Thị trường

DOANH NGHIỆP BẮT ĐẦU CẤP ĐÔNG, 'GIẢI CỨU' THỊT LỢN

Nhóm thông tin: 
Thịt lợn sẽ được cấp đông theo quy trình công nghệ của thế giới, nhờ đó, thịt lợn sẽ giữ được phẩm cấp chất lượng nguyên vẹn cả năm sau khi bảo quản.
 
 

 
Ảnh minh họa
 
Ngày 27/4, ông Lê Quang Thành, GĐ Cty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Thái Dương (Hưng Yên) cho biết, Cty này đã có kế hoạch sẽ chính thức bắt tay vào thu mua và cấp đông với số lượng trước mắt khoảng 1.000 tấn thịt lợn, tương đương khoảng 14 nghìn con lợn thịt (100 kg/con) để góp phần “giải cứu” giá lợn đang bị xuống thấp trên thị trường.
 
Việc giết mổ cấp đông sẽ được tiến hành trong thời gian muộn nhất tới ngày 5/5/2017. Cty này đã ký hợp đồng phối hợp giết mổ với khoảng 4-5 lò mổ lớn tại phía Bắc, trong đó tại Hà Nội sẽ phối hợp với lò mò theo dây chuyền tự động của Cty TNHH Minh Hiền.
 
Ông Thành cho biết, Cty cũng đang hợp tác với một số tổng kho lạnh lớn tại phía Bắc để tiến hành hợp đồng cấp đông thịt lợn quy mô lớn, trong đó có một kho lạnh quy mô 15 nghìn mét khối đang gấp rút được hoàn thiện. Khi đi vào hoạt động, nó có thể cấp động được khoảng 171 nghìn con lợn.
 
Theo ông Thành, thịt lợn sẽ được cấp đông theo quy trình công nghệ của thế giới. Cụ thể sau giết mổ, thịt sẽ được đưa ngay vào kho lạnh với nhiệt độ âm 45 độ C, sau đó được bảo quản với nhiệt độ âm 22 độ C. Với nhiệt độ này, thịt lợn sẽ giữ được phẩm cấp chất lượng nguyên vẹn cả năm sau khi bảo quản.
 
Theo NNVN
Ảnh bìa: 

TRÁI VÚ SỮA VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC BƯỚC VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ

Nhóm thông tin: 
Cơ quan Kiểm dịch Động Thực vật Mỹ (APHIS) trực thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ vừa đăng Công báo Liên bang cho biết quả vú sữa tươi của Việt Nam đã chính thức được chấp thuận nhập khẩu vào thị trường Mỹ và quyết định này có hiệu lực từ ngày 19/1.
 
 

 
Như vậy đến nay, Mỹ đã đồng ý nhập năm loại trái cây của Việt Nam là thanh long, chôm chôm, vải, nhãn và vú sữa.
 
Theo phóng viên TTXVN tại Washington, quyết định này được APHIS đưa ra sau khi đã hoàn tất Báo cáo phân tích nguy cơ dịch hại để đánh giá những nguy cơ liên quan đến việc nhập khẩu trái vú sữa tươi từ Việt Nam vào lục địa Mỹ. Trên cơ sở của Báo cáo phân tích trên, APHIS kết luận rằng trái vú sữa tươi từ Việt Nam an toàn để nhập khẩu vào lục địa Mỹ và xác định chỉ cần áp dụng một hoặc vài tiêu chuẩn về vệ sinh thực vật nhất định là có thể làm giảm bớt những nguy cơ của việc xâm nhập hay lây lan sâu bọ thực vật, hoặc dịch hại liên quan đến việc nhập khẩu trái vú sữa tươi từ Việt Nam.
 
Trước đó, APHIS đã cho đăng toàn bộ nội dung của báo cáo trên để lấy ý kiến công chúng trong vòng 60 ngày, từ 19/7 đến 19/9/2016. Trong khoảng thời gian trên, phía Mỹ chỉ nhận được một ý kiến phản hồi của một công ty sản xuất cho rằng không nhất thiết quy định bắt buộc trái vú sữa tươi phải được chiếu xạ tại Việt Nam trước khi xuất sang Mỹ mà có thể linh động cho phép thêm cả việc chiếu xạ tại nước sở tại sau khi hàng cập cảng. Tuy nhiên, APHIS đã bác đề nghị này trên cơ sở đã có văn bản chính thức của Cục Bảo vệ Thực vật Việt Nam đề nghị cho trái vú sữa tươi chiếu xạ tại Việt Nam trước khi xuất khẩu và Việt Nam hiện đã có đầy đủ hạ tầng cơ sở (các cơ sở chiếu xạ đạt chuẩn) để thực hiện công việc này.
 
Ngoài ra, báo cáo cũng đề xuất về việc trái vú sữa tươi xuất khẩu phải được bọc riêng từng quả trong túi nilon để tránh nguy cơ lan truyền dịch bệnh từ quả này sang quả khác sau khi đã xử lý chiếu xạ. Mặc dù đề xuất này của Cục Bảo vệ thực vật Việt Nam khác với quy định thông thường của Mỹ cho rằng trái cây tươi nói chung chỉ cần đóng gói trong thùng carton chống côn trùng là được, nhưng xét thấy đề xuất của Việt Nam không những tương đương mà còn hữu hiệu hơn cả biện pháp đóng gói trong thùng carton chống côn trùng nên APHIS đã chấp nhận đề nghị trên.
 
Thương vụ Việt Nam tại Mỹ cho hay ngoài việc đáp ứng các quy định chung về nhập khẩu rau quả vào thị trường Mỹ theo điều 319.56-3 của Luật về các quy định của Liên bang (CFR), trái vú sữa tươi nhập khẩu vào Mỹ còn phải đáp ứng bốn tiêu chuẩn sau: Chỉ được nhập khẩu như hàng hóa thương mại; mỗi lô hàng xuất khẩu vú sữa tươi đều phải có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật do Cục Bảo vệ Thực vật Việt Nam cấp; từng lô hàng phải được xử lý đúng quy định theo mục 7 phần 305 của CFR; mỗi chuyến hàng xuất khẩu trái vú sữa tươi đều là đối tượng kiểm tra ngay khi cập cảng vào Mỹ.
 
Hiện trái vú sữa tươi của Việt Nam đang vào vụ thu hoạch, các doanh nghiệp trong nước cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết về mặt hàng theo quy định phải chiếu xạ tại Việt Nam và quy định phải đóng gói từng quả trong túi nilon để thực hiện đúng các quy định khi xuất khẩu trái cây đặc biệt này vào thị trường Mỹ.
 
Ngoài ra, phía Mỹ cũng đang xem xét nhập khẩu trái xoài tươi từ Việt Nam và sẽ sớm có thông báo về quyết định này./.
 
Theo TTXVN
Ảnh bìa: 

DỪNG NHẬP KHẨU THỨC ĂN CHĂN NUÔI CÓ CHỨA KHÁNG SINH KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG TỪ 1/10/2017

Nhóm thông tin: 
Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) vừa có công văn số 468/CN-TĂCN gửi các đơn vị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm về việc nhập khẩu thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh đáp ứng Thông tư số 06/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về lộ trình hạn chế để tiến đến không sử dụng kháng sinh kích thích sinh trưởng (KTST) trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm (thức ăn chăn nuôi) kể từ ngày 1/1/2018 theo quy định tại Thông tư số 06/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016, Cục Chăn nuôi yêu cầu các đơn vị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi dừng nhập khẩu các sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh KTST ngoài quy định tại Thông tư số 06 kể từ ngày 1/5/2017. Đồng thời có trách nhiệm giám sát để đảm bảo không còn bất kỳ sản phẩm nhập khẩu nào ngoài quy định Thông tư số 06 do đơn vị nhập khẩu trước đó còn lưu thông trên thị trường sau ngày 30/6/2017.
 
Bên cạnh đó, dừng nhập khẩu tất cả các sản phẩm thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh KTST kể từ ngày 1/10/2017 và có trách nhiệm giám sát để đảm bảo không còn thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh KTST do đơn vị nhập khẩu trước đó còn lưu thông trên thị trường kể từ ngày 1/1/2018.
 
Nộp báo cáo tình hình nhập khẩu và tiêu thụ lô hàng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh nhập khẩu trước đó và kế hoạch tiêu thụ số lượng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh đăng ký nhập khẩu khi đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh kể từ ngày 10/4/2017./.
 
Theo dangcongsan.vn
Ảnh bìa: 

THỦY SẢN NẮM CƠ HỘI THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

Nhóm thông tin: 
Trung Quốc đang là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn thứ 4 của Việt Nam sau Mỹ, EU và Nhật Bản, cũng là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ 4 thế giới.
 
 

 
Cá tra chế biến của CASEAMEX chú trọng phát triển thị trường Trung Quốc trong năm nay.
Nhiều chuyên gia, doanh nhân Việt Nam và Trung Quốc cho rằng Việt Nam cần nắm cơ hội “Kinh doanh thủy sản thành công cùng thị trường Trung Quốc” tại cuộc hội thảo cùng tên do Hiệp hội Cá tra Việt Nam tổ chức ở Cần Thơ.  
 
Cần lựa chọn đối tác
Một trong 10 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra lớn nhất hiện nay và chỉ xuất sang Trung Quốc là Cty TNHH Vạn Đạt, kim ngạch năm 2016 là 44 triệu USD. Tổng GĐ Lục Đông Thái bày tỏ, sang Trung Quốc có thuận lợi là đi được cả đường bộ và đường biển, tuy nhiên kiểm tra kháng sinh trên đường bộ còn yếu và đây là nỗi lo hiện nay, vì Trung Quốc đang yêu cầu chất lượng cao, truy xuất được nguồn gốc. Bên cạnh, tình trạng phản bội nhau giữa hai bên còn nhiều. Theo ông, xuất khẩu cần có hợp đồng rõ ràng để chia sẻ khó khăn mới bền vững.
 
Ông Võ Đông Đức, Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Cty Cổ phần XNK Thủy sản Cần Thơ (CASEAMEX), cho biết đã bán hàng sang Trung Quốc ba năm nay. Trung Quốc có sức mua rất lớn, sử dụng cá tra nguyên liệu gần giống với Việt Nam từ phi-lê đến phụ phẩm và nguyên con xẻ bướm. Kim ngạch xuất khẩu cá tra của CASEAMEX năm ngoái 30 triệu USD chủ yếu sang Mỹ và EU, năm nay đặt kế hoạch 35 triệu USD, chú ý phát triển thị trường Trung Quốc. Vấn đề lớn nhất của thị trường Trung Quốc là thanh toán, nếu xuất chính ngạch thanh toán ngoại tệ không đáng ngại, còn xuất tiểu ngạch thì thanh toán ngoại tệ không nhiều và dễ bị nợ.
 
Ông Cen Jian, Tổng thư ký Hội thương mại ngành thủy sản Hội công thương toàn quốc - đơn vị tổ chức Triển lãm thủy sản quốc tế Trung Quốc, đề nghị các doanh nghiệp nên xuất khẩu chính ngạch. Bởi vì, xuất khẩu chính ngạch sẽ quan hệ được với doanh nghiệp lớn có uy tín của Trung Quốc; còn xuất khẩu biên mậu (tiểu ngạch) hầu hết qua doanh nghiệp nhỏ, không an toàn, không phát triển được kinh doanh. “Xuất khẩu chính ngạch, làm ăn với doanh nghiệp lớn của Trung Quốc để có chiến lược thị trường, mới phát triển bền vững”, ông Cen Jian kết luận.
 
Đại diện Hiệp hội Thủy sản Sóc Trăng nêu hiện tượng thương lái Trung Quốc sẵn sàng mua tôm bơm tạp chất, cho rằng đó là nhu cầu của Trung Quốc, có đúng không? Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại TP.HCM Wang Zhenbao khẳng định: “Không đúng, đó là luận điệu của người làm ăn bất hợp pháp. Chính phủ Trung Quốc kiên quyết chống thương lái ra nước ngoài hoạt động bất hợp pháp”.
 
"Kim ngạch xuất khẩu cá tra đến ngày 15/2/2017 đạt 164 triệu USD, giảm 9,2% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, thị trường Mỹ, EU, ASEAN giảm; thị trường Trung Quốc - Hồng Kông, Brazil, Mexico tăng và Trung Quốc - Hồng Kong tăng nhiều nhất với 53,3%. Đến thời điểm này, thị trường Trung Quốc - Hồng Kông là lớn nhất, chiếm 16,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cá tra" - Hiệp hội Cá tra Việt Nam.
 
Ông giải thích, chênh lệch thương mại giữa hai nước rất lớn nên Chính phủ Trung Quốc cho hoạt động biên mậu rộng rãi để cân bằng lại. Tuy nhiên, qua đó cũng nảy sinh nhiều nguy cơ, “doanh nghiệp Việt Nam và cả doanh nghiệp Trung Quốc đều gặp lừa dối, bị mất tiền, chúng tôi nhận được khiếu nại của cả hai bên rất nhiều”. Theo ông, để ngăn chặn, các doanh nghiệp cần lựa chọn đối tác có uy tín.  
 
Chủ động nắm cơ hội
Bà Fu Jian Bing, Tổng thư ký hiệp hội thủy sản Yue Xi tỉnh Quảng Đông, cho biết tháng 6/2017, tổ chức Triển lãm Thủy sản Quốc tế Trung Quốc ở thành phố Zhan Jiang. Đây là thành phố ven biển gần EU nhất trên địa lý Trung Quốc, nổi tiếng với danh hiệu “thành phố tôm sú”.
 
Bà nói: “Chúng tôi chân thành mời các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam, các nhà thu mua thủy sản và các doanh nghiệp bán lẻ cùng hội tụ ở Zhan Jiang, tham gia triển lãm thủy sản quốc tế Trung Quốc năm 2017”.
 
Phó chủ tịch Thường trực Hiệp hội Cá tra Việt Nam, ông Võ Hùng Dũng, nhận xét, thương nhân Trung Quốc chủ động sang Việt Nam mời tham gia triển lãm, tìm nguồn hàng cho thấy họ rất cẩn thận, tỉ mỉ. Rõ ràng, doanh nghiệp Trung Quốc cũng muốn mua bán chính ngạch, phát triển thương mại hai nước ổn định. Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động nắm bắt các cơ hội, chủ động làm quen với thị trường Trung Quốc, ngoài việc đã khá quen với thị trường Mỹ, EU.
 
Ông Dũng cho biết, xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc - Hồng Kông những năm gần đây liên tục phát triển mạnh, năm 2011 mới chiếm 3% tổng kim ngạch, đến năm 2016 đã chiếm 17,8%. Xuất khẩu tôm cũng tăng đều liên tục. Đặc điểm của thị trường Trung Quốc là yêu cầu về chất lượng đa dạng từ thấp đến cao, thường là nơi “gỡ khó” cho thủy sản Việt Nam khi thị trường truyền thống giảm sút.
 
Tuy nhiên, theo báo cáo của Cty Wuhan Lanesync, hiện tại sản phẩm cá tra tại thị trường Trung Quốc chưa nổi bật, do thiếu tiêu chuẩn của ngành. Mới chỉ 15% nhà hàng Trung Quốc có món ăn cá tra, nhập khẩu chủ yếu theo đường tiểu ngạch và qua nhiều trung gian nên lợi nhuận thấp. Đặc biệt, thông tin giữa người mua và người bán chưa đối xứng.
 
Nhận định của Hiệp hội Cá tra Việt Nam, bằng cách hợp tác với các doanh nghiệp Trung Quốc có uy tín và tạo dựng thương hiệu cá tra Việt Nam, thì cá tra có thể xuất hiện ở 30% nhà hàng Trung Quốc. Nhu cầu cá tra tại thị trường này sẽ tăng 3 lần trong vòng 2 năm tới so với hiện tại. Cần chú ý, thị trường Trung Quốc đang đòi hỏi tiêu chuẩn cao về an toàn thực phẩm, không còn là thị trường dễ tính.
 
Theo nhóm cố vấn và nghiên cứu lương thực và kinh doanh nông nghiệp ngân hàng Rabobank: “Nếu 20 năm qua, Trung Quốc là nhà máy chế biến thủy sản hàng đầu thế giới, thì trong 20 năm tới, quốc gia này sẽ lột xác thành người tiêu dùng thủy sản khổng lồ”. Đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam nắm lấy.
 
"Chịu ảnh hưởng bởi thay đổi môi trường trong và ngoài nước, ngành thủy sản Trung Quốc đang trong thời kỳ khó khăn về phát triển chuyển đổi mô hình, nhằm tìm ra lối đi tốt hơn, mở ra một con đường phát triển mới cho ngành thủy sản.
 
Hội thương mại ngành thủy sản kết hợp ngành công thương toàn quốc kiên trì tổ chức Triển lãm thủy sản Quốc tế Trung Quốc mang tính chất chuyên nghiệp nhất tại thành phố Zhan Jiang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, xây dựng một môi trường giao lưu, hợp tác, cùng thành công cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước." - Ông Cen Jian.
 
Theo NNVN
Ảnh bìa: 

TẠM NGỪNG NHẬP KHẨU BỘT BÃ NGÔ TỪ HOA KỲ

Nhóm thông tin: 
Bộ NN-PTNT vừa có quyết định tạm ngừng NK bột bã ngô từ Hoa Kỳ; tạm ngừng nhập khẩu lạc từ Sudan và Hồng Kông (Trung Quốc). Quyết định tạm ngừng này có hiệu lực sau 60 ngày (tính từ ngày 17/10/2016).
 
 

 
Nguyên nhân khiến bột bã ngô (Distiller’s dried grains with soluble - DDGS) từ Hoa Kỳ bị tạm ngừng NK do bị nhiễm mọt Trogoderma variabile Ballion, đây là đối tượng kiểm dịch thực vật (KDTV) của Việt Nam.
 
 
 
Việc tạm ngừng NK lạc từ Sudan và Hồng Kông do bị nhiễm mọt cứng đốt Trogoderma granarium Everts và mọt lạc serratus Caryedon serratus Olivier, đây cũng là đối tượng phải KDTV của Việt Nam.
 
 
 
Bộ NN-PTNT giao Cục BVTV kiểm dịch chặt chẽ các lô bột bã ngô NK từ Hoa Kỳ; các lô lạc NK từ Sudan, Hồng Kông trong thời gian quyết định tạm ngừng chưa có hiệu lực.
 
 
 
Đồng thời, thông báo chính thức cho cơ quan có thẩm quyền về KDTV của Hoa Kỳ, Sudan, Hồng Kông biết để có biện pháp khắc phục triệt để. Bên cạnh đó, tổ chức kiểm tra, xác nhận biện pháp khắc phục của Hoa Kỳ, Sudan, Hồng Kông và báo cáo Bộ trưởng Bộ NN-PTNT.
 
 
 
Nguồn NongNghiep.vn
Ảnh bìa: 

XUẤT KHẨU RAU QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT 2,5 TỶ USD

Nhóm thông tin: 
 
Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, năm 2015 rau quả của VN đã có mặt tại hơn 60 nước và vùng lãnh thổ, đạt kim ngạch XK 1,85 tỷ USD, tăng 123% so với năm 2014 và tăng 782,13% so với năm 2005. Đây cũng là năm XK rau quả có kim ngạch cao nhất từ trước đến nay.
 
XK rau quả tháng 7/2016 ước đạt 229 triệu USD. Lũy kế 7 tháng, XK rau quả ước đạt 1,385 tỷ USD, tăng 40,5% so với cùng kỳ năm 2015 (1,022 triệu USD). Kim ngạch XK rau quả 7 tháng qua tăng mạnh, do các thị trường chủ lực đều đạt mức tăng trưởng cao như: Trung Quốc tăng 233% so với cùng kỳ, đạt 940,9 triệu USD, chiếm 69,5% trong tổng kim ngạch XK rau quả của cả nước; thị trường Hàn Quốc tăng 26,75%, đạt 53,1 triệu USD, chiếm 4%; thị trường Hoa Kỳ tăng 60% đạt 49,5 triệu USD, chiếm 3,7%.
 
XU rau quả tăng trưởng là do nhiều thị trường có yêu cầu cao về tiêu chuẩn sản phẩm đã, đang và sẽ tiếp tục mở rộng cửa cho trái cây Việt Nam. Cụ thể, thanh long, chôm chôm, nhãn, vải thiều đã được phép XK sang thị trường Mỹ (5 tháng đầu năm XK khoảng 2.000 tấn, tăng 200% so với cùng kỳ 2015). Ngày 4/8/2016, Bộ Nông nghiệp mỹ đăng công báo Liên bang đề xuất ý iến công chúng, đóng góp và bổ sung, sửa đổi các quy định để cho phép xoài tươi Việt Nam được nhập khẩu vào Hoa Kỳ, động thái này ví như tấm giấy thông hành, là bước đệm quan trọng để xoài tươi thâm nhập vào thị trường đầy tiềm năng này.
 
Trái vải của Việt Nam cũng đã thâm nhập vào thị trường Úc, dự kiến cuối năm 2016, Úc sẽ hoàn tất thủ tục cho phép NK thêm thanh long. Bên cạnh đó, nhiều loại trái cây của Việt Nam cũng đã thâm nhập được vào Đài Loan, Hàn Quốc, New Zealand…
 
Các doanh nghiệp ở ĐBSCL cho biết, nhu cầu rau quả nhiệt đới trên thế giới lúc nào cũng lớn và là cơ hội để rau quả Việt Nam tiếp cận được nhiều thị trường mới. Trong 10 năm qua, các DN đã mở thêm 24 thị trường, có được kết quả trên là nhờ nông dân tích cực mở rộng nhiều diện tích rau quả đạt chuẩn VietGAP.
 
Cục trưởng Cục BVTV khẳng định, kiểm soát tồn dư thuốc BVTV sẽ giúp giữ thị trường trong nước và XK. Thời gian qua, đã có rất nhiều sản phẩm rau quả sau khi kiểm soát tốt dư lượng thuốc BVTV đã tìm được thị trường XK có giá trị gia tăng cao, ổn định. Như voài Cát Chu, nhờ được kiểm soát chặt chẽ từ khâu trồng đến thu hoạch, đã được thị trường Nhật Bản đón nhận khá tốt và có ngay các đơn hàng tiếp theo.
 
Nguồnmard.gov.vn
Ảnh bìa: 

TÁI CƠ CẤU TRỒNG TRỌT: 7 MẶT HÀNG NÂNG HẠNG TRÊN 1 TỈ USD

Nhóm thông tin: 
Bộ NN&PTNT hiện đang tiến hành rà soát cơ cấu các loại cây trồng chủ lực. Cùng với đó là xây dựng phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu, lợi thế của các vùng, miền, địa phương và nhu cầu thị trường.
 

Nhiều cánh đồng mẫu lớn được hình thành từ tái cơ cấu trồng trọt. Ảnh: VGP/Đỗ Hương
 
Theo thông tin từ Bộ NN&PTNT, sau 3 năm tiến hành tái cơ cấu ngành trồng trọt, các địa phương đã chuyển đổi được khoảng 390.000 ha gieo trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, trồng ngô, các cây màu và cây làm thức ăn chăn nuôi có hiệu quả cao hơn, rõ nhất là ở ĐBSCL, Đồng bằng sông Hồng (mục tiêu năm 2020 cả nước chuyển đổi 700.000 ha). Đối với các vùng khô hạn, nhiễm mặn, từng bước chuyển trồng lúa sang phát triển các cây chịu hạn, cỏ làm thức ăn chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy.
 
 
 
Đặc biệt, hiệu quả của tái cơ cấu còn nhìn thấy ở nhiều mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa gạo, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị. Từ năm 2013 đến hết vụ Đông Xuân năm 2016 đã có nhiều mô hình cánh đồng lớn liên kết xây dựng ở các địa phương với diện tích khoảng 556.000 ha, trong đó vùng ĐBSCL có diện tích thực hiện liên kết lớn nhất là 450.000 ha; nhiều vùng sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả hàng hoá tập trung quy mô lớn được duy trì, mở rộng.
 
 
 
Hiện nhiều địa phương đang chuyển đổi cơ cấu giống cây, tập trung đối với giống lúa, ngô chất lượng cao. Cơ cấu giống và tỉ lệ sử dụng giống lúa xác nhận đã tăng mạnh, chất lượng gạo được nâng cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tỉ lệ sử dụng giống xác nhận của các tỉnh phía bắc đạt trên 80%, khu vực miền Trung đạt trên 50%, vùng ĐBSCL đạt khoảng 45%; đã hoàn thành thủ tục khảo nghiệm, đánh giá an toàn sinh học và đưa giống ngô biến đổi gene ra sản xuất.
 
 
 
Cùng với đó, các quy trình sản xuất tiên tiến, thân thiện với môi trường được phổ biến nhân rộng. Sản xuất lúa gạo đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, thân thiện với môi trường, tăng cường ứng dụng cơ giới hóa, giảm chi phí và tổn thất.
 
 
 
Bộ NN&PTNT và các địa phương đang tiến hành rà soát lại quy hoạch, đồng thời thực hiện các giải pháp căn cơ để cải tạo vườn cây, phổ biến áp dụng các quy trình sản xuất tốt nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm cho các cây công nghiệp chủ lực.
 
 
 
Tập trung cho 3 nhóm chủ lực
 
 
 
Đối với cà phê, hiện nay, thống nhất tập trung thâm canh vườn cây hiện có và tái canh diện tích cà phê già cỗi. Đến nay đã trồng tái canh và ghép cải tạo được gần 62.000 ha, dự kiến hết năm 2016 đạt 79.000 ha (đạt tỉ lệ khoảng 66% so với mục tiêu tái canh 120.000 ha vào năm 2020). Đã ban hành quy trình tái canh cà phê; phổ biến áp dụng các quy trình sản xuất tốt có xác nhận. Diện tích cà phê tái canh 3 năm đạt 2-2,5 tấn cà phê nhân/ha, cao hơn năng suất đại trà. Hiện có khoảng 40% sản lượng cà phê có xác nhận, giá trị cao.
 
 
 
Đối với cây điều, các địa phương đang chỉ đạo tăng mạnh diện tích tái canh, ghép cải tạo vườn điều đã được quy hoạch. Đã sản xuất được trên 3 triệu chồi ghép phục vụ công tác ghép cải tạo vườn điều. Đến nay, diện tích tái canh, ghép cải tạo được trên 35.000 ha (chiếm khoảng gần 60% mục tiêu đến năm 2020). Phần lớn diện tích điều sau khi trồng tái canh và ghép cải tạo đã được đầu tư áp dụng kỹ thuật thâm canh tiên tiến, năng suất đạt trên 3 tấn/ha, gấp 3 lần so với vườn điều cũ. 
 
 
 
Được xác định là ngành có lợi thế cạnh tranh, các cây ăn quả, rau, hoa hiện có thị trường thuận lợi, còn có thể phát triển nhiều hơn nữa. Hiện nay nhiều địa phương đã quy hoạch vùng cây ăn quả chủ lực tập trung, vùng rau, hoa công nghệ cao; đồng thời tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất, áp dụng công nghệ cao và sản xuất theo tiêu chuẩn GAP để phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
 
 
 
Trong 3 năm (2013-2015) giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt tăng khá, trung bình tăng 2,6%/năm. Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng trọt năm 2015 ước đạt 83 triệu đồng (tăng khoảng 10,2 triệu đồng so với năm 2012). Năng suất của hầu hết các loại cây trồng chủ lực tăng mạnh, chất lượng một số loại nông sản được cải thiện đáng kể như lúa gạo, thanh long, vải, nhãn, bưởi, chè...
 
 
 
Xuất khẩu các sản phẩm trồng trọt duy trì ở mức 14,5 tỉ USD/năm; 6 tháng đầu năm 2016 ước đạt 7,5 tỉ USD. Hiện có 7 mặt hàng có vị trí xuất khẩu trên 1 tỉ USD/năm gồm: gạo 2,8 tỉ USD, cao su 1,53 tỉ USD, cà phê 2,67 tỉ USD, hạt điều 2,4 tỉ USD, hạt tiêu 1,26 tỉ USD, rau quả 1,84 tỉ USD, sắn và sản phẩm từ sắn 1,3 tỉ USD. Một số mặt hàng có thị trường, giá trị xuất khẩu tăng mạnh như rau quả tăng bình quân 42,8%/năm, hạt tiêu tăng 23%/năm, hạt điều tăng 16,5%/năm.
 
 
 
 Đỗ Hương - Chinhphu.
Ảnh bìa: 

SẢN LƯỢNG CÀ PHÊ GIẢM 7% TRONG NĂM 2016–2017

Nhóm thông tin: 
Sản lượng cà phê Việt Nam được dự kiến có thể giảm 7% trong năm 2016 và 2017 do chịu ảnh hưởng điều kiện thời tiết khắc nghiệt.
 
 
 
Theo thông tin vừa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố, thị trường cà phê trong nước tuần qua đã ổn định so với mức tăng mạnh vào mấy tuần trước đó. Giá cà phê vối nhân xô ở các tỉnh Tây Nguyên giữ mức 37.000 – 38.500 đồng/kg; giá cà phê Robusta giao tại cảng TP.HCM giá FOB tăng 3 USD/tấn lên 1.769 USD/tấn. 
 
Giá cà phê tăng thời gian qua là do nguồn cung cà phê Việt Nam được dự đoán hạn chế trong những tuần tới do nông dân trì hoãn bán ra trong khi người mua chuyển sang cà phê mới được thu hoạch tại Indonesia. Dự đoán xuất khẩu từ Việt Nam, nước sản xuất Robusta lớn nhất thế giới, sẽ giảm trong tháng 8.2016 và vụ thu hoạch niên vụ 2016/2017 ít hơn do thời tiết khô hạn.
 
Đặc biệt, có nhiều mối lo ngại về ảnh hưởng của thời tiết khô hạn đối với vụ thu hoạch cà phê tại những vùng chủ yếu ở Tây Nguyên, như: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, và Lâm Đồng. Thời tiết El Nino lần này là mức độ nóng nhất mang tính kỉ lục.
 
Sản lượng cà phê của Việt Nam được dự đoán đạt 26,5 triệu bao trong niên vụ 2016/2017, với các dự đoán dao động từ 22,7 triệu bao đến 30 triệu bao. Tổ chức Cà phê thế giới (ICO) dự báo sản lượng cà phê Việt Nam sẽ đạt 27,5 triệu bao trong niên vụ 2015/2016. Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam giảm do những người mua từ chối mua cà phê đang ở mức giá quá cao, nguồn cung nội địa khan hiếm trong khi giá thế giới giảm. Nông dân Việt Nam sẽ thu hoạch vụ cà phê sắp tới bắt đầu vào cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12.
 
Giá cà phê Việt Nam theo đó cũng tăng mạnh do nguồn cung nội địa gần như cạn kiệt vào cuối vụ và hạn hán tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ. Giá cà phê đã chạm mức cao nhất vào hồi đầu tháng 7 vừa qua, mức tăng này được xem là mạnh nhất trong vòng 1 năm, trong khi đó sản lượng cà phê Việt Nam niên vụ 2016/2017 được dự đoán giảm 20 – 25% so với niên vụ trước.
 
Nguồn 24h.com.vn
 
Ảnh bìa: 

TỎI LÝ SƠN BỊ LÀM NHÁI, NGƯỜI MUA LẠC VÀO MA TRẬN

Nhóm thông tin: 
Tình trạng nhái thương hiệu tỏi Lý Sơn không chỉ xuất hiện ở đất liền mà còn ngay trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) khiến người mua như lạc vào ma trận.
Theo khảo sát của phóng viên Báo Người Lao Động, hiện trên đảo Lý Sơn có hàng trăm địa điểm bán tỏi Lý Sơn nhưng rất nhiều nơi có giá chênh lệch khác nhau. Anh Nguyễn Văn Quang, một khách du lịch đến từ Đà Nẵng, cho biết ngày 23.8, anh đến Lý Sơn du lịch và mua ít tỏi nơi đây về làm quà.
 

Tỏi Lý Sơn đang bị ảnh hưởng vì nạn nhái thương hiệu.
“Khi chuẩn bị lên tàu, tôi ghé lại một vài địa điểm hỏi mua vài ký tỏi nhưng mỗi nơi nói một giá. Người thứ nhất ra giá 170.000 đồng/kg, người thứ hai nói 90.000 đồng/kg, một người khác lại bảo 120.000 đồng/kg và đều khẳng định tỏi Lý Sơn chính hiệu. Tôi thắc mắc tại sao cũng tỏi Lý Sơn nhưng lại có giá chênh lệch nhiều như vậy thì người bán không giải thích được và nói nếu khách mua được bên nào thì mua” - anh Quang kể.
 
Bà Nguyễn Thị Thanh, một người chuyên kinh doanh tỏi Lý Sơn, cho biết sở dĩ có sự chênh lệch là do bị nhái thương hiệu bởi các loại tỏi trồng ở nơi khác như tỏi Ninh Hiển (Khánh Hòa) tràn về đây và bày bán như tỏi Lý Sơn. Về hình thức, tỏi Ninh Hiển và Lý Sơn cơ bản giống nhau, rất khó phân biệt.
 
Ngay cả rất nhiều người dân Lý Sơn cũng chưa chắc nhận ra được huống chi du khách. “Giá tỏi Lý Sơn hiện khoảng 160.000-170.000 đồng/kg (giá bán tại Lý Sơn), trong khi tỏi Ninh Hiển chỉ 50.000-60.000 đồng/kg. Bởi vậy mới có tình trạng giả thương hiệu tỏi Lý Sơn” - bà Thanh nói.
 
Theo ông Nguyễn Văn Định, Phó Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh và Chế biến hành tỏi Lý Sơn, tỏi giả thương hiệu Lý Sơn tràn lan hiện nay trên thị trường khiến hiệp hội rất đau đầu. Không chỉ ở đất liền, ngay tại Lý Sơn cũng có tình trạng thật giả lẫn lộn, từ tỏi trắng bình thường cho đến tỏi đen (loại tỏi đã qua chế biến, có giá trị kinh tế cao hơn tỏi trắng - PV) hoặc tỏi một (tỏi cô đơn) cũng bị làm giả.
 
“Vì rất khó phân biệt tỏi Lý Sơn với tỏi nhái thương hiệu nên chúng tôi cũng chưa có cách nào hướng dẫn người tiêu dùng tránh mua phải tỏi kém chất lượng. Theo tôi, người tiêu dùng nên đến các siêu thị hoặc những điểm bán lẻ tỏi Lý Sơn đã có uy tín hoặc có tem chống hàng giả của hiệp hội hành tỏi để mua, như thế có thể yên tâm hơn” - ông Định khuyên.
 
Bà Phạm Thị Hương, Phó Chủ tịch UBND huyện đảo Lý Sơn, cho biết mỗi năm, tỏi Lý Sơn chỉ được sản xuất một vụ nên không có chuyện quá nhiều ngoài thị trường như hiện nay. “Để giảm tình trạng nhái thương hiệu tỏi Lý Sơn, ngoài việc tuyên truyền, chúng tôi còn hỗ trợ cho các phương tiện tàu thuyền chở hàng hóa từ đất liền ra Lý Sơn mỗi năm 6 triệu đồng, yêu cầu không được chở tỏi từ các nơi khác về đảo, nếu vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm, kể cả tàu cá. Bởi vậy, tình trạng tỏi nơi khác ồ ạt tràn về Lý Sơn giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên, biện pháp trên chỉ áp dụng ở Lý Sơn, còn ở đất liền thì chúng tôi không dám chắc bởi ngoài tầm quản lý của huyện” - bà Hương thông tin.
 
Theo Tử Trực (Người Lao Động)
Ảnh bìa: 

NIÊN VỤ VẢI THIỀU 2016: TĂNG GẦN 500 TỈ NHỜ CHUỖI GIÁ TRỊ

Nhóm thông tin: 
Mặc dù giảm diện tích và sản lượng nhưng niên vụ vải thiều 2016 của tỉnh Bắc Giang vẫn đem về khoảng 5 nghìn tỉ đồng, cao hơn cùng kỳ năm ngoái gần 500 tỉ đồng”. Đó là thông tin được công bố tại hội nghị tổng kết công tác sản xuất và tiêu thụ vải thiều năm 2016 diễn ra sáng 18.8 tại tỉnh Bắc Giang.
Niên vụ 2016, tổng sản lượng vải thiều của tỉnh Bắc Giang đạt 142 nghìn 315 tấn, doanh thu từ vải thiều và các hoạt động phụ trợ đạt khoảng 5 nghìn tỉ đồng. Với giá vải bình quân tiêu thụ nội địa đạt 21 nghìn đồng/kg và giá xuất khẩu trung bình 28 nghìn đồng/kg, người trồng vải thiều ở Bắc Giang có lãi, doanh thu lớn. Ông Giáp Văn Thành - nông dân thôn Kép 1, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang chia sẻ: “Giá vải cao bà con rất phấn khởi vì thu lợi nhuận cao.
 

Cũng rất mong các cơ quan chuyên môn và nhà khoa học đưa thêm những giống vải chín sớm chất lượng về cho nông dân, bởi vì hiện nay vải thiều chín và tiêu thụ trong vòng 1 tháng. Trong khi đó nông dân muốn trồng rải vụ thì cần có các giống chín sớm và chín muộn để kéo dài thời vụ để tăng thêm thu nhập”.
 
Thành công của niên vụ vải thiều năm 2016 còn có sự chung tay của các doanh nghiệp trong nước và xuất khẩu. Ông Nguyễn Trí Ngọc - Chuyên gia cố vấn Cty CP tiến bộ quốc tế, Tập đoàn AIC – chuyên xuất khẩu và đầu tư nông nghiệp công nghệ cao cho biết: Nhờ chất lượng đã được khẳng định theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp Tốt -VietGap, Global Gap đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp thâm nhập thêm các thị trường mới, thông qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và giúp nông dân tiêu thụ nông sản.
 
Theo ông Bùi Huy Sơn - Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, thành công niên vụ vải 2016 của tỉnh Bắc Giang có sự chủ động cao trong xúc tiến thương mại của địa phương. Hướng tới niên vụ vải 2017 ông Bùi Huy Sơn cho rằng, bên cạnh việc gắn kết hơn nữa việc liên kết trong tiêu thụ nông sản nói chung và vải thiều nói riêng, Bắc Giang cần chú trọng cân đối trong khai thác thị trường trong nước và nước ngoài. Trong đó, không chỉ xúc tiến thương mại trong nước mà còn tổ chức các hội nghị quảng bá sản phẩm ngay tại những thị trường xuất khẩu mới mở, đòi hỏi chất lượng cao như: Mỹ, Nhật Bản, Úc…
 
Theo Minh Long (Lao Động)
Ảnh bìa: