Thị trường

DUY TRÌ CÁC ĐIỂM BÁN THỊT LỢN SẠCH: GIÁM SÁT CHẶT CHẼ, CẠNH TRANH LÀNH MẠNH

Nhóm thông tin: 
Nhằm giới thiệu, cung cấp sản phẩm an toàn đến người tiêu dùng, một số trang trại chăn nuôi trong tỉnh đã mở cửa hàng bán thịt lợn sạch tại TP Bắc Giang. Tuy nhiên, việc duy trì và phát triển các quầy hàng này gặp không ít khó khăn.
 

Điểm bán thịt lợn của HTX Tín Nhiệm trên đường Nguyễn Thị Lưu, phường Ngô Quyền (TP Bắc Giang).
Hai tháng qua, Hợp tác xã (HTX) Chăn nuôi và Dịch vụ thực phẩm sạch Tín Nhiệm, xã Đồng Sơn (TP Bắc Giang) mở 8 cửa hàng bán thịt lợn sạch tại phường Ngô Quyền, Lê Lợi, Mỹ Độ và xã Tân Mỹ. Giá bán niêm yết dao động từ 75 đến 110 nghìn đồng/kg, cao hơn 20% so với thịt thông thường. Ngay khi giết mổ, thịt được bảo quản, vận chuyển bằng xe lạnh mang đến quầy hàng. Ông Lưu Văn Nhiệm, Giám đốc HTX cho biết: “Sau 6 tháng nuôi, lợn mới xuất chuồng, dài hơn so với phương thức thông thường 2 tháng. Sản phẩm bước đầu đã được người tiêu dùng đón nhận. Hiện nay, mỗi điểm bán tiêu thụ bình quân khoảng 80 kg thịt/ngày”. Chị Lã Thị Cẩm Vân, tổ dân phố Vĩnh Ninh 2, phường Hoàng Văn Thụ (TP Bắc Giang) cho biết: “Mua thịt tại cửa hàng của HTX về chế biến, tôi yên tâm về nguồn gốc, chất lượng. Giờ đây, tôi chọn nơi này là điểm mua hàng thường xuyên”. 
 
Vậy nhưng việc tiêu thụ sản phẩm của HTX còn không ít trở ngại do điểm giết mổ thô sơ, quầy bán hàng chưa đầy đủ trang thiết bị. Một bộ phận người dân chưa có thói quen sử dụng sản phẩm an toàn, thấy giá bán cao hơn nên không mua. Vì vậy mà HTX mới tiêu thụ được gần một tấn thịt/ngày trong khi nhu cầu sử dụng của người dân TP lên tới hàng chục tấn. Theo đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, kết quả ban đầu mà HTX làm được rất đáng khích lệ. Để giám sát quy trình sản xuất, nhiều lần đoàn kiểm tra chuyên ngành của Sở đã kiểm tra đột xuất cơ sở chăn nuôi của HTX song không phát hiện vi phạm. Như vậy, cái gốc là sản xuất an toàn đã được HTX thực hiện tốt. Khâu phân phối vẫn còn những khó khăn cần từng bước khắc phục. 
 
Chỉ đạo về vấn đề này khi kiểm tra thực tế tại điểm bán hàng của HTX tại đường Nguyễn Thị Lưu, phường Ngô Quyền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái nhấn mạnh, sử dụng thực phẩm sạch là đòi hỏi bức thiết của xã hội. Do đó, cơ quan chuyên môn, chính quyền sở tại cần quan tâm, hỗ trợ nhiều hơn nữa để hoàn thiện, nhân rộng các điểm cung cấp nông sản sạch. Riêng với điểm bán thịt lợn sạch, TP Bắc Giang cần nghiên cứu hỗ trợ thiết bị tại quầy hàng; quy trình giết mổ; tăng cường tuyên truyền, giới thiệu để quảng bá sản phẩm, nhất là cách nhận biết thịt lợn an toàn để người dân nắm được; giám sát chặt chẽ quy trình từ chăn nuôi đến tiêu thụ, xử lý nghiêm các sản phẩm không bảo đảm chất lượng để tạo cạnh tranh lành mạnh.
 
Theo báo BGĐT
Ảnh bìa: 

XOÀI VÀ VÚ SỮA VIỆT NAM CHUẨN BỊ TIẾN VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ

Nhóm thông tin: 
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) vừa cho đăng Công báo Liên bang đề xuất xin ý kiến công chúng về việc sửa đổi các quy định cho phép trái xoài tươi của Việt Nam được nhập khẩu vào thị trường Mỹ.
 

Ảnh minh hoạ.
Với động thái này, có thể khẳng định gần như chắc chắn sản phẩm trái xoài tươi sẽ là loại trái cây thứ sáu của Việt Nam được phép nhập khẩu vào tiêu thụ tại thị trường Mỹ từ cuối năm nay, sau thanh long, chôm chôm, vải, nhãn và vú sữa. 
 
Tham tán Thương mại Việt Nam tại Mỹ, ông Đào Trần Nhân cho biết để có thể bước chân vào thị trường đầy tiềm năng song cũng rất khắt khe này, sản phẩm trái xoài tươi từ Việt Nam sẽ phải trải qua những tiêu chuẩn nghiêm ngặt của hệ thống kiểm soát của Mỹ, bao gồm các quy định về vườn trồng, xử lý chiếu xạ và kiểm tra hải quan tại cảng đến. Bên cạnh đó, trái xoài tươi từ Việt Nam chỉ được nhập khẩu vào Mỹ dưới dạng các lô hàng thương mại và phải kèm theo chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm của Cục Bảo vệ Thực vật Việt Nam. 
 
Cơ quan kiểm dịch động thực vật Hoa Kỳ (APHIS) đã hoàn tất Báo cáo phân tích nguy cơ dịch hại để đánh giá những nguy cơ liên quan đến việc nhập khẩu trái xoài tươi từ Việt Nam vào lục địa Mỹ, trong đó chỉ rõ 18 loại côn trùng có nguy cơ xâm nhập vào Mỹ trên các lô hàng xoài tươi xuất khẩu từ Việt Nam. 
 
Được biết, hàng năm Mỹ phải nhập khoảng gần 400.000 tấn xoài tươi chủ yếu từ các quốc gia châu Mỹ như Mexico, Peru, Ecuador, Brazil và Guatamala  để có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Xoài nội địa của Mỹ chủ yếu được trồng tại các bang Florida, Hawaii và một lượng nhỏ tại California và Texas, nhưng tổng sản lượng nội địa chỉ đạt khoảng 3.000 tấn/năm. 
 
Theo tính toán của các chuyên gia, với quyết định cho phép nhập khẩu xoài tươi của Việt Nam, dự kiến hàng năm Việt Nam có thể xuất sang Mỹ khoảng 3.000 tấn xoài tươi, tương đương khoảng gần 1% lượng nhập khẩu xoài tươi của quốc gia này và ngang bằng với sản lượng nội địa của Mỹ. 
 
Trước đó, USDA cũng đăng Công báo Liên bang về việc sẽ cho phép nhập khẩu trái vú sữa của Việt Nam vào thị trường Mỹ, dự kiến bắt đầu từ quý IV/2016. Việc Mỹ chuẩn bị mở cửa thị trường cho trái vú sữa và xoài của Việt Nam là một tin rất vui trong bối cảnh người nông dân Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm đầu ra cho nông sản. 
 
Thông báo của USDA sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước biết và chuẩn bị các điều kiện cần thiết về mặt hàng và thương nhân, sẵn sàng cung cấp sản phẩm vú sữa, xoài tươi vào thị trường Mỹ ngay khi có thông báo chính thức. 
 
Theo TTXVN
 
Ảnh bìa: 

LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU 7 THÁNG GIẢM 18,4%

Nhóm thông tin: 
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT, 7 tháng qua, cả nước xuất khẩu 2,93 triệu tấn gạo, đạt 1,32 tỷ USD, giảm 18,4% về lượng và giảm 14,4% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. 
 

Ảnh minh hoạ.
Trung Quốc dẫn đầu về nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm khoảng 35% thị phần, Indonesia khoảng 11,6% thị phần... 
 
