Thị trường

XUẤT KHẨU RAU QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT 2,5 TỶ USD

Nhóm thông tin: 
 
Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, năm 2015 rau quả của VN đã có mặt tại hơn 60 nước và vùng lãnh thổ, đạt kim ngạch XK 1,85 tỷ USD, tăng 123% so với năm 2014 và tăng 782,13% so với năm 2005. Đây cũng là năm XK rau quả có kim ngạch cao nhất từ trước đến nay.
 
XK rau quả tháng 7/2016 ước đạt 229 triệu USD. Lũy kế 7 tháng, XK rau quả ước đạt 1,385 tỷ USD, tăng 40,5% so với cùng kỳ năm 2015 (1,022 triệu USD). Kim ngạch XK rau quả 7 tháng qua tăng mạnh, do các thị trường chủ lực đều đạt mức tăng trưởng cao như: Trung Quốc tăng 233% so với cùng kỳ, đạt 940,9 triệu USD, chiếm 69,5% trong tổng kim ngạch XK rau quả của cả nước; thị trường Hàn Quốc tăng 26,75%, đạt 53,1 triệu USD, chiếm 4%; thị trường Hoa Kỳ tăng 60% đạt 49,5 triệu USD, chiếm 3,7%.
 
XU rau quả tăng trưởng là do nhiều thị trường có yêu cầu cao về tiêu chuẩn sản phẩm đã, đang và sẽ tiếp tục mở rộng cửa cho trái cây Việt Nam. Cụ thể, thanh long, chôm chôm, nhãn, vải thiều đã được phép XK sang thị trường Mỹ (5 tháng đầu năm XK khoảng 2.000 tấn, tăng 200% so với cùng kỳ 2015). Ngày 4/8/2016, Bộ Nông nghiệp mỹ đăng công báo Liên bang đề xuất ý iến công chúng, đóng góp và bổ sung, sửa đổi các quy định để cho phép xoài tươi Việt Nam được nhập khẩu vào Hoa Kỳ, động thái này ví như tấm giấy thông hành, là bước đệm quan trọng để xoài tươi thâm nhập vào thị trường đầy tiềm năng này.
 
Trái vải của Việt Nam cũng đã thâm nhập vào thị trường Úc, dự kiến cuối năm 2016, Úc sẽ hoàn tất thủ tục cho phép NK thêm thanh long. Bên cạnh đó, nhiều loại trái cây của Việt Nam cũng đã thâm nhập được vào Đài Loan, Hàn Quốc, New Zealand…
 
Các doanh nghiệp ở ĐBSCL cho biết, nhu cầu rau quả nhiệt đới trên thế giới lúc nào cũng lớn và là cơ hội để rau quả Việt Nam tiếp cận được nhiều thị trường mới. Trong 10 năm qua, các DN đã mở thêm 24 thị trường, có được kết quả trên là nhờ nông dân tích cực mở rộng nhiều diện tích rau quả đạt chuẩn VietGAP.
 
Cục trưởng Cục BVTV khẳng định, kiểm soát tồn dư thuốc BVTV sẽ giúp giữ thị trường trong nước và XK. Thời gian qua, đã có rất nhiều sản phẩm rau quả sau khi kiểm soát tốt dư lượng thuốc BVTV đã tìm được thị trường XK có giá trị gia tăng cao, ổn định. Như voài Cát Chu, nhờ được kiểm soát chặt chẽ từ khâu trồng đến thu hoạch, đã được thị trường Nhật Bản đón nhận khá tốt và có ngay các đơn hàng tiếp theo.
 
Nguồnmard.gov.vn
Ảnh bìa: 

TÁI CƠ CẤU TRỒNG TRỌT: 7 MẶT HÀNG NÂNG HẠNG TRÊN 1 TỈ USD

Nhóm thông tin: 
Bộ NN&PTNT hiện đang tiến hành rà soát cơ cấu các loại cây trồng chủ lực. Cùng với đó là xây dựng phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu, lợi thế của các vùng, miền, địa phương và nhu cầu thị trường.
 

Nhiều cánh đồng mẫu lớn được hình thành từ tái cơ cấu trồng trọt. Ảnh: VGP/Đỗ Hương
 
Theo thông tin từ Bộ NN&PTNT, sau 3 năm tiến hành tái cơ cấu ngành trồng trọt, các địa phương đã chuyển đổi được khoảng 390.000 ha gieo trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, trồng ngô, các cây màu và cây làm thức ăn chăn nuôi có hiệu quả cao hơn, rõ nhất là ở ĐBSCL, Đồng bằng sông Hồng (mục tiêu năm 2020 cả nước chuyển đổi 700.000 ha). Đối với các vùng khô hạn, nhiễm mặn, từng bước chuyển trồng lúa sang phát triển các cây chịu hạn, cỏ làm thức ăn chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy.
 
 
 
Đặc biệt, hiệu quả của tái cơ cấu còn nhìn thấy ở nhiều mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa gạo, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị. Từ năm 2013 đến hết vụ Đông Xuân năm 2016 đã có nhiều mô hình cánh đồng lớn liên kết xây dựng ở các địa phương với diện tích khoảng 556.000 ha, trong đó vùng ĐBSCL có diện tích thực hiện liên kết lớn nhất là 450.000 ha; nhiều vùng sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả hàng hoá tập trung quy mô lớn được duy trì, mở rộng.
 
 
 
Hiện nhiều địa phương đang chuyển đổi cơ cấu giống cây, tập trung đối với giống lúa, ngô chất lượng cao. Cơ cấu giống và tỉ lệ sử dụng giống lúa xác nhận đã tăng mạnh, chất lượng gạo được nâng cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tỉ lệ sử dụng giống xác nhận của các tỉnh phía bắc đạt trên 80%, khu vực miền Trung đạt trên 50%, vùng ĐBSCL đạt khoảng 45%; đã hoàn thành thủ tục khảo nghiệm, đánh giá an toàn sinh học và đưa giống ngô biến đổi gene ra sản xuất.
 
 
 
Cùng với đó, các quy trình sản xuất tiên tiến, thân thiện với môi trường được phổ biến nhân rộng. Sản xuất lúa gạo đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, thân thiện với môi trường, tăng cường ứng dụng cơ giới hóa, giảm chi phí và tổn thất.
 
 
 
Bộ NN&PTNT và các địa phương đang tiến hành rà soát lại quy hoạch, đồng thời thực hiện các giải pháp căn cơ để cải tạo vườn cây, phổ biến áp dụng các quy trình sản xuất tốt nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm cho các cây công nghiệp chủ lực.
 
 
 
Tập trung cho 3 nhóm chủ lực
 
 
 
Đối với cà phê, hiện nay, thống nhất tập trung thâm canh vườn cây hiện có và tái canh diện tích cà phê già cỗi. Đến nay đã trồng tái canh và ghép cải tạo được gần 62.000 ha, dự kiến hết năm 2016 đạt 79.000 ha (đạt tỉ lệ khoảng 66% so với mục tiêu tái canh 120.000 ha vào năm 2020). Đã ban hành quy trình tái canh cà phê; phổ biến áp dụng các quy trình sản xuất tốt có xác nhận. Diện tích cà phê tái canh 3 năm đạt 2-2,5 tấn cà phê nhân/ha, cao hơn năng suất đại trà. Hiện có khoảng 40% sản lượng cà phê có xác nhận, giá trị cao.
 
 
 
Đối với cây điều, các địa phương đang chỉ đạo tăng mạnh diện tích tái canh, ghép cải tạo vườn điều đã được quy hoạch. Đã sản xuất được trên 3 triệu chồi ghép phục vụ công tác ghép cải tạo vườn điều. Đến nay, diện tích tái canh, ghép cải tạo được trên 35.000 ha (chiếm khoảng gần 60% mục tiêu đến năm 2020). Phần lớn diện tích điều sau khi trồng tái canh và ghép cải tạo đã được đầu tư áp dụng kỹ thuật thâm canh tiên tiến, năng suất đạt trên 3 tấn/ha, gấp 3 lần so với vườn điều cũ. 
 
 
 
Được xác định là ngành có lợi thế cạnh tranh, các cây ăn quả, rau, hoa hiện có thị trường thuận lợi, còn có thể phát triển nhiều hơn nữa. Hiện nay nhiều địa phương đã quy hoạch vùng cây ăn quả chủ lực tập trung, vùng rau, hoa công nghệ cao; đồng thời tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất, áp dụng công nghệ cao và sản xuất theo tiêu chuẩn GAP để phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
 
 
 
Trong 3 năm (2013-2015) giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt tăng khá, trung bình tăng 2,6%/năm. Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng trọt năm 2015 ước đạt 83 triệu đồng (tăng khoảng 10,2 triệu đồng so với năm 2012). Năng suất của hầu hết các loại cây trồng chủ lực tăng mạnh, chất lượng một số loại nông sản được cải thiện đáng kể như lúa gạo, thanh long, vải, nhãn, bưởi, chè...
 
 
 
Xuất khẩu các sản phẩm trồng trọt duy trì ở mức 14,5 tỉ USD/năm; 6 tháng đầu năm 2016 ước đạt 7,5 tỉ USD. Hiện có 7 mặt hàng có vị trí xuất khẩu trên 1 tỉ USD/năm gồm: gạo 2,8 tỉ USD, cao su 1,53 tỉ USD, cà phê 2,67 tỉ USD, hạt điều 2,4 tỉ USD, hạt tiêu 1,26 tỉ USD, rau quả 1,84 tỉ USD, sắn và sản phẩm từ sắn 1,3 tỉ USD. Một số mặt hàng có thị trường, giá trị xuất khẩu tăng mạnh như rau quả tăng bình quân 42,8%/năm, hạt tiêu tăng 23%/năm, hạt điều tăng 16,5%/năm.
 
 
 
 Đỗ Hương - Chinhphu.
Ảnh bìa: 

SẢN LƯỢNG CÀ PHÊ GIẢM 7% TRONG NĂM 2016–2017

Nhóm thông tin: 
Sản lượng cà phê Việt Nam được dự kiến có thể giảm 7% trong năm 2016 và 2017 do chịu ảnh hưởng điều kiện thời tiết khắc nghiệt.
 
 
 
Theo thông tin vừa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố, thị trường cà phê trong nước tuần qua đã ổn định so với mức tăng mạnh vào mấy tuần trước đó. Giá cà phê vối nhân xô ở các tỉnh Tây Nguyên giữ mức 37.000 – 38.500 đồng/kg; giá cà phê Robusta giao tại cảng TP.HCM giá FOB tăng 3 USD/tấn lên 1.769 USD/tấn. 
 
Giá cà phê tăng thời gian qua là do nguồn cung cà phê Việt Nam được dự đoán hạn chế trong những tuần tới do nông dân trì hoãn bán ra trong khi người mua chuyển sang cà phê mới được thu hoạch tại Indonesia. Dự đoán xuất khẩu từ Việt Nam, nước sản xuất Robusta lớn nhất thế giới, sẽ giảm trong tháng 8.2016 và vụ thu hoạch niên vụ 2016/2017 ít hơn do thời tiết khô hạn.
 
Đặc biệt, có nhiều mối lo ngại về ảnh hưởng của thời tiết khô hạn đối với vụ thu hoạch cà phê tại những vùng chủ yếu ở Tây Nguyên, như: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, và Lâm Đồng. Thời tiết El Nino lần này là mức độ nóng nhất mang tính kỉ lục.
 
Sản lượng cà phê của Việt Nam được dự đoán đạt 26,5 triệu bao trong niên vụ 2016/2017, với các dự đoán dao động từ 22,7 triệu bao đến 30 triệu bao. Tổ chức Cà phê thế giới (ICO) dự báo sản lượng cà phê Việt Nam sẽ đạt 27,5 triệu bao trong niên vụ 2015/2016. Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam giảm do những người mua từ chối mua cà phê đang ở mức giá quá cao, nguồn cung nội địa khan hiếm trong khi giá thế giới giảm. Nông dân Việt Nam sẽ thu hoạch vụ cà phê sắp tới bắt đầu vào cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12.
 
Giá cà phê Việt Nam theo đó cũng tăng mạnh do nguồn cung nội địa gần như cạn kiệt vào cuối vụ và hạn hán tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ. Giá cà phê đã chạm mức cao nhất vào hồi đầu tháng 7 vừa qua, mức tăng này được xem là mạnh nhất trong vòng 1 năm, trong khi đó sản lượng cà phê Việt Nam niên vụ 2016/2017 được dự đoán giảm 20 – 25% so với niên vụ trước.
 
Nguồn 24h.com.vn
 
Ảnh bìa: 

TỎI LÝ SƠN BỊ LÀM NHÁI, NGƯỜI MUA LẠC VÀO MA TRẬN

Nhóm thông tin: 
Tình trạng nhái thương hiệu tỏi Lý Sơn không chỉ xuất hiện ở đất liền mà còn ngay trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) khiến người mua như lạc vào ma trận.
Theo khảo sát của phóng viên Báo Người Lao Động, hiện trên đảo Lý Sơn có hàng trăm địa điểm bán tỏi Lý Sơn nhưng rất nhiều nơi có giá chênh lệch khác nhau. Anh Nguyễn Văn Quang, một khách du lịch đến từ Đà Nẵng, cho biết ngày 23.8, anh đến Lý Sơn du lịch và mua ít tỏi nơi đây về làm quà.
 

Tỏi Lý Sơn đang bị ảnh hưởng vì nạn nhái thương hiệu.
“Khi chuẩn bị lên tàu, tôi ghé lại một vài địa điểm hỏi mua vài ký tỏi nhưng mỗi nơi nói một giá. Người thứ nhất ra giá 170.000 đồng/kg, người thứ hai nói 90.000 đồng/kg, một người khác lại bảo 120.000 đồng/kg và đều khẳng định tỏi Lý Sơn chính hiệu. Tôi thắc mắc tại sao cũng tỏi Lý Sơn nhưng lại có giá chênh lệch nhiều như vậy thì người bán không giải thích được và nói nếu khách mua được bên nào thì mua” - anh Quang kể.
 
Bà Nguyễn Thị Thanh, một người chuyên kinh doanh tỏi Lý Sơn, cho biết sở dĩ có sự chênh lệch là do bị nhái thương hiệu bởi các loại tỏi trồng ở nơi khác như tỏi Ninh Hiển (Khánh Hòa) tràn về đây và bày bán như tỏi Lý Sơn. Về hình thức, tỏi Ninh Hiển và Lý Sơn cơ bản giống nhau, rất khó phân biệt.
 
Ngay cả rất nhiều người dân Lý Sơn cũng chưa chắc nhận ra được huống chi du khách. “Giá tỏi Lý Sơn hiện khoảng 160.000-170.000 đồng/kg (giá bán tại Lý Sơn), trong khi tỏi Ninh Hiển chỉ 50.000-60.000 đồng/kg. Bởi vậy mới có tình trạng giả thương hiệu tỏi Lý Sơn” - bà Thanh nói.
 
Theo ông Nguyễn Văn Định, Phó Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh và Chế biến hành tỏi Lý Sơn, tỏi giả thương hiệu Lý Sơn tràn lan hiện nay trên thị trường khiến hiệp hội rất đau đầu. Không chỉ ở đất liền, ngay tại Lý Sơn cũng có tình trạng thật giả lẫn lộn, từ tỏi trắng bình thường cho đến tỏi đen (loại tỏi đã qua chế biến, có giá trị kinh tế cao hơn tỏi trắng - PV) hoặc tỏi một (tỏi cô đơn) cũng bị làm giả.
 
“Vì rất khó phân biệt tỏi Lý Sơn với tỏi nhái thương hiệu nên chúng tôi cũng chưa có cách nào hướng dẫn người tiêu dùng tránh mua phải tỏi kém chất lượng. Theo tôi, người tiêu dùng nên đến các siêu thị hoặc những điểm bán lẻ tỏi Lý Sơn đã có uy tín hoặc có tem chống hàng giả của hiệp hội hành tỏi để mua, như thế có thể yên tâm hơn” - ông Định khuyên.
 
Bà Phạm Thị Hương, Phó Chủ tịch UBND huyện đảo Lý Sơn, cho biết mỗi năm, tỏi Lý Sơn chỉ được sản xuất một vụ nên không có chuyện quá nhiều ngoài thị trường như hiện nay. “Để giảm tình trạng nhái thương hiệu tỏi Lý Sơn, ngoài việc tuyên truyền, chúng tôi còn hỗ trợ cho các phương tiện tàu thuyền chở hàng hóa từ đất liền ra Lý Sơn mỗi năm 6 triệu đồng, yêu cầu không được chở tỏi từ các nơi khác về đảo, nếu vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm, kể cả tàu cá. Bởi vậy, tình trạng tỏi nơi khác ồ ạt tràn về Lý Sơn giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên, biện pháp trên chỉ áp dụng ở Lý Sơn, còn ở đất liền thì chúng tôi không dám chắc bởi ngoài tầm quản lý của huyện” - bà Hương thông tin.
 
Theo Tử Trực (Người Lao Động)
Ảnh bìa: 

NIÊN VỤ VẢI THIỀU 2016: TĂNG GẦN 500 TỈ NHỜ CHUỖI GIÁ TRỊ

Nhóm thông tin: 
Mặc dù giảm diện tích và sản lượng nhưng niên vụ vải thiều 2016 của tỉnh Bắc Giang vẫn đem về khoảng 5 nghìn tỉ đồng, cao hơn cùng kỳ năm ngoái gần 500 tỉ đồng”. Đó là thông tin được công bố tại hội nghị tổng kết công tác sản xuất và tiêu thụ vải thiều năm 2016 diễn ra sáng 18.8 tại tỉnh Bắc Giang.
Niên vụ 2016, tổng sản lượng vải thiều của tỉnh Bắc Giang đạt 142 nghìn 315 tấn, doanh thu từ vải thiều và các hoạt động phụ trợ đạt khoảng 5 nghìn tỉ đồng. Với giá vải bình quân tiêu thụ nội địa đạt 21 nghìn đồng/kg và giá xuất khẩu trung bình 28 nghìn đồng/kg, người trồng vải thiều ở Bắc Giang có lãi, doanh thu lớn. Ông Giáp Văn Thành - nông dân thôn Kép 1, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang chia sẻ: “Giá vải cao bà con rất phấn khởi vì thu lợi nhuận cao.
 

Cũng rất mong các cơ quan chuyên môn và nhà khoa học đưa thêm những giống vải chín sớm chất lượng về cho nông dân, bởi vì hiện nay vải thiều chín và tiêu thụ trong vòng 1 tháng. Trong khi đó nông dân muốn trồng rải vụ thì cần có các giống chín sớm và chín muộn để kéo dài thời vụ để tăng thêm thu nhập”.
 
Thành công của niên vụ vải thiều năm 2016 còn có sự chung tay của các doanh nghiệp trong nước và xuất khẩu. Ông Nguyễn Trí Ngọc - Chuyên gia cố vấn Cty CP tiến bộ quốc tế, Tập đoàn AIC – chuyên xuất khẩu và đầu tư nông nghiệp công nghệ cao cho biết: Nhờ chất lượng đã được khẳng định theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp Tốt -VietGap, Global Gap đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp thâm nhập thêm các thị trường mới, thông qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và giúp nông dân tiêu thụ nông sản.
 
Theo ông Bùi Huy Sơn - Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, thành công niên vụ vải 2016 của tỉnh Bắc Giang có sự chủ động cao trong xúc tiến thương mại của địa phương. Hướng tới niên vụ vải 2017 ông Bùi Huy Sơn cho rằng, bên cạnh việc gắn kết hơn nữa việc liên kết trong tiêu thụ nông sản nói chung và vải thiều nói riêng, Bắc Giang cần chú trọng cân đối trong khai thác thị trường trong nước và nước ngoài. Trong đó, không chỉ xúc tiến thương mại trong nước mà còn tổ chức các hội nghị quảng bá sản phẩm ngay tại những thị trường xuất khẩu mới mở, đòi hỏi chất lượng cao như: Mỹ, Nhật Bản, Úc…
 
Theo Minh Long (Lao Động)
Ảnh bìa: 

DUY TRÌ CÁC ĐIỂM BÁN THỊT LỢN SẠCH: GIÁM SÁT CHẶT CHẼ, CẠNH TRANH LÀNH MẠNH

Nhóm thông tin: 
Nhằm giới thiệu, cung cấp sản phẩm an toàn đến người tiêu dùng, một số trang trại chăn nuôi trong tỉnh đã mở cửa hàng bán thịt lợn sạch tại TP Bắc Giang. Tuy nhiên, việc duy trì và phát triển các quầy hàng này gặp không ít khó khăn.
 

Điểm bán thịt lợn của HTX Tín Nhiệm trên đường Nguyễn Thị Lưu, phường Ngô Quyền (TP Bắc Giang).
Hai tháng qua, Hợp tác xã (HTX) Chăn nuôi và Dịch vụ thực phẩm sạch Tín Nhiệm, xã Đồng Sơn (TP Bắc Giang) mở 8 cửa hàng bán thịt lợn sạch tại phường Ngô Quyền, Lê Lợi, Mỹ Độ và xã Tân Mỹ. Giá bán niêm yết dao động từ 75 đến 110 nghìn đồng/kg, cao hơn 20% so với thịt thông thường. Ngay khi giết mổ, thịt được bảo quản, vận chuyển bằng xe lạnh mang đến quầy hàng. Ông Lưu Văn Nhiệm, Giám đốc HTX cho biết: “Sau 6 tháng nuôi, lợn mới xuất chuồng, dài hơn so với phương thức thông thường 2 tháng. Sản phẩm bước đầu đã được người tiêu dùng đón nhận. Hiện nay, mỗi điểm bán tiêu thụ bình quân khoảng 80 kg thịt/ngày”. Chị Lã Thị Cẩm Vân, tổ dân phố Vĩnh Ninh 2, phường Hoàng Văn Thụ (TP Bắc Giang) cho biết: “Mua thịt tại cửa hàng của HTX về chế biến, tôi yên tâm về nguồn gốc, chất lượng. Giờ đây, tôi chọn nơi này là điểm mua hàng thường xuyên”. 
 
Vậy nhưng việc tiêu thụ sản phẩm của HTX còn không ít trở ngại do điểm giết mổ thô sơ, quầy bán hàng chưa đầy đủ trang thiết bị. Một bộ phận người dân chưa có thói quen sử dụng sản phẩm an toàn, thấy giá bán cao hơn nên không mua. Vì vậy mà HTX mới tiêu thụ được gần một tấn thịt/ngày trong khi nhu cầu sử dụng của người dân TP lên tới hàng chục tấn. Theo đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, kết quả ban đầu mà HTX làm được rất đáng khích lệ. Để giám sát quy trình sản xuất, nhiều lần đoàn kiểm tra chuyên ngành của Sở đã kiểm tra đột xuất cơ sở chăn nuôi của HTX song không phát hiện vi phạm. Như vậy, cái gốc là sản xuất an toàn đã được HTX thực hiện tốt. Khâu phân phối vẫn còn những khó khăn cần từng bước khắc phục. 
 
Chỉ đạo về vấn đề này khi kiểm tra thực tế tại điểm bán hàng của HTX tại đường Nguyễn Thị Lưu, phường Ngô Quyền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái nhấn mạnh, sử dụng thực phẩm sạch là đòi hỏi bức thiết của xã hội. Do đó, cơ quan chuyên môn, chính quyền sở tại cần quan tâm, hỗ trợ nhiều hơn nữa để hoàn thiện, nhân rộng các điểm cung cấp nông sản sạch. Riêng với điểm bán thịt lợn sạch, TP Bắc Giang cần nghiên cứu hỗ trợ thiết bị tại quầy hàng; quy trình giết mổ; tăng cường tuyên truyền, giới thiệu để quảng bá sản phẩm, nhất là cách nhận biết thịt lợn an toàn để người dân nắm được; giám sát chặt chẽ quy trình từ chăn nuôi đến tiêu thụ, xử lý nghiêm các sản phẩm không bảo đảm chất lượng để tạo cạnh tranh lành mạnh.
 
Theo báo BGĐT
Ảnh bìa: 

XOÀI VÀ VÚ SỮA VIỆT NAM CHUẨN BỊ TIẾN VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ

Nhóm thông tin: 
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) vừa cho đăng Công báo Liên bang đề xuất xin ý kiến công chúng về việc sửa đổi các quy định cho phép trái xoài tươi của Việt Nam được nhập khẩu vào thị trường Mỹ.
 

Ảnh minh hoạ.
Với động thái này, có thể khẳng định gần như chắc chắn sản phẩm trái xoài tươi sẽ là loại trái cây thứ sáu của Việt Nam được phép nhập khẩu vào tiêu thụ tại thị trường Mỹ từ cuối năm nay, sau thanh long, chôm chôm, vải, nhãn và vú sữa. 
 
Tham tán Thương mại Việt Nam tại Mỹ, ông Đào Trần Nhân cho biết để có thể bước chân vào thị trường đầy tiềm năng song cũng rất khắt khe này, sản phẩm trái xoài tươi từ Việt Nam sẽ phải trải qua những tiêu chuẩn nghiêm ngặt của hệ thống kiểm soát của Mỹ, bao gồm các quy định về vườn trồng, xử lý chiếu xạ và kiểm tra hải quan tại cảng đến. Bên cạnh đó, trái xoài tươi từ Việt Nam chỉ được nhập khẩu vào Mỹ dưới dạng các lô hàng thương mại và phải kèm theo chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm của Cục Bảo vệ Thực vật Việt Nam. 
 
Cơ quan kiểm dịch động thực vật Hoa Kỳ (APHIS) đã hoàn tất Báo cáo phân tích nguy cơ dịch hại để đánh giá những nguy cơ liên quan đến việc nhập khẩu trái xoài tươi từ Việt Nam vào lục địa Mỹ, trong đó chỉ rõ 18 loại côn trùng có nguy cơ xâm nhập vào Mỹ trên các lô hàng xoài tươi xuất khẩu từ Việt Nam. 
 
Được biết, hàng năm Mỹ phải nhập khoảng gần 400.000 tấn xoài tươi chủ yếu từ các quốc gia châu Mỹ như Mexico, Peru, Ecuador, Brazil và Guatamala  để có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Xoài nội địa của Mỹ chủ yếu được trồng tại các bang Florida, Hawaii và một lượng nhỏ tại California và Texas, nhưng tổng sản lượng nội địa chỉ đạt khoảng 3.000 tấn/năm. 
 
Theo tính toán của các chuyên gia, với quyết định cho phép nhập khẩu xoài tươi của Việt Nam, dự kiến hàng năm Việt Nam có thể xuất sang Mỹ khoảng 3.000 tấn xoài tươi, tương đương khoảng gần 1% lượng nhập khẩu xoài tươi của quốc gia này và ngang bằng với sản lượng nội địa của Mỹ. 
 
Trước đó, USDA cũng đăng Công báo Liên bang về việc sẽ cho phép nhập khẩu trái vú sữa của Việt Nam vào thị trường Mỹ, dự kiến bắt đầu từ quý IV/2016. Việc Mỹ chuẩn bị mở cửa thị trường cho trái vú sữa và xoài của Việt Nam là một tin rất vui trong bối cảnh người nông dân Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm đầu ra cho nông sản. 
 
Thông báo của USDA sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước biết và chuẩn bị các điều kiện cần thiết về mặt hàng và thương nhân, sẵn sàng cung cấp sản phẩm vú sữa, xoài tươi vào thị trường Mỹ ngay khi có thông báo chính thức. 
 
Theo TTXVN
 
Ảnh bìa: 

LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU 7 THÁNG GIẢM 18,4%

Nhóm thông tin: 
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT, 7 tháng qua, cả nước xuất khẩu 2,93 triệu tấn gạo, đạt 1,32 tỷ USD, giảm 18,4% về lượng và giảm 14,4% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. 
 

Ảnh minh hoạ.
Trung Quốc dẫn đầu về nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm khoảng 35% thị phần, Indonesia khoảng 11,6% thị phần... 
 
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, lượng gạo xuất khẩu giảm đáng kể là do sản xuất lúa gạo trong nước gặp khó khăn bởi hạn hán và xâm nhập mặn xảy ra đồng loạt tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, nhiều thị trường nhập khẩu gạo truyền thống của Việt Nam như Philippines giảm đáng kể (giảm 54,3%), Malaysia giảm 59,2%… 
 
Dự báo, từ nay đến cuối năm xuất khẩu gạo của nước ta còn gặp nhiều khó khăn do lượng gạo sản xuất trong nước giảm, ảnh hưởng của mưa bão và sự cạnh tranh của các nước xuất khẩu gạo như Thái Lan, Ấn Độ… 
 
Theo Đào Huyền/HNM
Ảnh bìa: 

ĐÓN NHẬN NHÃN HIỆU MỲ GẠO CHÂU SƠN

Nhóm thông tin: 
UBND xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên (Bắc Giang) vừa tổ chức đón nhận nhãn hiệu mỳ gạo Châu Sơn. 
 

Ảnh tanyen.gov.vn
Làng mỳ gạo Châu Sơn hình thành từ những năm 80 của thế kỷ trước, bắt đầu phát triển mạnh từ năm 1990. Tháng 5-2015, Hội Sản xuất mỳ gạo Châu Sơn được thành lập và phối hợp xúc tiến việc xây dựng nhãn hiệu. 
 
Tháng 6-2016, nhãn hiệu mỳ gạo Châu Sơn được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH và CN) công nhận. Hiện nay, làng nghề Châu Sơn có hơn 50 hộ làm mỳ, sản phẩm đã có chỗ đứng trên thị trường, tiêu thụ ở hầu hết các tỉnh, TP phía Bắc, doanh thu đạt hàng chục tỷ đồng mỗi năm.  
 
Sau khi đón nhận nhãn hiệu, Hội Sản xuất mỳ gạo Châu Sơn và UBND xã Ngọc Châu phối hợp với các cơ quan chuyên môn tiếp tục quảng bá, quản lý tốt việc sử dụng nhãn hiệu. Đồng thời quan tâm mở rộng quy mô sản xuất, giữ vững chất lượng sản phẩm.  
 
           Theo báo BGĐT
Ảnh bìa: 

NHÌN LẠI VỤ VẢI THIỀU NĂM 2016: ĐƯỢC GIÁ, TIÊU THỤ THUẬN LỢI

Nhóm thông tin: 
Đến nay, vụ vải thiều trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã khép lại với niềm vui của người trồng vải về vụ quả được giá, tiêu thụ thuận lợi. Từ vùng xuôi đến miền ngược, các nhà vườn đang bắt tay vào chăm sóc để cây vải lại sức với mong muốn tiếp tục đón mùa quả bội thu ở vụ sau. 
 

Sơ chế, đóng gói vải thiều trước khi xuất khẩu tại HTX Sản xuất nông sản và thương mại Hồng Giang (Lục Ngạn).
Chất lượng quả vải tăng, thị trường rộng mở
 
Năm nay, do ảnh hưởng của thời tiết, nhiều vườn vải chỉ ra lộc mà không hoa nên sản lượng vải thiều toàn tỉnh chỉ đạt hơn 142 nghìn tấn, giảm 50 nghìn tấn so với vụ trước. Tuy nhiên, chất lượng quả lại nâng lên bởi quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP tiếp tục được nhân rộng. Toàn tỉnh có 12,56 nghìn ha vải thiều sản xuất theo hướng VietGAP (tăng 300 ha so với năm trước). Riêng tại huyện Lục Ngạn, diện tích sản xuất theo quy trình GlobalGAP 158 ha, tăng gần 60 ha với 18 vùng được cấp mã số. Sản lượng vải thiều được chăm sóc theo tiêu chuẩn GlobalGAP đạt khoảng 1 nghìn tấn. 
 
Do bảo đảm các tiêu chuẩn nên số vải thiều này tiêu thụ thuận lợi tại một số thị trường khó tính như: Mỹ, Australia, các hệ thống siêu thị: Big C, Hapro, Fivimart… với giá bán dao động từ 22- 35 nghìn đồng/kg. Trên bình diện chung, giá bán trung bình vải thiều năm nay 21 nghìn đồng/kg, tăng 6 nghìn đồng so với năm ngoái.
 
Cùng với nâng cao chất lượng quả vải, việc khơi thông thị trường được ngành chức năng, cấp ủy, chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm. Trước, trong thời gian thu hoạch, nhiều hội nghị xúc tiến tiêu thụ, xuất khẩu vải thiều được tổ chức trong tỉnh, tại tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn, TP Hồ Chí Minh với sự tham gia của đại diện chính quyền, ngành chức năng các tỉnh và một số huyện, thị của Trung Quốc có cửa khẩu với Việt Nam. Đặc biệt, tại thủ đô Hà Nội, năm nay, lần đầu tiên UBND tỉnh tổ chức “Tuần lễ vải thiều Lục Ngạn - Bắc Giang tại Hà Nội”, qua đó giúp người tiêu dùng thủ đô được tiếp cận với quả vải thiều Lục Ngạn chính hiệu. Cấp ủy, chính quyền huyện Lục Ngạn đã tổ chức các buổi gặp mặt, tọa đàm với thương nhân Trung Quốc tham gia tiêu thụ vải thiều nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. 
 
Nhờ tăng tính chủ động và được tạo điều kiện trong vận chuyển, thông quan từ tỉnh bạn, hoạt động tiêu thụ vải thiều tại thị trường nội địa khá thuận lợi, xuất khẩu vải thiều qua một số cửa khẩu cũng “thuận buồm, xuôi gió”, không có tình trạng ùn tắc. Sản lượng vải thiều xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Mỹ, Australia, Hàn Quốc, Malaysia… đạt khoảng 50% tổng sản lượng vải thiều toàn tỉnh. 
 
Được biết, nhằm tạo thuận lợi nhất cho việc xuất khẩu vải thiều, năm nay, Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch (Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã khánh thành, bàn giao dây chuyền chế biến vải thiều tươi xuất khẩu đầu tiên của tỉnh cho HTX Sản xuất nông sản và thương mại Hồng Giang (Lục Ngạn). Dây chuyền có tổng mức đầu tư hơn 6 tỷ đồng, công suất đạt 1 tấn quả/giờ tạo thuận lợi cho việc sơ chế vải thiều trước khi chiếu xạ. Bên cạnh đó, Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội (Bộ Khoa học và Công nghệ) được ngành chức năng phía Úc công nhận được phép xử lý vải thiều tươi xuất khẩu đã góp phần giảm giá thành quả vải, tiết kiệm thời gian và công sức cho doanh nghiệp (DN) xuất khẩu. 
 
Theo ông Vũ Đào, Giám đốc Công ty TNHH Phong Sơn Tiệm (Hà Nội), chiếu xạ tại Hà Nội, mỗi cân vải thiều giảm được khoảng 0,5 USD giá thành, đồng thời giảm khoảng 12 tiếng thời gian vận chuyển. Do đó, chất lượng quả vải sẽ tốt hơn và DN có điều kiện giảm giá bán, tăng sức cạnh tranh. Không chỉ vậy, ông Đặng Quang Thiệu, Giám đốc Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội cho biết: “Chi phí chiếu xạ ở trung tâm chỉ vào khoảng 6 nghìn đồng/kg, thấp hơn 4 nghìn đồng so với các DN ở TP Hồ Chí Minh”.
 
Khắc phục tồn tại
 
Được đánh giá là vụ vải thiều thành công, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề ngành chức năng, chính quyền địa phương lưu tâm, nổi bật là chất lượng quả vải không đồng đều. Đây cũng là lý do giá vải thiều tại Lục Ngạn có thời điểm lên đến gần 40 nghìn đồng/kg, cao gấp 3, thậm chí 4 lần tại Yên Thế, Lạng Giang hay Sơn Động. Vải thiều xuất khẩu chủ yếu là ở Lục Ngạn, Tân Yên còn các huyện khác rất khó do không bảo đảm chất lượng, mẫu mã. Tình trạng ùn tắc giao thông vẫn xảy ra. 
 
Trong vụ vải thiều còn xuất hiện tình trạng tăng đột xuất một số loại dịch vụ như đá, thùng xốp khiến nhiều thương nhân gặp khó. Ngoài ra, Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội đã được cơ quan chức năng Úc công nhận nhưng lại chưa được phía Mỹ cho phép nên muốn xuất khẩu vải thiều tươi sang Mỹ, DN vẫn phải vận chuyển vào TP Hồ Chí Minh để chiếu xạ. 
 
Trao đổi với ông Trần Quang Tấn, Giám đốc Sở Công thương được biết, thời gian tới, tỉnh không chủ trương mở rộng vùng trồng vải thiều mà tiếp tục nâng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Ngành công thương tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện tốt việc triển khai hợp tác, tạo liên kết chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa chủ lực giữa TP Hà Nội và tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2016-2020, trong đó có vải thiều. 
 
Đặc biệt, để vụ sau hơn hẳn vụ này, rất cần sự vào cuộc tích cực của các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương. Sự đồng hành của các cơ quan thông tin đại chúng đã giúp sản phẩm vải thiều được quảng bá, tuyên truyền rộng rãi đến người tiêu dùng trong, ngoài nước. Đồng thời, phản ánh của báo chí cũng giúp cơ quan chức năng có giải pháp kịp thời hỗ trợ, khuyến cáo người trồng vải, thương nhân và DN tiêu thụ vải thiều. Đi đôi với biện pháp trên, cơ quan chức năng phối hợp quản lý tốt một số loại dịch vụ đi kèm mùa vải thiều.
 
Theo báo BGĐT
Ảnh bìa: