốn. Mày mò học hỏi, tìm tòi, anh được bạn bè vẽ cho nhiều cách làm kinh tế. Qua tham khảo, anh thấy nuôi lợn siêu nạc có nhiều điểm phù hợp với điều kiện của anh. Năm 2006, anh vay vốn, đầu tư xây dựng chuồng trại, mua lợn giống. Khả năng có hạn, lại mới làm, anh chỉ mua 15 con lợn giống. Sau 8 tháng lợn bắt đầu đẻ. Lợn con đẻ ra bao nhiêu anh nuôi hết để bán lợn thịt. Năm 2007, anh mua thêm 5 con lợn nái. Năm 2008, đàn lợn nái của anh tăng lên 25 con, cho thu nhập hơn 30 tấn lợn thịt. Cuối năm anh đầu tư thêm 500 triệu, mở rộng chuồng trại. Đầu năm 2009, anh đưa đàn lợn nái lên 30 con, có 5 con nái hậu bị. Cả năm anh xuất 46 tấn lợn thịt. Trọng lượng xuất chuồng tăng gần gấp rưỡi năm 2008, nhưng thu nhập không bằng năm 2008, chỉ được gần 200 triệu đồng, do phải chi phí vào khâu phòng chống bệnh dịch nhiều.
 
Khác với những người có vốn, đầu tư lớn ngay từ đầu. Anh đầu tư theo kiểu “sâu đo”, có vốn đến đâu đầu tư đến đó, không phải vay vốn nhiều, phù hợp với khả năng của mình. Cuối năm 2009, anh đầu tư xây dựng thêm 500m2 chuồng trại và tăng thêm 5 nái hậu bị. Chuồng trại của anh xây dựng theo đúng quy chuẩn kỹ thuật của một trang trại chăn nuôi tạm gọi là “hiện đại” ở nông thôn. Đặc biệt là về vệ sinh an toàn sinh học, từ đôi ủng, đôi găng tay đến môi trường xung quanh. Hai hầm Bi-ô-ga của nhà anh đủ ga cho một máy nổ chạy suốt 10 giờ liền, cung cấp điện đủ cho yều cầu của công việc, không kể lượng ga dùng cho đun nấu.
 
Tổng vốn đầu tư của anh hiện nay là 1.700 triệu đồng. Hai vợ chồng anh thuê thêm 2 người làm với mức lương 2.000.000đ/tháng cả sinh hoạt. Thời vụ vẫn bảo đảm cho “công nhân” làm tốt việc cày, cấy, gặt hái, trồng mầu của gia đình họ.
 
Khi tôi đến thăm, anh vừa xuất một xe lợn. Anh đưa cho tôi xem quyển sổ vợ anh ghi: 2.181kg x 29.500đ = 64.300.000đ. Từ tháng 01/2010 đến hôm nay anh đã xuất 20 tấn lợn thịt, giá bình quân 30.000đ/kg.
 
Tổng đàn lợn của gia đình anh hiện có 30 nái đẻ (có 6 nái đang nuôi con), 5 nái hậu bị, 100 con lợn sữa, 150 con lợn thịt. Mỗi tháng anh cho 6 nái đẻ. Bình quân 10 lợn con một đàn. Đến bây giờ thì anh điều chỉnh cho lợn đẻ ban ngày, chứ không để đẻ đêm như thời kỳ đầu, có đêm hai vợ chồng phải khênh chõng ra chuồng lợn ngủ, thay nhau trông lợn đẻ, anh nói với tôi như vậy. Cách thức đầu tư của anh Nghiệp đang được nhiều hộ chăn nuôi khác làm theo./.
 
Nguyễn Thế Tính
 

NUÔI HEO RỪNG AN TOÀN BẰNG THẢO DƯỢC

Nhóm thông tin: 
Anh Đoàn Phan Dinh, ở ấp An Hòa, xã An Khánh, huyện Châu Thành (Đồng Tháp) nuôi heo rừng cho ngủ trên đệm lót sinh học và ăn cây thảo dược.
 

Anh Dinh đang tăng cường cho heo rừng ăn các loại thảo dược để có sức đề kháng tốt.
Nuôi heo hiện nay ở ĐBSCL đang trong tâm bão dịch tả, vậy mà trang trại gần 300 con heo rừng của anh Đoàn Phan Dinh, ở ấp An Hòa, xã An Khánh, huyện Châu Thành (Đồng Tháp) sống khỏe không bị dịch bệnh nhờ cách nuôi theo khoa học cho heo ngủ đệm lót sinh học và ăn thảo dược.
 
Anh Dinh chia sẻ, từ khi ĐBSCL xuất hiện dịch tả heo Châu Phi ở diện rộng làm tôi rất lo lắng không ăn ngủ được, không biết bệnh xuất hiện lúc nào ở đàn heo rừng nuôi của mình. Chính vì vậy anh nhận ra ý thức “phòng bệnh sẽ tốt hơn là trị bệnh” từ đó trang trại hơn 2.000m2 của anh khép kín không cho người lạ ra vào.
 
Người chăm sóc heo đảm bảo đồng phục, áo, quần, ủng, khẩu trang khi ra vào chuồng heo. Để đảm bảo an toàn, không cho lây bệnh từ bên ngoài vào chuồng trại anh luôn tuân thủ mỗi ngày phun thuốc sát trùng 3-4 lần, kết hợp rải vôi xung quanh.
 
Cái khác lạ mô hình của anh Dinh, là dành riêng 1 công đất chuyên trồng các loại rau thảo dược như đinh lăng, lược vàng, tam thất, chùm ngây, bìm bịp…để hái vào cho heo ăn giúp tiêu hóa tốt và tăng cường sức đề kháng.
Đặc biệt, bệnh này lây từ nhiều nguồn, nên anh không cho heo ăn các loại nông sản thừa ở bên ngoài, cũng không cho heo ăn cộng lục bình cắt từ sông rạch mang lên. Không cho heo uống nước sông mà chuyển sang uống nước máy hoặc nước giếng. 
 
Cho heo ăn các loại thức ăn từ bả hèm, tấm cám, các loại được nấu chín và các loại cây trồng xung quanh trong vườn nhà như chuối cây, rau muốn, rau lang.
 
Bên cạnh đó anh áp dụng toàn bộ trại heo rừng nuôi trên đệm lót sinh học và tuân thủ tiêm phòng dịch bệnh theo định kỳ cho đàn heo. Nhờ cách nuôi đó đến giờ anh Dinh khẳng định, đàn heo của các hộ dân nuôi trong xóm có dịch tả heo Châu Phi phải đem đi tiêu hủy, nhưng ngược lại trại heo của anh an toàn.
 
Tính đến nay trại heo của anh khỏe mạnh và chưa có con heo nào bị bệnh dịch tả heo Châu Phi, đồng thời anh xuất bán heo đều đặn khi có khách đặt mua.
 
 
Mô hình nuôi heo rừng trên đệm lót sinh học và cho ăn thức ăn thảo dược.
Anh Dinh kể, tôi sinh ra là đã mê heo, nhắc đến heo tôi nói từ sáng đến chiều cũng chưa hết chuyện tâm quyết với heo. Chính vì vậy học hết cấp 2, nên quyết tâm thi vào ĐH ngành Chăn nuôi thú y. Khi ra trường là về nhà lập nghiệp mở trại nuôi heo liền, đặc biệt chọn heo rừng lai. 
 
Do ban đầu ít vốn và chưa có kinh nghiệm nhiều nên chỉ nuôi gần chục con heo rừng theo dạng thả rông sống hoan dã với diện tích vài trăm mét, sung quanh có bao lưới bê 40 không cho heo ra ngoài. Lúc đó heo rừng là đối tượng nuôi khá mới ở địa phương, nhưng lại dùng cách rất cổ điển để làm, nên chi phí không cao, ai cũng làm được.
 
 
Mỗi năm thu nhập nuôi heo rừng liên kết của anh Dinh lãi hơn 1 tỷ đồng.
Nhờ cách nuôi đó mà đến nay, đàn heo của anh Dinh phát triển đã tăng lên khoảng 300 con lớn nhỏ với diện tích 2 công đất nuôi chuồng kết hợp nuôi thả lang, trong đó có 70 con heo nái cho sinh sản quanh năm. Trung bình mỗi tháng anh Dinh xuất bán khoảng 100 con heo giống và heo thịt.
 
Không dừng ở việc mở trang trại nuôi heo mà anh còn đứng ra liên kết các hộ dân chăn nuôi heo rừng ở 13 tỉnh thành ĐBSCL, cung cấp giống, kỹ thuật và cuối cùng bao tiêu heo cho nông dân. Bình quân 1 tháng anh thu mua khoảng 200 con để giao bán cho các quán ăn và nhà hàng ở các tỉnh miền Tây và TP.HCM. Bình quân, mỗi năm từ nguồn nuôi heo liên kết và trại sản xuất heo của anh cho thu nhập khoảng 1 tỷ đồng.
 
Từ thành công trên, năm 2016 anh Đoàn Phan Dinh đã thành lập Cty TNHH TM-DV Heo Rừng, được ngành kiểm lâm tỉnh Đồng Tháp cấp phép do chính anh làm giám đốc. Thực hiện ước mơ là liên kết nuôi heo rừng sạch và đồng hành cùng người nông dân làm giàu theo phương châm người nuôi có lời, người ăn có lợi.
 
Hiện nay mô hình liên kết nuôi heo rừng sạch và đồng hành cùng người nông dân làm giàu ở ĐBSCL.
Theo lý giải của anh Dinh, hiện nay dịch tả heo Châu Phi hoành hành làm mất lòng tin của người tiêu dùng, giá heo không ổn định, đầu ra có thể gặp khó… chính vì vậy anh đã mạnh dạn tổ chức lại sản xuất tại gia đình, anh Dinh quyết định mở rộng sản xuất thông qua việc tìm kiếm một cách làm ăn mới, đưa giống heo chất lượng đến với nông dân.
 
Anh bán heo giống cho người nuôi, sau đó sẽ cho người tư vấn kỹ thuật đến từ hộ nuôi hướng dẫn các biện pháp phòng bệnh. Lắp hệ thống camera miễn phí cho các hộ dân nhằm để theo dõi qua giám sát từ xa, cách thức cho ăn, tiêm phòng vắc-xin… Thu mua lại heo thịt hoặc heo giống với giá cao hơn so với giá thị trường vài chục ngàn đồng/kg.
 
Bình quân mỗi hộ nuôi heo rừng liên kết, đầu tư vốn ban đầu khoảng 17-20 triệu đồng (chuồng và con giống thường 3 cái 1 đực) nuôi trong vòng 18 tháng thu lãi khoảng 50-60 triệu đồng.
Đặc biệt, Cty Heo Rừng cam kết, sau 3 năm nuôi, người dân không sinh lợi, có quyền trả lại heo và lấy tiền đã đầu tư về. Từ những cam kết rất thực tế trên, đến nay toàn vùng ĐBSCL đã có gần 500 hộ tham gia mô hình với anh, trong đó có gần 3.000 con heo nái đang cho sinh sản quanh năm.
 
Định hướng phát triển của anh Dinh, sẽ tiếp tục mở rộng liên kết và bao tiêu sản phẩm cho người dân cả ĐBSCL. Bên cạnh đó, anh đang hoàn thành các thủ tục nuôi heo hướng VietGap. Đảm bảo nuôi heo rừng theo tiêu chí sạch từ chuồng nuôi đến bàn ăn và không gây ảnh hưởng môi trường. 
 
anh-5-anh-dinh-trong-cay-thao-duoc-de-phuc-vu-cho-heo-an-1.jpg
 
Anh Dinh trồng cây thảo dược để phục vụ cho heo ăn.
 
Không dừng ở đó anh Dinh còn mở các cửa hàng cung cấp heo sạch ở khắp các tỉnh ĐBSCL, và còn ra các sản phẩm thịt heo đóng gói như thịt heo tươi ướp gia vị, heo quay, xong khói, gác bếp, thịt heo rừng một nắng.
 
Theo Nongnghiep.vn

NUÔI DÊ VỖ BÉO 70 KG/CON, KHÔNG LO ĐẦU RA

Nhóm thông tin: 
Xã Lan Giới, huyện Tân Yên (Bắc Giang) có nhiều nông dân mạnh dạn đầu tư vốn nuôi dê theo phương thức vỗ béo tại chuồng với quy mô lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Điển hình là gia đình chị Nguyễn Thị Nga ở thôn Đá Ong có khoảng 400 con dê lai Bách Thảo, dê lai Boer. Theo chị Nga, mỗi năm chị nhập khoảng 600 con dê đực từ 15 - 20kg về nuôi. 
 
Sau ba tháng vỗ béo tại chuồng đạt trọng lượng từ 35 - 40 kg/con chị xuất bán một lứa.Mỗi lứa xuất khoảng 200 con với giá bán 130 - 150 nghìn đồng/kg, thu về gần 300 triệu/lứa. Sau khi đã trừ hết các khoản chi phí, một năm xuất bán được 3 lứa cho thu nhập lên tới gần 1 tỷ đồng.
 
 

 
Chị Nga chăm sóc đàn dê.
Chị Nga cho biết, nhờ nuôi dê vỗ béo mà gia đình chị có nguồn thu nhập khá. Để có đàn dê khỏe mạnh, sinh trưởng và phát triển tốt thì việc lựa chọn giống dê để vỗ béo là rất quan trọng. Dê đực phải là những con có ngoại hình khỏe mạnh, vạm vỡ, bốn chân vững chắc, nhanh nhẹn và hai tinh hoàn to đều. Dê cái có thân hình nở nang, cân đối, bộ lông bóng mượt, ngực sâu, bầu vú nở rộng.
 
Bên cạnh đó chị cũng rất chú trọng tới việc thiết kế chuồng trại sao cho thuận tiện trong quá trình vệ sinh. Mặt chuồng cách sàn từ 0,7 – 1m. Sàn chuồng làm bằng tre, nứa tạo những khe hở đủ để phân dê lọt xuống. Dưới sàn chuồng thường căng lưới dưới mỗi ô nuôi để hứng phân, vừa sạch sẽ lại tiết kiệm được công lao động.
 
Nhận thấy hiệu quả từ mô hình nuôi dê vỗ béo của gia đình chị Nga, nhiều hộ dân trong xã đã tìm hiểu và học tập kinh nghiệm nuôi.
 
Cùng xã Lan Giới, gia đình ông Nguyễn Văn Thận ở thôn Bãi Trại cũng là hộ nuôi dê có tiếng. Ông bắt đầu học nuôi dê từ năm 2016, đến nay quy mô đàn luôn duy trì 100 con.
 
Nhiều hộ làm giàu nhờ nuôi dê vỗ béo.
Ông Thận cho biết, do tận dụng được nguồn thức ăn phong phú của địa phương nên nuôi dê không tốn kém mà lại cho hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt giống dê lai Bách Thảo có khả năng tăng trọng tốt, con trưởng thành có thể nặng tới 60 - 70kg. Với giá bán bình quân 130.000 đồng/kg dê thịt như hiện nay thì mô hình vỗ béo dê đã thực sự khẳng định hiệu quả rõ rệt.
 
Cũng theo ông Thận, muốn chăn nuôi dê hiệu quả thì người nuôi phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng chuồng trại và phòng chống dịch bệnh. Chuồng nuôi dê phải luôn khô ráo và thoáng mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông. Thường xuyên làm công tác vệ sinh chuồng trại, tiêu độc khử trùng, tiêm phòng dịch bệnh.
 
Nhờ có kinh nghiệm chăn nuôi, phòng bệnh mà đàn dê của gia đình ông và nhiều hộ dân trong xã phát triển có chất lượng tốt, sản phẩm dê khi xuất bán được các thương lái ở các tỉnh Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Nguyên đến tận nơi thu mua.
 
Theo ông Khổng Trọng Thủy, cán bộ Thú y xã Lan Giới, khoảng 3 năm trở lại đây đàn dê trên địa bàn đã tăng lên đáng kể, có nhiều hộ mở rộng quy mô từ vài chục con lên tới vài trăm con do nhận thấy điều kiện tự nhiên nơi đây rất thích hợp để vỗ béo dê lấy thịt.
 
Theo Nongnghiep.vn

HƯỚNG DẪN NÔNG DÂN CHẾ BIẾN THỨC ĂN CHO ĐẠI GIA SÚC

Nhóm thông tin: 
Trung tâm Công nghệ sinh học Chăn nuôi (Phân viện Chăn nuôi Nam Bộ) phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Ninh Thuận triển khai mô hình chế biến thức ăn (ủ rơm với urê và ủ chua thân bắp) cho đại gia súc.Mô hình được thực hiện trên địa bàn 2 xã Phước Sơn và Phước Vinh, quy mô 60 hộ dân tham gia. Mục đích của dự án nhằm tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp để dự trữ thức ăn cho gia súc trong mùa khô hạn, mùa mưa; tăng hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn; tăng tỷ lệ tiêu hóa thức ăn của gia súc; giúp người chăn nuôi nắm được quy trình chế biến thức ăn.
 

Nông dân ủ rơm với urê làm thức ăn cho gia súc.
Tham gia mô hình các hộ được hỗ trợ 100% vật tư như rỉ mật đường, phân urê, muối hột, men vi sinh, túi ủ kịp thời.
 
Tháng 3/2019, Trung tâm Khuyến nông Ninh Thuận đã hướng dẫn cho 60 hộ tham gia mô hình kỹ thuật ủ chua thức ăn cho gia súc, trong đó tập huấn kỹ thuật ủ rơm với urê cho 30 hộ, các hộ còn lại được tập huấn kỹ thuật ủ chua thân bắp.
 
Đến nay, phần lớn các hộ tham gia mô hình đã nắm rõ kỹ thuật ủ và chủ động ủ thêm thức ăn dự trữ cho gia súc
 
Quy trình ủ rơm với urê như sau:
 
100 kg rơm với 100 lít nước + 4 kg urê + 2 kg rỉ mật đường + 1 kg muối.
 
Hòa tan urê, rỉ mật đường, muối với nước, tưới đều lên rơm theo tỷ lệ như trên, cho vào túi ni lông, nén chặt, cột kín hoặc hố ủ phủ kín. Đối với rơm rời thì sau 7 ngày có thể dùng cho gia súc ăn; đối với rơm cuộn thì sau 15 ngày có thể dùng cho gia súc ăn.
 
Quy trình ủ chua thân bắp như sau:
 
100 kg thân bắp với 5kg rỉ mật đường + 2kg muối ăn + 0,1kg men vi sinh (hoặc 5 - 7kg cám gạo, cám bắp).
 
Băm nhỏ thân cây bắp, phơi héo từ 2 - 5 giờ, trộn đều thân bắp với rỉ mật đường, muối ăn, men vi sinh với tỷ lệ nêu trên, nén chặt và cột kín vào túi ủ ni lông hoặc hố ủ, sau 21 ngày là sử dụng được.
 
Bước đầu mô hình được đánh giá cao và được nhiều hộ dân đặc biệt quan tâm. Bà con nông dân sau khi được tập huấn kỹ thuật đã nắm bắt và từng bước áp dụng các tiến bộ khoa học vào trong quá trình ủ như: Pha trộn nguyên liệu với vật tư đúng theo tỷ lệ hướng dẫn, đặt túi ủ đúng vị trí thuận lợi trong việc cho ăn cũng như tránh hư hại nguyên liệu...
 
Kết quả 60 hộ/2 xã tham gia mô hình đều thực hiện tốt, nhiều hộ còn đặt mua thêm nguyên vật liệu để thực hiện ủ, đặc biệt có hộ đã ủ chua thân bắp với khối lượng 5 tấn.
 
Theo Nongnghiep.vn

NUÔI LỢN AN TOÀN SINH HỌC THẾ NÀO?

Nhóm thông tin: 
Trước đại dịch tả lợn Châu Phi, rất kỳ lạ là hầu hết các trang trại áp dụng triệt để phương thức chăn nuôi an toàn sinh học đều miễn nhiễm với dịch bệnh nguy hiểm này. Vậy, chăn nuôi an toàn sinh học được hiểu như thế nào?
 

Cần áp dụng phương thức chăn nuôi an toàn sinh học để phòng bệnh và đảm bảo hiệu quả kinh tế.
Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia điều kiện trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học, ban hành kèm theo Thông tư số 04/2010 của Bộ NN-PTNT, trong đó có các yêu cầu cơ bản gồm:
 
Vị trí, địa điểm
 
Xây dựng trang trại phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất. Khoảng cách từ trang trại đến trường học, bệnh viện, khu dân cư,… tối thiểu 100 m; cách nhà máy chế biến, giết mổ lợn, chợ buôn bán lợn tối thiểu 1 km. Trang trại phải có nguồn nước sạch và xử lý chất thải theo quy định.
 
Yêu cầu về chuồng trại
 
Trại chăn nuôi phải có tường hoặc hàng rào bao quanh; phải bố trí riêng biệt các khu: chăn nuôi, vệ sinh, tắm rửa, khử trùng, thay quần áo, cách ly lợn ốm,… Cổng ra phải bố trí hố khử trùng. Chuồng nuôi phải bố trí hợp lý. Nền chuồng không trơn trượt, có rãnh thoát nước, độ dốc 3 – 5%...
 
Vách chuồng phải nhẵn. Mái chuồng không bị dột nước khi mưa. Đường thoát nước thải phải kín và không trùng với đường thoát nước khác. Các thiết bị, dụng cụ chứa thức ăn, nước uống không gây độc và dễ vệ sinh. Các kho thức ăn, thuốc thú y, hóa chất và thuốc sát trùng,… thông thoáng, không ẩm thấp và dễ vệ sinh, tiêu độc khử trùng…
 
Yêu cầu về con giống
 
Lợn giống có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh, có giấy kiểm dịch và bản công bố tiêu chuẩn chất lượng. Trước khi nhập đàn, lợn phải được nuôi cách ly theo quy định. Lợn giống sản xuất tại cơ sở phải thực hiện công bố tiêu chuẩn, phải được quản lý và sử dụng phù hợp theo quy định hiện hành của Bộ NN-PTNT…
 
Thức ăn, nước uống
 
Thức ăn nuôi lợn phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, không sử dụng thức ăn thừa của đàn lợn đã xuất chuồng, thức ăn của đàn lợn đã bị dịch cho đàn lợn mới. Nước lợn uống phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng. Trong trường hợp phải trộn thuốc, hóa chất vào thức ăn, nước uống nhằm mục đích phòng bệnh hoặc trị bệnh phải tuân thủ thời gian ngừng thuốc, ngừng hóa chất; Không sử dụng kháng sinh, hóa chất trong danh mục cấm…
 
Chăm sóc, nuôi dưỡng
 
Các trại chăn nuôi phải có quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp các loại lợn theo các giai đoạn sinh trưởng phát triển. Mật độ nuôi, cung cấp thức ăn nước uống, vệ sinh thú y phải phù hợp theo quy định hiện hành…
 
Vệ sinh thú y
 
Chất sát trùng tại các hố sát trùng phải bổ sung hoặc thay hàng ngày. Phương tiện vận chuyển, người ra vào khu chăn nuôi phải đi qua hố khử trùng và phải được phun thuốc sát trùng. Phun thuốc sát trùng lối đi trong khu chăn nuôi và các dãy chuồng nuôi ít nhất 1 lần/tuần khi không có dịch bệnh, và ít nhất 1 lần/ngày khi có dịch bệnh...
 
Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông và vệ sinh cống rãnh trong khu chăn nuôi ít nhất 1 lần/tháng. Phải vệ sinh máng ăn, máng uống hàng ngày. Có biện pháp để kiểm soát côn trùng, loài gặm nhấm và động vật khác (nếu có) trong khu chăn nuôi. Tiêm phòng cho đàn lợn theo quy định...
 
Xử lý chất thải và bảo vệ môi trường
 
Các trại chăn nuôi bắt buộc phải có hệ thống xử lý chất thải trong quá trình chăn nuôi. Chất thải rắn phải được thu gom hàng ngày và xử lý bằng nhiệt, hoặc bằng hóa chất, hoặc bằng chế phẩm sinh học phù hợp. Các chất thải lỏng phải dẫn trực tiếp từ chuồng nuôi đến khu xử lý bằng đường thoát riêng. Chất thải lỏng phải được xử lý bằng hóa chất hoặc bằng phương pháp xử lý sinh học phù hợp…
 
Ngoài ra, các trang trại chăn nuôi phải có chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy và thường xuyên được giám sát và xử lý vi phạm theo quy định…
 
Theo Nongnghiep.vn

KỲ DIỆU NHỮNG ĐÀN LỢN SỐNG SÓT QUA DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI

Nhóm thông tin: 
Lợn nái, lợn mẹ chết sạch vì dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP), tuy nhiên đàn lợn con thì vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường.
Có dãy chuồng bị DTLCP càn quét, chết như ngả rạ, nhưng dãy chuồng ngay sát cạnh lại bình an vô sự.
 
Vì lí do phòng dịch, chúng tôi không được trực tiếp vào thăm trại, mà đành phải gặp chị Nguyễn Thị May, chủ trang trại lợn ở xã Đại Đồng (Văn Lâm, Hưng Yên) ở nhà chị tại thôn Đồng Xá, cách trại lợn của gia đình gần 500m.
 
 

 
Hơn 600 lợn con của trại lợn chị May vẫn sống sót, phát triển bình thường (Ảnh do nhân vật cung cấp).
Người làng bảo chị tên May, nên may mắn, bởi trong khi các hộ nuôi lợn trong xã gần như đã bị xóa sổ hoàn toàn vì DTLCP, thì trại lợn nhà chị hiện vẫn còn trên 600 con lợn thịt vượt qua được dịch, lợn khỏe mạnh bình thường.
 
DTLCP bắt đầu nổ ra ở xã Đại Đồng từ khoảng cuối tháng 3/2019, và lan nhanh như một cơn lốc. Cho đến giữa tháng 4/2019, gần như những hộ nuôi lợn nhỏ chiếm đại đa số trong xã, dưới 30 - 40 con/hộ đã chết sạch. Những hộ chăn nuôi quy mô lớn, áp dụng nghiêm ngặt việc phòng dịch thì mới trụ lại cuối cùng. Thế nhưng đến ngày 18/4/2019 thì trại lợn nhà chị cũng không trụ nổi, chính thức “vỡ đê”.
 
Trại lợn của chị gồm 200 lợn nái, được bố trí gồm 3 dãy chuồng sát nhau, chỉ cách nhau một bức tường, gồm một dãy lợn chửa, dãy lợn mẹ và dãy lợn con cai sữa. Tại thời điểm xảy ra dịch, trại có gần 1.000 con lợn con.
 
Ban đầu, lác đác một số con ở dãy chuồng lợn chửa bị dịch tấn công đầu tiên, sau đó thì lan dần sang dãy chuồng lợn mẹ. Chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng, toàn bộ hơn 200 lợn nái (gồm lợn chửa và lợn mẹ) đều đã chết vì dịch. Khoảng gần 300 lợn con (chủ yếu là lợn đang theo mẹ) cũng chết theo.
 
Tuy nhiên, điều kỳ lạ là trong đó, đã có một số lợn con vẫn sống sót, đặc biệt gần như toàn bộ lợn con ở dãy chuồng lợn cai sữa, chỉ cách dãy chuồng kia một bức tường vẫn khỏe mạnh bình thường.
 
Chị May kể lại: Trại lợn của chị vốn là trại lợn giống, không nuôi lợn thịt. Khi toàn bộ đàn lợn nái 200 con bị chết sạch, lượng cám lợn nái còn thừa, chẳng thể bán nên chị đã gom sẵn lại, lên kế hoạch mua ít vịt về thả, tận dụng số thức ăn thừa, vớt được đồng nào hay đồng đó. Hơn 600 lợn con còn sống sót, chị chỉ nghĩ chúng còn sống thì được ngày nào hay ngày đó, còn sống con nào thì còn phải chăm sóc, còn phải nuôi con ấy, chứ chẳng hi vọng gì.
 
Thế nhưng không thể ngờ, đã hơn 3 tháng kể từ khi xảy ra DTLCP, hơn 600 con lợn con sống sót ngày nào vẫn phát triển bình thường, hiện trọng lượng bình quân đã 60 - 80 kg/con, sắp có thể xuất chuồng. Sau khi 2 dãy chuồng lợn nái bị chết, chị đã tiến hành xử lí, san bớt lợn con sang nuôi, mà vẫn không hề bị dịch tái phát tấn công.
 
Lý giải bí quyết vì sao để giữ được đàn lợn con sống sót kì diệu qua đợt DTLCP như vậy, chị Nguyễn Thị May cười xòa rằng, “có bệnh thì vái tứ phương”, nên đến giờ bản thân chị cũng không thể biết yếu tố nào đã giúp chúng vẫn sống sót.
 
Tuy nhiên, có một điều khác biệt, đó là hiện nay, trại lợn của chị May cũng chính là trại lợn duy nhất ở xã Đại Đồng được cấp chứng nhận tiêu chuẩn chăn nuôi lợn theo tiêu chuẩn VietGAHP từ năm 2018. Chị May tiết lộ, việc cấp chứng nhận VietGAHP được một Cty cung cấp TĂCN cho trại của chị hỗ trợ kinh phí.
 
Tuy nhiên thực tế, kể từ khi đầu tư xây trang trại, chị cũng đã thuê hẳn kỹ sư có kinh nghiệm về chăn nuôi phụ trách tư vấn kỹ thuật, vì vậy toàn bộ các khâu từ xây dựng trang trại, quy trình chăn nuôi, phòng bệnh... theo hướng an toàn sinh học. Vì vậy khi tổ chức chứng nhận VietGAHP xuống kiểm tra đánh giá, thì đã căn bản đạt các yêu cầu.
 
Chị cho biết, kể từ khi trang trại xảy ra dịch và lợn nái bị chết, việc áp dụng các biện pháp phòng dịch vẫn được duy trì chặt chẽ, thậm chí tăng cường hơn.
 
Sau khi toàn bộ lợn nái chết hết, do số lợn con sống sót lớn lên quá chật chội, nên chị phải xử lí để san bớt lợn con sang 2 dãy chuồng lợn nái. Theo đó, việc xử lí chuồng phải trải qua 5 bước: Một là vệ sinh, tẩy rửa chuồng bằng xút (NaOH) với nhiệt độ rất nóng. Hai là dùng vôi tôi nóng pha loãng, đổ trực tiếp ra nền, tường. Ba là dùng lửa bình gas cỡ lớn “khò” kỹ ở nhiệt độ cao từ 2 - 3 lần toàn bộ nền, tường. Bước bốn là tiếp tục dùng vôi tôi nóng loãng, phun trắng phủ toàn bộ chuồng một lần nữa. Cuối cùng là dùng formol và thuốc tím để xông khử trùng chuồng một lần nữa. Sau 10 ngày khử trùng, lợn con được chuyển sang nuôi, áp dụng nghiêm ngặt các quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, và đến nay đã 3 tháng, lợn vẫn an toàn, khỏe mạnh.
Theo đó, trang trại phải “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, công nhân phải ở liền tù tì trong trại.
 
Việc phun khử trùng được duy trì đều đặn hàng ngày, với phạm vi cách xa xung quanh trại 40 - 50m.
 
Các loại thuốc khử trùng phải được luân chuyển xen kẽ 3 - 4 loại khác nhau, để hạn chế khả năng vi khuẩn, virus “nhờn” với thuốc.
 
Xe chở cám vào trại phải trải qua 2 lần phun kỹ khử trùng, một lần từ đầu làng, một lần trước khi vào trại, và lội qua bể sát trùng (kể cả lái xe). Nước uống cho lợn được xử lí bằng Clo để sát trùng.
 
Định kỳ hàng tuần, phải phun thuốc trừ muỗi và côn trùng cho trại. Mặc dù là chuồng kín, tuy nhiên việc kiểm soát và diệt chuột cũng được siết chặt, để ngăn ngừa chuột xâm nhập vào trại qua các cống thải...
 
Bên cạnh đó, khâu tiêm phòng vacxin như tả cổ điển, LMLM, tai xanh... vẫn được tuân thủ đều đặn, cách một tháng cho lợn ăn kháng sinh phòng bệnh trộn trong thức ăn một lần.
 
Đồng thời, lợn được bổ sung thêm các thuốc điện giải, vitamin C... để tăng cường thêm sức đề kháng.
 
Một điểm khác biệt, đó là số lợn của chị May còn được thử nghiệm sử dụng chế phẩm na-nô bạc. Chế phẩm này được trộn vào thức ăn, nước uống và dùng phun khử trùng cho trang trại định kỳ 1 lần/tuần.
 
“Để phòng bệnh, thịt lợn mua ngoài chợ về, tôi phải chế biến, nấu kỹ ở nhà, sau đó mới đưa vào trang trại cho công nhân ăn, chứ tuyệt đối không đưa thịt lợn sống vào chế biến trong trang trại...”, chị May kể.
 
Cũng theo chị May, dù may mắn giữ được 600 lợn thịt không bị chết, tuy nhiên hiện gia đình vẫn còn nợ ngân hàng rất lớn. Trong khi đó, số lợn nái tiêu hủy hơn 60 tấn của gia đình đến nay vẫn chưa nhận được tiền hỗ trợ, ngân hàng thì không cho vay thêm vốn nên việc đầu tư để duy trì đàn lợn đang hết sức khó khăn.
 
Ông Trần Văn Thành, PCT UBND xã Đại Đồng cho biết: DTLCP bùng phát tại xã từ ngày 24/3/2019.
 
Đến nay, khoảng 2.000 trong tổng số hơn 3.000 đầu lợn của toàn xã bị dịch và tiêu hủy. Cùng với trang trại của chị Nguyễn Thị May, hiện toàn xã chỉ còn vỏn vẹn tổng cộng 3 trang trại còn duy trì được đàn lợn khỏe mạnh, với số lượng khoảng trên 1.000 con.
 
Đây đều là các trang trại có quy mô lớn, áp dụng phòng bệnh rất nghiêm ngặt nên mặc dù xảy ra dịch, nhưng lợn không bị chết hoàn toàn mà vẫn giữ được một số lượng nhất định lợn sống mà khỏe mạnh.
 
Cũng theo ông Thành, từ ngày 29/6/2019 đến nay, trong xã không còn phát sinh lợn bị ốm chết. Điều này cho thấy tín hiệu vui là DTLCP đang có chiều hướng đi xuống.
 
Nam Định tiêu hủy lợn dịch theo từng ô chuồng, không diệt cả đàn
 
Tại hội nghị Triển khai các giải pháp tổng hợp phòng chống DTLCP cùng các tỉnh thành trên cả nước ngày 11/7/2019 của Bộ NN-PTNT, ông Nguyễn Phùng Hoan, PCT UBND tỉnh Nam Định cho biết: Khi DTLCP mới nổ ra ở những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, Nam Định đã áp dụng thực hiện tiêu hủy hết cả đàn khi phát hiện lợn trong đàn bị DTLCP.
 
Tuy nhiên thực tế, đã có nhiều trang trại dù có những dãy chuồng có lợn bị DTLCP phải tiêu hủy, nhưng các dãy chuồng khác đến nay đã 2 - 3 tháng lợn vẫn khỏe mạnh bình thường.
 
Vì vậy, khi dịch tấn công vào các gia trại, trang trại có quy mô vừa, từ 100 - 200 con trở lên, thì không thể nào tiêu hủy hết cả đàn nếu chỉ phát hiện một dãy chuồng có lợn bị DTLCP.
 
Nam Định hiện cũng chỉ áp dụng tiêu hủy đối với dãy chuồng có lợn bị DTLCP. Các dãy chuồng trong trang trại mà chưa có lợn dương tính với DTLCP thì vẫn cho phép giữ lại. Đây cũng là điều mà các cơ quan khoa học phải nghiên cứu thêm về cơ chế lây truyền…
 
 
 
Theo Nongnghiep.vn