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, lượng gạo xuất khẩu giảm đáng kể là do sản xuất lúa gạo trong nước gặp khó khăn bởi hạn hán và xâm nhập mặn xảy ra đồng loạt tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, nhiều thị trường nhập khẩu gạo truyền thống của Việt Nam như Philippines giảm đáng kể (giảm 54,3%), Malaysia giảm 59,2%… 
 
Dự báo, từ nay đến cuối năm xuất khẩu gạo của nước ta còn gặp nhiều khó khăn do lượng gạo sản xuất trong nước giảm, ảnh hưởng của mưa bão và sự cạnh tranh của các nước xuất khẩu gạo như Thái Lan, Ấn Độ… 
 
Theo Đào Huyền/HNM
Ảnh bìa: 

ĐÓN NHẬN NHÃN HIỆU MỲ GẠO CHÂU SƠN

Nhóm thông tin: 
UBND xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên (Bắc Giang) vừa tổ chức đón nhận nhãn hiệu mỳ gạo Châu Sơn. 
 

Ảnh tanyen.gov.vn
Làng mỳ gạo Châu Sơn hình thành từ những năm 80 của thế kỷ trước, bắt đầu phát triển mạnh từ năm 1990. Tháng 5-2015, Hội Sản xuất mỳ gạo Châu Sơn được thành lập và phối hợp xúc tiến việc xây dựng nhãn hiệu. 
 
Tháng 6-2016, nhãn hiệu mỳ gạo Châu Sơn được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH và CN) công nhận. Hiện nay, làng nghề Châu Sơn có hơn 50 hộ làm mỳ, sản phẩm đã có chỗ đứng trên thị trường, tiêu thụ ở hầu hết các tỉnh, TP phía Bắc, doanh thu đạt hàng chục tỷ đồng mỗi năm.  
 
Sau khi đón nhận nhãn hiệu, Hội Sản xuất mỳ gạo Châu Sơn và UBND xã Ngọc Châu phối hợp với các cơ quan chuyên môn tiếp tục quảng bá, quản lý tốt việc sử dụng nhãn hiệu. Đồng thời quan tâm mở rộng quy mô sản xuất, giữ vững chất lượng sản phẩm.  
 
           Theo báo BGĐT
Ảnh bìa: 

NHÌN LẠI VỤ VẢI THIỀU NĂM 2016: ĐƯỢC GIÁ, TIÊU THỤ THUẬN LỢI

Nhóm thông tin: 
Đến nay, vụ vải thiều trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã khép lại với niềm vui của người trồng vải về vụ quả được giá, tiêu thụ thuận lợi. Từ vùng xuôi đến miền ngược, các nhà vườn đang bắt tay vào chăm sóc để cây vải lại sức với mong muốn tiếp tục đón mùa quả bội thu ở vụ sau. 
 

Sơ chế, đóng gói vải thiều trước khi xuất khẩu tại HTX Sản xuất nông sản và thương mại Hồng Giang (Lục Ngạn).
Chất lượng quả vải tăng, thị trường rộng mở
 
Năm nay, do ảnh hưởng của thời tiết, nhiều vườn vải chỉ ra lộc mà không hoa nên sản lượng vải thiều toàn tỉnh chỉ đạt hơn 142 nghìn tấn, giảm 50 nghìn tấn so với vụ trước. Tuy nhiên, chất lượng quả lại nâng lên bởi quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP tiếp tục được nhân rộng. Toàn tỉnh có 12,56 nghìn ha vải thiều sản xuất theo hướng VietGAP (tăng 300 ha so với năm trước). Riêng tại huyện Lục Ngạn, diện tích sản xuất theo quy trình GlobalGAP 158 ha, tăng gần 60 ha với 18 vùng được cấp mã số. Sản lượng vải thiều được chăm sóc theo tiêu chuẩn GlobalGAP đạt khoảng 1 nghìn tấn. 
 
Do bảo đảm các tiêu chuẩn nên số vải thiều này tiêu thụ thuận lợi tại một số thị trường khó tính như: Mỹ, Australia, các hệ thống siêu thị: Big C, Hapro, Fivimart… với giá bán dao động từ 22- 35 nghìn đồng/kg. Trên bình diện chung, giá bán trung bình vải thiều năm nay 21 nghìn đồng/kg, tăng 6 nghìn đồng so với năm ngoái.
 
Cùng với nâng cao chất lượng quả vải, việc khơi thông thị trường được ngành chức năng, cấp ủy, chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm. Trước, trong thời gian thu hoạch, nhiều hội nghị xúc tiến tiêu thụ, xuất khẩu vải thiều được tổ chức trong tỉnh, tại tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn, TP Hồ Chí Minh với sự tham gia của đại diện chính quyền, ngành chức năng các tỉnh và một số huyện, thị của Trung Quốc có cửa khẩu với Việt Nam. Đặc biệt, tại thủ đô Hà Nội, năm nay, lần đầu tiên UBND tỉnh tổ chức “Tuần lễ vải thiều Lục Ngạn - Bắc Giang tại Hà Nội”, qua đó giúp người tiêu dùng thủ đô được tiếp cận với quả vải thiều Lục Ngạn chính hiệu. Cấp ủy, chính quyền huyện Lục Ngạn đã tổ chức các buổi gặp mặt, tọa đàm với thương nhân Trung Quốc tham gia tiêu thụ vải thiều nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. 
 
Nhờ tăng tính chủ động và được tạo điều kiện trong vận chuyển, thông quan từ tỉnh bạn, hoạt động tiêu thụ vải thiều tại thị trường nội địa khá thuận lợi, xuất khẩu vải thiều qua một số cửa khẩu cũng “thuận buồm, xuôi gió”, không có tình trạng ùn tắc. Sản lượng vải thiều xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Mỹ, Australia, Hàn Quốc, Malaysia… đạt khoảng 50% tổng sản lượng vải thiều toàn tỉnh. 
 
Được biết, nhằm tạo thuận lợi nhất cho việc xuất khẩu vải thiều, năm nay, Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch (Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã khánh thành, bàn giao dây chuyền chế biến vải thiều tươi xuất khẩu đầu tiên của tỉnh cho HTX Sản xuất nông sản và thương mại Hồng Giang (Lục Ngạn). Dây chuyền có tổng mức đầu tư hơn 6 tỷ đồng, công suất đạt 1 tấn quả/giờ tạo thuận lợi cho việc sơ chế vải thiều trước khi chiếu xạ. Bên cạnh đó, Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội (Bộ Khoa học và Công nghệ) được ngành chức năng phía Úc công nhận được phép xử lý vải thiều tươi xuất khẩu đã góp phần giảm giá thành quả vải, tiết kiệm thời gian và công sức cho doanh nghiệp (DN) xuất khẩu. 
 
Theo ông Vũ Đào, Giám đốc Công ty TNHH Phong Sơn Tiệm (Hà Nội), chiếu xạ tại Hà Nội, mỗi cân vải thiều giảm được khoảng 0,5 USD giá thành, đồng thời giảm khoảng 12 tiếng thời gian vận chuyển. Do đó, chất lượng quả vải sẽ tốt hơn và DN có điều kiện giảm giá bán, tăng sức cạnh tranh. Không chỉ vậy, ông Đặng Quang Thiệu, Giám đốc Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội cho biết: “Chi phí chiếu xạ ở trung tâm chỉ vào khoảng 6 nghìn đồng/kg, thấp hơn 4 nghìn đồng so với các DN ở TP Hồ Chí Minh”.
 
Khắc phục tồn tại
 
Được đánh giá là vụ vải thiều thành công, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề ngành chức năng, chính quyền địa phương lưu tâm, nổi bật là chất lượng quả vải không đồng đều. Đây cũng là lý do giá vải thiều tại Lục Ngạn có thời điểm lên đến gần 40 nghìn đồng/kg, cao gấp 3, thậm chí 4 lần tại Yên Thế, Lạng Giang hay Sơn Động. Vải thiều xuất khẩu chủ yếu là ở Lục Ngạn, Tân Yên còn các huyện khác rất khó do không bảo đảm chất lượng, mẫu mã. Tình trạng ùn tắc giao thông vẫn xảy ra. 
 
Trong vụ vải thiều còn xuất hiện tình trạng tăng đột xuất một số loại dịch vụ như đá, thùng xốp khiến nhiều thương nhân gặp khó. Ngoài ra, Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội đã được cơ quan chức năng Úc công nhận nhưng lại chưa được phía Mỹ cho phép nên muốn xuất khẩu vải thiều tươi sang Mỹ, DN vẫn phải vận chuyển vào TP Hồ Chí Minh để chiếu xạ. 
 
Trao đổi với ông Trần Quang Tấn, Giám đốc Sở Công thương được biết, thời gian tới, tỉnh không chủ trương mở rộng vùng trồng vải thiều mà tiếp tục nâng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Ngành công thương tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện tốt việc triển khai hợp tác, tạo liên kết chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa chủ lực giữa TP Hà Nội và tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2016-2020, trong đó có vải thiều. 
 
Đặc biệt, để vụ sau hơn hẳn vụ này, rất cần sự vào cuộc tích cực của các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương. Sự đồng hành của các cơ quan thông tin đại chúng đã giúp sản phẩm vải thiều được quảng bá, tuyên truyền rộng rãi đến người tiêu dùng trong, ngoài nước. Đồng thời, phản ánh của báo chí cũng giúp cơ quan chức năng có giải pháp kịp thời hỗ trợ, khuyến cáo người trồng vải, thương nhân và DN tiêu thụ vải thiều. Đi đôi với biện pháp trên, cơ quan chức năng phối hợp quản lý tốt một số loại dịch vụ đi kèm mùa vải thiều.
 
Theo báo BGĐT
Ảnh bìa: 

BƯỚC PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ SAU BA THẬP KỶ

Nhóm thông tin: 
30 năm đổi mới (1986 - 2016) là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Khoa học và công nghệ là một trong những lĩnh vực được Đảng và Nhà nước quan tâm từ rất sớm, đến nay nhìn lại 30 năm đổi mới, có thể khẳng định cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã có bước phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu to lớn, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển chung của đất nước.
 
Hệ thống văn bản chính sách pháp luật được hoàn thiện
 
Ông Phạm Quang Trung, Phó Bí thư Đảng ủy chuyên trách, Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh​ thành tựu quan trọng và phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ chính là hệ thống văn bản chính sách pháp luật được hoàn thiện. 
 
Có thể nói, sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước cho khoa học và công nghệ được “kết tinh” và khẳng định rõ trong giai đoạn 2011 - 2015, với môi trường thể chế và hệ thống pháp luật về khoa học và công nghệ được hoàn thiện. 
 
Quan điểm, đường lối và tầm nhìn dài hạn về phát triển khoa học và công nghệ được thể hiện tại Văn kiện Đại hội XI của Đảng năm 2011, Nghị quyết số 20 ngày 1/11/2012 Hội nghị Trung ương 6, khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. 
 
Nghị quyết 20 nêu rõ, phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp; ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển khoa học và công nghệ.
 
Đáng chú ý, ngày 11/4/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 418 phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt, đảm bảo đến năm 2020 khoa học và công nghệ Việt Nam có m​ột số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực ASEAN và thế giới.
 
Nghị quyết 20 và Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ là khung cơ bản để ban hành Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 (sửa đổi) thay Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000. Đây là dấu ấn rất quan trọng, tạo sự thay đổi trong tư duy quản lý hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo cũng như định hướng, để khoa học và công nghệ “bứt phá” và phát triển. 
 
Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 đã tiến thêm một bước trong các nỗ lực tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện tổ chức, hoạt đông và cơ chế quản lý khoa học và công nghệ. 
 
Đổi mới tập trung vào 3 nhóm chế định: Đầu tư và tài chính; chính sách cán bộ; quản lý hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ. Hệ thống văn bản dưới Luật cũng được ban hành đồng bộ để hoàn thiện Luật Khoa học và Công nghệ, đưa tinh thần đổi mới của luật đi vào cuộc sống.
 
Sự ra đời của Luật Khoa học và Công nghệ cùng với Luật Đo lường (2011) và các Luật: Sở hữu trí tuệ (2005), Sửa đổi bổ sung (2009); Chuyển giao công nghệ (2006); Têu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (2006); Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (2007); Năng lượng nguyên tử (2008); Công nghệ cao (2008)… đã tạo thành một hệ thống pháp luật chuyên ngành tương đối hoàn chỉnh và toàn diện, mở ra hành lang pháp lý thuận lợi và đồng bộ cho hoạt động khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo, đưa khoa học và công nghệ từng bước trở thành động lực tăng trưởng kinh tế​ - xã hội.
 
Nhiều tiêu chí theo chuẩn quốc tế
 
Cũng theo ông Phạm Quang Trung, thành tựu nổi bật là tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt 10 - 15%/năm giai đoạn 2011 - 2015 và trên 20%/năm giai đoạn 2016 - 2020. Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị được Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng và thống nhất dựa trên phương pháp tính toán tốc độ đổi mới sáng tạo của ​châu Âu. 
 
Thực tế, trừ một số lĩnh vực có tốc độ đổi mới công nghệ khá nhanh như công nghệ thông tin - viễn thông, dầu khí, hàng không, tài chính - ngân hàng… thì phần lớn vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu do nguồn cung và năng lực công nghệ Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu, các doanh nghiệp chủ yếu phải nhập khẩu máy móc, thiết bị từ nước ngoài để đổi mới công nghệ.
 
Xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt ​Nam năm 2015 đã tăng 12 bậc, đứng thứ 56/140 quốc gia xếp hạng nhưng mức độ sẵn sàng về công nghệ chỉ đứng thứ 92, FDI và chuyển giao công nghệ thứ 81, khả năng tiếp cận công nghệ mới chỉ đứng 112/140 quốc gia.
 
Nguyên nhân chính do khoa học và công nghệ chưa được xem là nhân tố quan trọng quyết định tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, bên cạnh đó doanh nghiệp Việt chưa có tầm nhìn dài hạn, thiếu nhân lực và tiềm lực tài chính để tiến hành đổi mới, nâng cấp công nghệ.
 
Đáng chú ý là tổng số bài báo, công trình khoa học được công bố quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015 tới 11.738, gấp 2,2 lần so với giai đoạn 2006 - 2010, đạt tốc độ tăng bình quân là 19,5%/năm.
 
Toán học, vật lý và hóa học tiếp tục là những lĩnh vực có thế mạnh của Việt Nam chiếm 40% tổng công bố quốc tế trong 5 năm qua, trong đó toán học có số lượng công bố quốc tế đứng đầu khu vực Đông Nam Á. 
 
Tính tổng số công bố quốc tế giai đoạn 2011 - 2015, Việt Nam xếp thứ 59 trên thế giới và thứ 4 của Đông Nam Á so với thứ 73 của thế giới giai đoạn 2001 - 2005 là cả sự nỗ lực đóng góp của ngành khoa học và công nghệ. 
 
Việc tăng số lượng công bố quốc tế của Việt Nam trong 5 năm qua do việc tăng quy mô và hiệu quả hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước thông qua Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (Nafosted) với việc chú trọng cho sản phẩm đầu ra, minh bạch hóa quá trình xét chọn, tuyển chọn nhiệm vụ.
 
Thị trường khoa học và công nghệ được hình thành
 
Khoa học và công nghệ đã hình thành được thị trường mới là thị trường khoa học và công nghệ, nhưng thị trường này phát triển chậm, chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý.
 
Thị trường khoa học và công nghệ nhằm tạo điều kiện trao đổi, mua bán công nghệ, hành lang pháp lý vận hành thị trường được bổ sung, hoàn thiện với các quy định mới về thành lập tổ chức trung gian, định giá tài sản trí tuệ, giao quyền sở hữu kết quả khoa học và công nghệ cho cơ quan chủ trì, phân chia lợi ích sau thương mại hóa…
 
Các chương trình quốc gia thúc đẩy sự phát triển của thị trường cũng được triển khai tích cực: Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020; Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ; Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ.
 
Mạng lưới các tổ chức trung gian tư vấn, đánh giá, môi giới chuyển giao công nghệ được tăng cường. Hoạt động của thị trường ngày càng sôi động với các chợ công nghệ và thiết bị quốc gia và quốc tế, sàn giao dịch công nghệ, hoạt động kết nối cung -  cầu công nghệ ở các địa phương và vai trò gia tăng của các trung tâm ứng dụng và phát triển công nghệ ở 63 tỉnh, thành phố.
 
Hiện cả nước có 8 sàn giao dịch công nghệ gồm Hà Nội​, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Thái Bình, Nghệ An. Tổng giá trị giao dịch công nghệ giai đoạn 2011 - 2015 đạt hơn 13.700 ​tỷ đồng, tăng 3 lần so với giai đoạn trước.
 
Xây dựng quy định và tiêu chí đánh giá, định giá tài sản trí tuệ, chuyển nhượng; Hoàn thiện các chính sách về hỗ trợ xác lập và bảo vệ quyền sở hữu tài sản trí tuệ, xây dựng thương hiệu và thương mại hóa sản phẩm; khuyến khích thành lập tổ chức chuyển giao công nghệ trong các trường đại học, viện nghiên cứu; phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghệ, kết nối cung ​- cầu sản phẩm khoa học và công nghệ mới để góp phần thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ.
 
Chưa thực sự trở thành động lực phát triển
 
Ông Phạm Quang Trung nhấn mạnh hoạt động khoa học và công nghệ đã đạt được nhiều thành tựu, thúc đẩy sự phát triển của nhiều lĩnh vực nhưng nhìn chung còn trầm lắng, chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội.
 
Cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ đã từng bước được đổi mới nhưng chưa phát huy hiệu quả, công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ chưa gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Thiếu các hướng ưu tiên phù hợp, các chính sách, giải pháp mạnh mẽ để tạo đột phá trong những lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế, vì vậy chưa hình thành được các lĩnh vực khoa học và công nghệ mũi nhọn, đạt trình độ tiên tiến, có khả năng cạnh tranh bình đẳng với khu vực và thế giới.
 
Khoa học và công nghệ được Đảng và Nhà nước xác định là quốc sách hàng đầu cần ưu tiên đầu tư và tập trung mọi nguồn lực quốc gia để phát triển nhưng trên thực tế, nhiều cấp ủy đảng, chính quyền nhận thức về nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học và công nghệ chưa thật đầy đủ, chưa coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm, chưa bố trí cán bộ lãnh đạo có đủ thẩm quyền trực tiếp chỉ đạo công tác khoa học và công nghệ.
 
Bên cạnh đó, việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khoa học và công nghệ còn thiếu chủ động, quyết liệu. Chưa có giải pháp đồng bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả. Sự phối hợp giữa các Bộ, ban, ngành và giữa Trung ương với các địa phương chưa chặt chẽ, nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chậm được tháo gỡ.
 
Đặc biệt, đầu tư nguồn lực cho khoa học và công nghệ chưa tương xứng, chưa tạo được môi trường minh bạch trong hoạt động khoa học và công nghệ, thiếu quy định về dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn; chưa hình thành nhu cầu tự thân đủ mạnh của các doanh nghiệp trong phát huy vai trò của khoa học và công nghệ.
 
Vì vậy, giai đoạn tới, ngành khoa học và công nghệ tiếp tục đề ra các phương hướng, giải pháp chiến lược để đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước./.
 
HT (th)
 
 
Ảnh bìa: 

GIÁ THỊ TRƯỜNG BẮC GIANG NGÀY 4-9

Nhóm thông tin: 
1. Vàng SJC: Mua vào: 3,825 triệu đồng/chỉ, bán ra: 3,839 triệu đồng/chỉ.
 
 
Ảnh minh hoạ.
 
2. Đô-la: 1USD= 21.110đ – 21.180đ (mua vào-bán ra).
3. Ơ-rô:  1EUR= 27.613đ – 28.084đ (mua vào-bán ra).
 
4. Gạo: Khang dân: 11.000đ/kg; bông hồng: 14.000d/kg; Tám thơm: 14.500đ/kg; tám Hải Hậu: 15.000đ/kg; nếp cái hoa vàng: 28.000đ/kg; nếp cẩm Điện Biên: 28.000đ/kg; xi dẻo: 12.000đ/kg; Bắc Hương: 14.000đ/kg.
 
Nguồn: Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Bắc Giang; chợ Thương (TP Bắc Giang).
 
 
Ảnh bìa: 

GIÁ THỊ TRƯỜNG BẮC GIANG NGÀY 19-6

Nhóm thông tin: 
1. Vàng SJC: mua vào 3,985 triệu đ/chỉ, bán ra 4,047 triệu đ/chỉ.
 
2. Đôla: Tăng nhẹ 1 USD =  21.025đ - 21.036đ (mua vào - bán ra).
 
3. EUR: 1 EUR = 27.853đ - 28.328đ (mua vào - bán ra).
 
4. Thực phẩm:
 
Thịt lợn mông sấn : 85.000 đ/kg; thịt ba chỉ: 80.000 đ/kg; nạc vai: 85.000 đ/kg; thịt thăn: 80.000 đ/kg; xương sườn: 80.000 đ/kg. Thịt bò loại 1: 260.000 đ/kg; thịt trâu loại 1: 270.000 đ/kg.
 
Nguồn: Ngân hàng Vietcombank - Chi nhánh Bắc Giang; chợ Thương, chợ Hà Vị (TP Bắc Giang).
 
Ảnh bìa: 

BẢN TIN GIÁ VẢI THIỀU NGÀY 18/6/2013

Nhóm thông tin: 
Thông tin từ các đại lý lớn và cộng tác viên tại một số huyện, TP về giá vải thiều trên địa bàn tỉnh Bắc Giang được cập nhật như sau.
 
 
Một điểm thu mua vải thiều tại thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn.
 
Tại huyện Lục Ngạn, giá thu mua vải thiều hôm nay tăng hơn so với ngày hôm qua 2.000 đồng. Cụ thể: Tại khu vực phố Kim, xã Phượng Sơn: Vải thiều loại 1 từ 17.000-20.000 đ/kg, loại 2 từ 12.000-16.000 đ/kg, loại 3 từ 8.000-11.000 đ/kg. Tại thị trấn Chũ, vải thiều loại 1 từ 18.000-21.000 đ/kg, loại 2 từ 12.000-17.000 đ/kg, loại 3 từ 9.000-11.000 đ/kg. Tại phố Kép, xã Hồng Giang, vải thiều loại 1 từ 19.000-22.000 đ/kg; loại 2 từ 16.000-18.000 đ/kg. Tại xã Phì Điền, vải thiều loại 1 từ 21.000-23.000 đ/kg, vải thiều loại 2 từ 17.000-19.000 đ/kg.
 
* Còn tại huyện Sơn Động, giá bán lẻ dao động từ 10.000 - 12.000đ/1 kg. Bán buôn: 6.000 – 9.000đ/1 kg. Đến thời điểm này, huyện Sơn Động đã cơ bản hoàn thành vụ thu hoạch vải thiều năm 2013.
 
Theo thống kê sơ bộ của các cơ quan chuyên môn, vụ này ước tổng sản lượng vải thiều của toàn huyện đạt khoảng 5.620 tấn, tăng 800 tấn so với vụ năm trước. Việc tiêu thụ diễn ra thuận lợi, trong đó khoảng 80% sản lượng được tiêu thụ nội địa để sấy vải khô, 20% bán ra ngoài địa bàn huyện. Với giá bán vải tươi bình quân 10.000đ/kg, vụ này đã mang lại cho người trồng vải thiều ở Sơn Động tổng nguồn thu trên 56 tỉ đồng.
 
* Huyện Lục Nam, giá vải thiều hôm nay tại khu vực thị trấn Đồi Ngô, loại 1 đạt 12.000 đồng, loại 2 từ 8.000-9.000 đồng và loại 3 là 5.000-6.000 đồng. Riêng khu vực các xã Đông Hưng, Đông Phú giá cao hơn từ 2.000-3.000 đồng do nhiều diện tích được áp dụng tiêu chuẩn VietGAP.
 
* Hiện nay trên địa bàn huyện Yên Thế đã cơ bản thu hoạch xong diện tích vải thiều. Qua khảo sát tại các cụm: Cầu Gồ, Bố Hạ, Mỏ Trạng, mỗi cụm chỉ còn từ 1 -2 điểm thu mua vải thiều. Cuối vụ vải thiều chủ yếu chỉ còn loại 2, loại 3, giá bán dao động từ 8.000-9.000đ/kg.
 
* Tại TP Bắc Giang, giá vải thiều Lục Ngạn được nhập về các đại lý tại chợ đầu mối hoa quả tăng hơn so với ngày hôm qua, cụ thể là: Loại 1: 25.000đ/kg; loại 2 và 3 dao động từ 16.000 - 20.000đ/kg.
 
(Giá bán lẻ ở các huyện, thành phố tăng so với bán buôn từ 2.000-3.000đ/kg).
 
Ảnh bìa: 

GIÁ THỊ TRƯỜNG BẮC GIANG NGÀY 24-12

Nhóm thông tin: 
1. Vàng SJC: Mua vào : 4.620.000 đ/chỉ, bán ra : 4.637.000 đ/chỉ.
2. Đô-la: 1USD= 20.830đ - 20.870đ (mua vào - bán ra).
 
3. Giá EUR: Giảm nhẹ 1EUR=27.184 - 27.648 đ (mua vào - bán ra).
 
4. Giá ga trên địa bàn TP Bắc Giang:
 
Ga Gia Đình: 410.000 đ/bình, ga Hoàng Long: 410.000 đ/bình; total vàng: 430.000 đ/bình; Sheel: 430.000 đ/bình; ga Petro : 410.000 đ/bình(13kg); ga Hồng Hà: 410.000 đ/bình.(12 kg/bình); ga Thái Dương: 410.000 đ/bình (12kg).
 
Nguồn: Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Bắc Giang; cửa hàng Ga Thành Đạt- Lê Lợi; TP Bắc Giang.
Ảnh bìa: